Rào cản phi thuế quan của Mỹ và kinh nghiệm cho Việt Nam - Pdf 13



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG PHAN THỊ MINH LÝ
RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN CỦA MỸ VÀ
KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số: 60.31.07

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Hữu Khải



LỜI NÓI ĐẦU

Thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, Việt Nam
đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN, tham gia AFTA, APEC,
ASEM và đang đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Hiện tại, WTO đang tiếp tục Vòng đàm phán thiên niên kỷ với mục tiêu đẩy
mạnh tự do hoá thương mại trên toàn thế giới. Tuy nhiên, tự do hoá thương
mại là một quá trình lâu dài, gắn chặt với quá trình đàm phán để cắt giảm
thuế quan và hàng rào phi quan thuế. Các nước, đặc biệt là các nước công
nghiệp phát triển, một mặt luôn đi đầu trong việc đòi hỏi phải đàm phán để
mở cửa thị trường và thúc đẩy tự do hoá thương mại, mặt khác lại luôn đưa ra
các biện pháp tinh vi hơn và các rào cản phức tạp hơn nhằm bảo hộ sản
xuất trong nước.
Khi tham gia vào “sân chơi” chung này, các nước đang phát triển trong
đó có Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi cạnh tranh với hàng hóa của
các nước công nghiệp phát triển. Những quy định của WTO sẽ hướng tới việc
tự do hoá thương mại bằng cách giảm dần và tiến tới loại bỏ hẳn các hàng rào
thuế quan trong thương mại giữa các nước. Các quốc gia có xu hướng bảo hộ
sản xuất trong nước bằng các biện pháp phi thuế quan.
Kể từ sau khi Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận và bình thường hóa quan hệ đối
với Việt Nam, quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ liên tục được phát
triển và Hoa Kỳ đã trở thành đối tác quan trọng của Việt nam.Vì vậy, việc
nghiên cứu hàng rào phi thuế quan của Hoa Kỳ - một trong những quốc gia có
hệ thống các quy định phi thuế phức tạp nhất thế giới là việc hết sức cần thiết
cho Việt Nam để tìm ra giải pháp vượt rào cản, đẩy mạnh xuất khẩu và rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng hàng rào phi thuế quan để
bảo hộ sản xuất trong nước.

Nội dung nghiên cứu:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương
như sau:
Chương I. Cơ sở lý luận về hàng rào phi thuế quan trong thương mại
quốc tế
Chương II. Thực tiễn áp dụng các biện pháp phi thuế quan của Hoa Kỳ.
Chương III. Đề xuất các biện pháp phi thuế quan Việt Nam có thể sử
dụng trong thời gian tới. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT


Diễn đàn hợp tác á - Âu
BATF
Bureau of Alcohol,
Tobacco and Firearms
Cơ quan quản lý rượu,
thuốc lá và vũ khí
CDC
Centers for Disease
Control and Prevention
Trung tâm dịch vụ y tế
kiểm soát dịch bệnh
DOT
US Department of
Transportation
Bộ giao thông Hoa Kỳ
DOC
US – Department of
Commerce
Bộ thương mại Hoa Kỳ. GATT
General Agreement on
Tariff and Trade
Hiệp định chung về thuế
quan và mậu dịch
EPA
Environment Protection
Agency
Cơ quan bảo vệ môi

NRC
Nuclear Regulatory
Commission
Cơ quan quản lý hạt
nhân Hoa Kỳ
NIST
National Institude of
Standard and
Technology
Viện tiêu chuẩn kỹ thuật
quốc gia
USDA
United States
Department of
Agriculture
Bộ Nông nghiệp
USITC
United states
International Trade
Uỷ ban thương mại
quốc tế Hoa Kỳ Commission
UNCTAD
United Nations
Conference on Trade
and Development
Hội nghị liên hợp quốc
tế về thương mại và phát

