Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất hai chế phẩm trừ sâu sinh học ometar và biovip - Pdf 13

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN LÚA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
DỰ ÁN SẢN XUẤT THỬ NGHIỆM ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC

BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ DỰ ÁN

Tên dự án:
“HOÀN THIỆN QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ
SẢN XUẤT HAI CHẾ PHẨM TRỪ SÂU
SINH HỌC OMETAR VÀ BIOVIP”
Mã số dự án: DAĐL- 2006/01
CƠ QUAN CHỦ TRÌ DỰ ÁN: VIỆN LÚA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
CHỦ NHIỆM DỰ ÁN: TS. NGUYỄN THỊ LỘC

8601
Cần Thơ-2010

i
MỤC LỤC
Trang
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH SÁCH BẢNG vi

2.1. Sơ đồ quy trình công nghệ (là xuất xứ của Dự án) để triển khai Dự án16
2.2. Phân tích những vấn đề mà đự án cần giải quyết về công nghệ 19
2.3. Nội dung và các bước công việc mà dự án cần thực hiện 20
2.4. Tóm tắt quá trình t
ổ chức sản xuất thử nghiệm 22
2.4.1. Năng lực triển khai thực nghiệm và hoàn thiện công nghệ của Dự án22
2.4.2. Địa bàn triển khai Dự án 23
2.4.3.Trang thiết bị 23
2.4.4. Nguyên vật liệu 24
2.4.5. Nhân lực cần cho triển khai Dự án 24
2.4.6. Nhu cầu đào tạo phục vụ Dự án 25
2.4.7. Môi trường sinh thái 25
CHƯƠNG III:CÁC K
ẾT QUẢ VỀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐÃ ĐẠT
ĐƯỢC 26
3.1. Nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất hai chế phẩm trừ
sâu sinh học Ometar và Biovip 26
3.1.1. Kết quả nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất chế
phẩm trừ sâu sinh học Ometar 26
3.1.2. Kết quả nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất chế
phẩm trừ sâu sinh học Biovip 37
3.1.3. Khảo nghiệm diện hẹp về hiệu lực của 2 chế phẩm sinh học Ometar
và Biovip đối với một số sâu, rầy hại lúa để đánh giá chất lượng và sự ổn định
của 2 chế phẩm trước khi mở rộng sản xuất 45
3.2. Sản xuất hai chế phẩm Ometar và Biovip ở quy mô lớn (42 tấn), phục
vụ công tác bảo vệ thực vật tại Đồng b
ằng sông Cửu Long. 47
3.2.1.Tập huấn hướng dẫn kỹ thuật sản xuất chế phẩm Ometar/Biovip 47

iii


iv
6.1.2. Sản xuất hai chế phẩm Ometar và Biovip ở quy mô và khối lượng lớn,
phục vụ công tác bảo vệ thực vật tại Đồng bằng sông Cửu Long 63
6.1.3. Xây dựng được 200 ha mô hình sử dụng có hiệu quả hai chế phẩm trừ
sâu sinh học Ometar và Biovip tại ĐBSCL 63
6.1.4. Hiệu quả của dự án 64
6.1.5. Dự án đã liên kết 65
6.1.6. Về mặt tài chính 65
6.2. Đề nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Phụ lục

v
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
1. B.b: Beauveria bassiana
2. BVTV: Bảo vệ thực vật
3. ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long
4. KHCN: Khoa học công nghệ
5. M.a: Metarhizium anisopliae
6.
NN & PTNN: Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
7. NSP: Ngày sau phun
8. PDA: Potato-Dextrose-Agar
9. SXTN: Sản xuất thử nghiệm
10. TP: Thành Phố
11. XDCB: xây dựng cơ bản