Trade Related
Investment Measures
Các biện pháp đầu tư
liên quan đến thương
mại
WTO
World Trade
Organization
Tổ chức thương mại thế
giới
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng
Nội dung
Trang
Bảng 2.1
Tóm tắt Ngoại thương Hoa Kỳ
28
Bảng 3.1
Dự kiến cơ cấu thị trường năm 2006 và 2010
65
Bảng 3.2
Trị giá xuất nhập khẩu giai đoạn 2001 - 2005
68
Bảng 3.3
Kim ngạch xuất nhập khẩu sau khi thiết lập quan hệ

tác động nhanh, mạnh. Hàng rào phi thuế quan không chỉ có ý nghĩa trong
việc bảo hộ thị trƣờng nội địa, hƣớng dẫn tiêu dùng, điều tiết vĩ mô nền kinh
tế khá có hiệu quả mà còn là công cụ dùng để phân biệt đối xử trong quan hệ
đối ngoại.
Để đẩy mạnh giao lƣu, hợp tác giữa các nƣớc, các khu vực, hội nhập vào
nền kinh tế thế giới, các doanh nghiệp phải vƣợt qua hai rào cản lớn, đó là:
1. Hàng rào thuế quan (Tariff barriers)
Đây là biện pháp mà Tổ chức Thƣơng mại Thế giới cho phép sử dụng
để bảo hộ thị trƣờng trong nƣớc nhƣng phải cam kết ràng buộc với một mức
thuế trần nhất định và có lịch trình cắt giảm, do vậy xu hƣớng ngày càng giảm
đi. Sự tự do hoá biểu hiện thông qua các chính sách về Quy chế tối huệ quốc
- 2 - (MFN), chế độ thuế quan ƣu đãi phổ cập (GSP), Hiệp định thuế quan ƣu đãi có
hiệu lực chung của các khối liên kết kinh tế nhƣ: EU, NAFTA, AFTA,
APEC…
2. Hàng rào phi thuế quan (Non-tariff Barriers)
Do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là do trình độ phát triển kinh tế không
đồng đều, các nƣớc đều duy trì rào cản thƣơng mại nhằm bảo hộ sản xuất nội
địa. Bên cạnh biện pháp bảo hộ bằng thuế quan, rất nhiều hàng rào phi thuế
quan ra đời. Mức độ cần thiết và lý do sâu xa dẫn đến việc bảo hộ sản xuất
nội địa của từng nƣớc cũng khác nhau, đối tƣợng bảo hộ cũng khác nhau
khiến cho các hàng rào phi thuế quan càng trở nên đa dạng.
Trong thập niên 1960, GATT tiến hành công việc liệt kê các hàng rào
phi thuế quan của mọi quốc gia thành viên. Một trong những mục đích của
việc này là chuẩn bị cho vòng đàm phán kế tiếp. Năm 1973, công trình đã
liệt kê đƣợc hơn 800 loại hàng rào. Hội nghị liên hợp quốc về thƣơng mại và
phát triển (UNCTAD) cũng tiến hành một dự án nghiên cứu để liệt kê các
hàng rào phi thuế quan và đến năm 1986 đã ghi nhận đƣợc một số lƣợng còn