vi
DANH SÁCH BẢNG

pha trứng và nhộng của một số loài côn trùng và đặc biệ
t quan trọng là chúng
còn xâm nhập mạnh vào những côn trùng chích hút mà những côn trùng này
không bao giờ bị nhiễm bệnh vi khuẩn và virus.
Bộ môn Phòng Trừ Sinh Học, Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long đã
thực hiện đề tài “Nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng hai chế phẩm sinh học
để quản lý các loài sâu hại lúa”, đề tài đã được báo cáo nghiệm thu tại Hội
nghị của Ban Trồng Trọt và Bảo Vệ Thực Vật, Bộ
Nông Nghiệp & PTNT tổ
chức tại TP Hồ Chí Minh vào ngày 20-21/08/2002, đã được đánh giá xuất sắc
về mặt khoa học và được Bộ Nông Nghiệp & PTNT công nhận “Quy trình
sản xuất hai chế phẩm sinh học B.b (OM
1
-R) và M.a (OM
2
-B) để quản lý các
loài sâu hại lúa của Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long”, là tiến bộ kỹ thuật

2
và cho phép ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp (theo quyết định số
5310 QĐ/BNN-KHCN ngày 29 tháng 11 năm 2002 của Bộ NN & PTNT).
Chế phẩm sinh học B.b (OM
1
-R) được sản xuất từ dòng nấm trắng,
Beauveria bassiana (OM
1
-R) phân lập từ con rầy nâu hại lúa bị bệnh tự nhiên
tại Ô Môn và chế phẩm sinh học M.a (OM
2
-B) được sản xuất từ dòng nấm

ện quy trình công nghệ sản xuất hai chế phẩm
trừ sâu sinh học Ometar và Biovip”. 3
2. Tính cấp thiết của dự án:
Sự phát triển tính kháng của sâu hại đối với thuốc trừ sâu hóa học và
điều đáng quan tâm hơn là ảnh hưởng có hại của thuốc hóa học lên sức khoẻ
của con người và môi trường đã tạo áp lực mạnh cho sự phát triển của tác
nhân sinh học trong phòng trừ tổng hợp côn trùng gây hại. Các vi sinh vật
được sử dụng phổ biến để phòng trừ sâu hạ
i bao gồm virus, vi khuẩn, tuyến
trùng và nấm. Trong đó nấm được quan tâm phát triển và ứng dụng thuộc lớp
Hyphomycetes, ngành phụ nấm bất toàn Deteromycotina. Loài nấm kí sinh
côn trùng phổ biến nhất của lớp Hyphomycetes thường tìm thấy ở côn trùng
hại cây trồng nông nghiệp là: Metarhizium, Beauveria, Hirsutella, Nomuraea
và Paecilomyces. Mỗi loài nấm này được xác định bởi đặc tính bào tử của nó
[7]; [67]; [32]. Trong đó các loài nấm bệnh côn trùng phổ biến như:
Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae, Metarhizium flavoviride,
Hirsutella citriformis, Nomuraea rileyi [50]. Đặc biệt là nấ
m xanh,
Metarhizium anisopliae và nấm trắng, Beauveria bassiana đã được nghiên
cứu và ứng dụng rộng rãi trên thế giới.
Cho đến nay ở VN đã có 13 loại chế phẩm trừ sâu sinh học được sản
xuất từ nấm trắng, Beauveria bassiana (như: Beauveria, Biobauve 5 DP,
Biovip, Cộng hợp Vi sinh 32 BTN, Muskardin) và nấm xanh, Metarhizium
anisopliae (Bemetent, Metament, Vimetarzimm 95 DP, Ometar, Dimez,
Metavina 10 DP, Metavina 80 LS, Metavina 90 DP) đã đăng ký vào danh mục
thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam năm 2009, trong đó có hai loại
chế ph

1
-
R)) có hiệu quả cao trong việc phòng trừ rầy nâu và bọ xít hại lúa; Ometar
còn có hiệu quả rất cao khi dùng để trừ bọ cánh cứng hại dừa. Cả hai chế
phẩm trừ sâu sinh học này không ảnh hưởng tới thiên địch của sâu hại, lại có
khả năng lây lan nên có tác dụng bền lâu trong quản lý sâu hại cây trồng.
Với công nghệ sẵn có, hai quy trình sản xuất chế phẩm trừ sâu sinh học
Ometar và Biovip tuy có nhiều ưu đi
ểm, song vẫn còn nhiều mặt hạn chế cần
được khắc phục để quy trình được hoàn thiện hơn. Do đó để thiết thực phục
vụ nhu cầu sản xuất hiện nay về phòng trừ dịch hại cây trồng theo hướng sinh
thái bền vững, thì việc hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất hai chế phẩm
trừ sâu sinh học Ometar và Biovip với số lượng lớn, có chất lượng ổn định
để