ví dụ nếu các hạn ngạch mà không bắt buộc (ít nhất là ở mức nào trên thị
trƣờng phi hạn ngạch có thể xuất hoặc nhập khẩu), khó có thể quy cho chúng
là những “hàng rào”.
Trong thực tế, việc xác định những biện pháp phi thuế quan nào là các
hàng rào phi thuế quan khá khó khăn. Mục đích sử dụng các công cụ, chính
sách là quan trọng, song có những chính sách, biện pháp mà tác dụng của
chúng không thể đƣợc xác định, nếu không có sự điều tra kỹ lƣỡng về kết
quả, bản chất và hoạt động thực sự của chúng.
Bên cạnh các định nghĩa trên, chúng ta đề cập tới định nghĩa về các
biện pháp phi thuế quan và các hàng rào phi thuế quan của WTO: “Biện
pháp phi thuế quan là những biện pháp ngoài thuế quan, liên quan hoặc ảnh
hƣởng đến sự luân chuyển hàng hoá giữa các nƣớc”
- 4 - Theo cách định nghĩa này thì WTO cũng đã dựa trên cơ sở của thuế
quan. Từ đó, WTO xây dựng định nghĩa về hàng rào phi thuế quan nhƣ sau:
“Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở
đối với thƣơng mại mà không dựa trên cơ sở pháp lý, khoa học hoặc bình
đẳng”
Ví dụ nhƣ với một số lƣợng ấn định sẵn, hạn ngạch sẽ không cho hàng
hoá nhập khẩu hoặc xuất khẩu vào hoặc ra khỏi một nƣớc vƣợt quá số lƣợng
đó, mặc dù hàng hoá có sẵn để bán, ngƣời mua đã sẵn sàng để mua.
Mục đích của việc nghiên cứu và phân tích các biện pháp phi thuế quan
là đƣa ra một nghiên cứu mô tả cơ bản của thể chế thƣơng mại hiện hành. Đây
cũng là một cơ sở quan trọng giúp cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt
Nam. Cụ thể hơn, nó liên quan đến những cam kết hiện có nhƣng chƣa đƣợc
thực hiện về tự do hoá thƣơng mại đối với ASEAN, APEC và WTO.
Khi Việt Nam ra nhập WTO, thì chắc chắn việc sử dụng hàng rào phi
thuế quan sẽ cần đƣợc bàn đến và phải cắt giảm tƣơng đối nhiều. Nhƣng mặc

Các NTM trong thực tế rất phong phú về hình thức nên khả năng tác
động và mức độ đáp ứng mục tiêu của chúng cũng rất đa dạng. Do đó, nếu sử
dụng NTM để phục vụ một mục tiêu đề ra thì có thể sử dụng nhiều lựa chọn,
kết hợp hơn mà không bị gò bó chật hẹp trong khuôn khổ một công cụ duy
nhất nhƣ thuế quan. Ví dụ, nhằm hạn chế nhập khẩu một mặt hàng bất kỳ, có
thể đồng thời áp dụng các biện pháp hạn ngạch nhập khẩu, cấp giấy phép
nhập khẩu không tự động, đầu mối nhập khẩu, phụ thu nhập khẩu
1.2. Đáp ứng nhiều mục tiêu: một NTM có thể đồng thời đáp ứng nhiều mục
tiêu với hiệu quả cao
Mỗi quốc gia thƣờng theo đuổi nhiều mục tiêu trong chính sách kinh tế,
thƣơng mại của mình. Các mục tiêu đó có thể là: (i) bảo hộ sản xuất trong
- 6 - nƣớc, khuyến khích phát triển một số ngành nghề; (ii) bảo vệ an toàn sức
khoẻ con ngƣời, động thực vật, bảo vệ môi trƣờng; (iii) hạn chế tiêu dùng;
(iv) đảm bảo cân bằng cán cân thanh toán; (v) đảm bảo an ninh quốc gia, trật
tự xã hội, Các NTM có thể đồng thời phục vụ hiệu quả nhiều mục tiêu khác
nhau trong khi có thể việc sử dụng công cụ thuế quan không khả thi hoặc
không hữu hiệu bằng. Ví dụ: quy định về vệ sinh kiểm dịch đối với nông sản
nhập khẩu vừa đảm bảo an toàn sức khoẻ con ngƣời, động thực vật lại vừa
gián tiếp bảo hộ sản xuất nông nghiệp trong nƣớc một cách hợp pháp. Hay
cấp giấy phép nhập khẩu không tự động đối với dƣợc phẩm vừa giúp bảo vệ
ngành dƣợc nội địa, quản lý chuyên ngành một mặt hàng quan trọng đối với
sức khoẻ con ngƣời, còn có tác dụng phân biệt đối xử với một số nƣớc cung
cấp nhất định
1.3. Nhiều NTM chưa chuẩn bị cam kết ràng buộc cắt giảm hay loại bỏ
Do NTM thƣờng mang tính mập mờ, mức độ ảnh hƣởng không rõ ràng
nhƣ những thay đổi định lƣợng của thuế quan nên tác động của chúng có thể
lớn nhƣng lại là tác động ngầm, có thể che đậy hoặc biện hộ bằng cách này