5
phòng trừ rầy nâu, bọ xít hại lúa và bọ cánh cứng hại dừa tại Đồng Bằng Sông
Cửu Long là rất cấp thiết.
3. Mục tiêu chính của Dự án:
- Hoàn thiện quy trình công nghệ, sản xuất thành công hai chế phẩm
sinh học Ometar và Biovip với số lượng lớn (42 tấn), có chất lượng cao và ổn
định (đạt 1,5-2 x 10
9
bào tử/gram chế phẩm) để phòng trừ rầy nâu hại lúa và
bọ cánh cứng hại dừa.
- Xây dựng được 200 ha mô hình sử dụng hai chế phẩm trên có hiệu
quả tại ĐBSCL.
- Liên kết với các địa phương để tăng cường sử dụng và thương mại
hóa các sản phẩm này nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho sản xuất và bảo vệ
môi trường sinh thái tại Đồng Bằng Sông Cửu Long.

khác nhau [25]. Ignoffo và ctv. (1979) [33] đã thử nghiệm thuốc trừ sâu
Boverin (sản xuất từ nấm trắng) trên sâu tơ và cho thấy LC
50
đối với ấu trùng

7
sâu tơ ba ngày tuổi là 2,7 x 10
8
bào tử/ml tương đương với 1,5 x 10
6
bào
tử/cm
2
bề mặt lá. Vanderberg đã tiến hành thí nghiệm trong phòng và cho
thấy rằng tất cả các giai đoạn ấu trùng sâu tơ đều bị mẫn cảm đối với nấm
trắng nhưng ấu trùng bị chết nhanh hơn khi ở nhiệt độ trung bình và bào tử
nấm trắng cao. Vanderberg và ctv. cũng đã thử nghiệm ngoài đồng bằng cách
sử dụng sản phẩm Mycotrol (sản xuất từ B. bassiana) phun định kỳ m
ột
tuần/lần hoặc hai tuần/lần đã làm giảm mật số và sự gây hại của sâu tơ một
cách có ý nghĩa so với dùng thuốc hóa học trên cây giống [26]. Aguda và ctv.
(1984a) [3] đã dùng nấm B. bassiana để phòng trừ rầy nâu, Nilaparvata
lugens, rầy lưng trắng, Sogatella furcifera và rầy xanh đuôi đen, Nephotettix
spp. hại lúa. Nấm trắng đã được ứng dụng để phòng trừ rầy nâu, bọ xít đen,
Scotinophora coarctata ở
ngoài đồng tại Hàn Quốc, Philippin [2], [4], [64],
[65]. Nấm trắng phổ biến trong quần thể bọ xít hôi, Leptocorisa oratorius ở
Philippin [63]. Nấm trắng còn được sử dụng để phòng trừ sâu róm thông,
Dendrolimus spp. ở Trung Quốc với hiệu lực đạt 43 – 93% [53]. Nấm trắng
có khả năng phòng trừ sâu đục thân bắp ở Châu Âu khi được phun trên tán lá

ững chế phẩm sản xuất từ loài nấm này
lại được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên thế giới để phòng trừ sâu đục
thân ở Tasmania, chống loài mối, Nasutitermes exitiousus (Hill) ở Đức, các
loài mối thuộc Coptotermes ở Úc [76]. Từ những năm 80 của thế kỷ 20, trên
thế giới, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và ứng dụng các chế phẩm sinh
học từ vi nấm M. anisopliae mang tên th
ương mại Metaquino để phòng trừ
muỗi sốt rét Lubilosa, phòng trừ châu chấu, Schistocerra gregaria.
Ấu trùng bọ cánh cứng hại dừa, Oryctes rhinoceros bị nhiễm tự nhiên
bởi nấm xanh và nấm này được xem là một nhân tố gây chết tự nhiên quan
trọng của bọ dừa [17]. Nhiều nghiên cứu đã áp dụng bào tử nấm xanh phòng
trừ bọ cánh cứng và sử dụng nấm này trong chương trình IPM cùng với
baculovirus [82]. Nấm xanh có tên thương mạ
i là Bio – Path
®
được sử dụng
để phòng trừ mối tại Mỹ [34]. Ở Brazil, tỉ lệ mối chết cao (gần 100%) khi
quan sát 19 của 20 tổ mối được xử lý với nấm xanh và tổ còn lại có tỉ lệ chết
là 70% [5]. Ở Úc, bào tử nấm xanh được phun trên các gò và tổ mối đã cho tỉ
lệ chết đáng kể nhưng khi xử lý gián tiếp bằng cách đặt bã mồi thì không
thành công [43], [44]. Sản phẩm thương mại c
ủa nấm xanh là BioGreen
®
gần

9
đây được khuyến cáo sử dụng trừ bọ hung đầu đỏ, Adoryphorus couloni ở Úc
[69].
Viện Bảo Vệ Thực vật đã nghiên cứu và sử dụng nấm M. anisopliae để
phòng trừ một số loài sâu hại nông nghiệp [55], [56]. Nấm xanh, M.

1.3.1. Độc tố của nấm trắng
Nấm trắng tạo ra hỗn hợp độc tố bao gồm beauvericin, bassianolide và
cosporein. Trong đó độc tố chính gây hại cho côn trùng đã được chú ý nghiên
cứu nhiều nhất là beauvericin. Cấu trúc của beauvericin là một
hexadepsipeptide đã được phân lập từ các loài nấm ký sinh côn trùng như
Beauveria spp., Paecilomyces spp. và nấm gây bệnh cây trồng như Fusarium
spp. và Polyporus fumosoroseus [28], [45]. Beauvericin có cấu trúc và chức
năng tương tự những chất kháng sinh gây hại màng tế bào enniatin A, B và C
và có sự khác biệt của những hợp chất này so với N-methylamino acids [72].
Beauvericin bao gồm một chuỗi lặp lại của ba phân tử N-methylphenylalanine
liên kết với ba phân tử 2-Hydroxyisovaleric acid. Beauvericin tạo phức hợp
với ion Na
+
và K
+
dẫn đến làm tăng tính thấm của màng tế bào tự nhiên và
nhân tạo [52]. Beauvericin còn là kháng sinh chống lại một số vi khuẩn như
Bacillus subtilis, Escherichia coli, Mycobacterium phlei,… [52]. Hơn nữa,
beauvericin còn có tính chất trừ sâu trung bình [75], [29]. LD
50
của nấm trắng
đối với ấu trùng sâu cuốn lá tuổi ba là 7,4 x 10
3
bào tử/ml ở một tuần sau khi
chủng [1]. Theo Phạm Văn Biên và ctv., (2000), nấm trắng thuộc nhóm độc
IV, rất ít độc với người, gia súc và môi trường. LD
50
qua miệng >18 x 10
8
bào

sâu bộ cánh vảy như ấu trùng tằm, sâu xanh da láng, Spodoptera exigua, sâu
xanh, Heliothis armigera là 48 giờ và 10
5
bào tử/ml [76].
Destruxin cũng gây độc cho động vật nhỏ có vú. LD
50
của Destruxin A
và B sau khi tiêm vào bụng chuột là 1 - 1,35 mg/kg tương ứng với 13,2 – 16,9
mg/kg trong 1 giờ (Kodaira, 1961). Trái lại, Destruxin ít độc đối với cá và
động vật lưỡng cư, không làm chết, gây quái thai hay trì hoãn sự xuất hiện
phôi cá Brachydaniorerio H. B [21].
1.4. Cơ chế tác động của nấm trắng và nấm xanh đối với côn trùng gây hại
1.4.1. Phương thức xâm nhập của nấm vào cơ thể côn trùng
Nấm là một trong những tác nhân gây bệnh côn trùng bằng cách nhiễm
vào ký chủ chủ yếu xuyên qua biể
u bì bên ngoài. Bào tử của nấm dính chặt
vào da côn trùng và tấn công vào da theo cơ chế bám dính không chuyên biệt
thông qua tính kỵ nước của vách tế bào của bào tử [10], [11]. Khi tiếp xúc với
da côn trùng và với điều kiện thích hợp bào tử sẽ mọc mầm có thể tạo ra các
cấu trúc xâm nhiễm (như tạo ra ống mầm, túi ngoại bào hoặc túi áp suất) từ
đó xâm nhiễm vào bên trong cơ thể côn trùng qua lớp chitin.
Sự xâm nhập của nấm vào trong biểu bì thườ
ng là do sự phối hợp của
enzyme và cơ chế cơ học. Nấm xanh và nấm trắng tiết ra các loại men làm
mềm lớp vỏ chitin và tạo thành một lỗ thủng tại nơi bào tử mọc mầm, qua lỗ
thủng đó mầm của bào tử nấm xâm nhập vào bên trong cơ thể côn trùng. Các

12
enzyme đó là exoproteases, endoproteases, esterases, lipases, chitinases và
chitobiases [9], [13], [71].

bền của nấm trên tán cây và ít ảnh hưởng hơn trên những cơ chất khác [27].
Fargues và ctv. (1996) thấy rằng nấm trắng và n
ấm xanh bị mẫn cảm cao đối
với ánh sáng đặc biệt là thành phần tia cực tím của quang phổ (285 - 315 nm)
[24].
Walstad và ctv. (1970) đã có những nghiên cứu về ảnh hưởng của điều
kiện môi trường lên hai loài nấm trắng, Beauveria bassiana và nấm xanh,
Metarhizium anisopliae. Các loài nấm này đòi hỏi 92,5% ẩm độ tương đối và
15 - 35
0
C nhiệt độ cho sự nảy mầm của bào tử, sự phát triển của sợi nấm và
sự hình thành bào tử. Điều kiện tối hảo cho sự nảy mầm của bào tử, sự phát
triển sợi nấm và hình thành bào tử ở 100% ẩm độ và 25 - 30
0
C [81]. Theo
Vestergaard và ctv. (1995), nhiệt độ tối hảo cho nấm bất toàn là 20 - 25
0
C,
nhưng sự xâm nhiễm và gây bệnh từ 15-30
0
C, lớn hơn 30
0
C sự phát triển của
nấm bị giới hạn và ngừng phát triển ở 37
0
C. Sợi nấm trắng và nấm xanh có
thời gian chết ít hơn 15 phút ở 40
0
C, bào tử nghỉ của nấm có thể chịu được 80
0

C.
Ảnh hưởng của sinh vật đối kháng trong đất lên sự lưu tồn của nấm
trắng: ước tính có khoảng 464 loài nấm và sợi men được tìm thấy trong đất
[35]. Shields và ctv. (1981) [70] đã xác định dung dịch có chứa Penicillium
uriticae ức chế sự nảy mầm của bào tử và sự phát triển của sợi nấm trắng.
1.5. Các chế phẩm sinh học từ nấm xanh, Metarhizium anisopliae và nấm
trắng, Beauveria bassiana
1.5.1. Các chế ph
ẩm sinh học từ nấm xanh, Metarhizium anisopliae và
nấm trắng, Beauveria bassiana trên thế giới
Nhiều nước thế giới như Úc, Ý, Brazil, Mỹ, Mêxicô, Pháp, Tây Ban
Nha, Đức, Ấn Độ, Peru, Colombia, Venezuela, đã sản xuất thành công các
chế phẩm sinh học từ nấm xanh, Metarhizium anisopliae như: Bio-Blast [42],
Ago Bio.Metarhizium 50, Biogreen, Bio 1020, Green Muscle, Granmet-P,
Metarhizium Schweizer, Bio-Magic, Meta-Sin, Metaquino, Bio-Path,
Metadieca, Metazam, Metarhisa WP, Biocontrol, Cobican [41]… và nấm
trắng, Beauveria bassiana như Conidia, Ostrinil, CornGuard, Mycotrol GH,
Mycotrol WP, BotaniGard, Naturalis-L, Proecol, Boverin, Boverol, Boverosil
để trừ dịch hại cây trồng [14], Ago Bio. Bassiana 50, Bb Plus, Bb-Power,
Bea-sin, Bio-Fung, Bazam, Bb Moscas, Bovemax, Brocavec [41].

15
1.5.2. Các chế phẩm sinh học từ nấm xanh, Metarhizium anisopliae và
nấm trắng, Beauveria bassiana ở Việt Nam
Cho đến nay ở VN đã có 13 loại chế phẩm trừ sâu sinh học được sản
xuất từ nấm trắng, Beauveria bassiana (như: Beauveria, Biobauve 5 DP,
Biovip, Cộng hợp vi sinh 32 BTN, Muskardin) và nấm xanh, Metarhizium
anisopliae (Bemetent, Metament, Vimetarzimm 95 DP, Ometar, Dimez,
Metavina 10 DP, Metavina 80 LS, Metavina 90 DP) đã đăng ký vào danh mục
thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam (2009).

-R) thuần khiết được
bảo quản ở nhiệt độ thấp (trong tủ lạnh hoặc ở dạng đông khô). Trước khi đưa
Bước 8: Bảo quản chế phẩm
Bước 5: Nghiền chế phẩm
Bước 4: Sấy khô nấm ở 40-41
0
C
Bước 6: Kiểm tra chất lượng chế phẩm
Bước 7: Đóng gói chế phẩm
Bước 3: Nhân sinh khối trên môi trường thứ cấp
(bắp, cám, trấu)
Bước 2: Sản xuất giống cấp 2 trên môi trường sơ cấp
(môi trường lỏng)
Bước 1: chuẩn bị giống cấp 1
M.a (OM
2
-B)/B.b (OM
1
-R)

17
ra sản xuất giống gốc được nuôi cấy trên môi trường thạch nghiêng gồm có
khoai tây + đường dextroza + agar (PDA) ở nhiệt độ đã xác định (22 - 25
0
C)
để cho ra giống cấp 1. Cụ thể:
+ Chuẩn bị môi trường: Môi trường thạch nghiêng (PDA) được chuẩn
bị như sau: 200 gram khoai tây + 1000 ml nước được đun sôi trong thời gian
15 phút, rồi lọc lấy nước. Thêm vào 20 gram đường dextroza và 20 gram agar
vào 1000 ml nước dịch khoai tây này rồi để lên bếp khuấy đều và đun sôi lại

0
C, lắc trong 3 ngày.
18
Bước 3: Nhân sinh khối trên môi trường thứ cấp (17 ngày)
+ Chuẩn bị môi trường thứ cấp: Các thành phần môi trường thứ cấp là
cám, ngô, trấu và nước: 50% cám + 40% ngô và 10% trấu và tỷ lệ nước là
60% (cho nấm xanh); 70% cám + 20% bột ngô và 10% trấu và tỷ lệ nước là
60% của tổng số 3 loại nguyên liệu trên (cho nấm trắng), được trộn đều, cho
vào bọc nilon chịu nhiệt với trọng lượng mỗi túi là 250 g, thanh trùng ở nhiệt
độ 121
0
C trong 30 phút. Môi trường thứ cấp sau khi thanh trùng sẽ được để
nguội và làm tơi xốp để nấm có điều kiện phát triển tốt.
+ Nhân sinh khối nấm: Môi trường thứ cấp sẽ được chủng 10 đến 15 ml
dung dịch bào tử từ giống cấp hai trong điều kiện vô trùng. Các túi môi
trường thứ cấp sau khi đã được cấy giống cấp 2 sẽ được nhân nuôi trong
phòng lạnh có nhiệt độ từ 22 - 25
0
C, đồng thời định kỳ đảo đều môi trường
trong túi nấm 2 ngày một lần để cho nấm sinh trưởng phát triển mạnh.
Khoảng 17 ngày sau khi cấy giống cấp 2 nấm đã phát triển và sinh bào tử
hoàn chỉnh thì có thể đổ các túi nấm này ra khay để sấy.
Bước 4: Sấy nấm (2-3 ngày)
Sinh khối nấm sau khi nhân nuôi trên môi trường thứ cấp 2 tuần sẽ
được đổ ra khay và sấy với nhiệt độ khoảng 40 - 41
0
C cho tới khi còn ẩm độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status