dụ nhƣ gây ra thiếu hụt trầm trọng nguồn cung cấp phân bón khi sản xuất trong
nƣớc vào thời vụ, đẩy giá tăng vọt (sốt nóng) hoặc trái lại, dẫn đến tình trạng
cung vƣợt cầu quá lớn trên thị trƣờng làm giá sụt giảm (sốt lạnh). Điều này
đồng nghĩa với việc các quyết định sản xuất và kinh doanh sẽ chịu rủi ro cao
hơn
Sử dụng NTM cũng thƣờng làm nhiễu tín hiệu chỉ dẫn các quyết định
của ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng trong nƣớc , tín hiệu chỉ dẫn việc
phân bổ nguồn lực trong nội bộ nền kinh tế (chính là giá thị trƣờng), phản
ánh không trung thực lợi thế cạnh tranh thực sự. Do đó, khả năng xây dựng
kế hoạch đầu tƣ sản xuất kinh doanh hiệu quả trung và dài hạn của ngƣời sản
xuất bị hạn chế.
- 8 - Tác động của các NTM thƣờng khó có thể lƣợng hoá đƣợc rõ ràng nhƣ
tác động của thuế quan. Nếu mức bảo hộ thông qua thuế quan đối với một
sản phẩm có thể dễ dàng đƣợc xác định bằng chính thuế suất đánh lên sản
phẩm đó thì mức độ bảo hộ thông qua NTM là tổng mức bảo hộ của các
NTM riêng rẽ áp dụng cho cùng một sản phẩm. Bản thân mức độ bảo hộ của
mỗi NTM cũng chỉ có thể đƣợc ƣớc lƣợng một cách tƣơng đối. Cũng vì mức
độ bảo hộ của các NTM không dễ xác định nên rất khó xây dựng một lộ trình
tự do hoá thƣơng mại rõ ràng nhƣ với bảo hộ chỉ bằng thuế quan.
2.2. Khó khăn, tốn kém trong quản lý
Vì khó dự đoán nên các NTM thƣờng đòi hỏi chi phí quản lý cao và tiêu tốn
nhân lực của Nhà nƣớc để duy trì hệ thống điều hành, kiểm soát bằng NTM
Một số NTM thuộc thẩm quyền và phạm vi quản lý của nhiều cơ quan
với những mục tiêu khác nhau, đôi khi còn mâu thuẫn nhau, nên có thể gây
khó khăn cho bản thân các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý và các
chủ thể tham gia hoạt động kinh tế trong việc xây dựng, sử dụng, tiếp cận
thông tin cũng nhƣ đánh giá tác động của các NTM này.

tác động trực tiếp đến lƣợng cung, cầu của một quốc gia do vậy nó cũng có
tác động giống thuế là làm cho tín hiệu thị trƣờng trở nên kém trung thực.
Khi cung (S) và cầu (D) cân bằng thì giá sẽ ở trạng thái ổn định. Trong
trƣờng hợp cung lớn hơn cầu (S > D) sẽ dẫn đến những áp lực làm giảm giá.
Ngƣợc lại, trong trƣờng hợp cung nhỏ hơn cầu (S < D) thì sẽ có áp lực làm
tăng giá.
Giả sử sản xuất xe máy của một quốc gia (S) là 500.000 chiếc, lƣợng
cầu (D) là 1.000.000 chiếc; để đảm bảo cân bằng cung cầu quốc gia đó cần
nhập khẩu 500.000 chiếc xe máy nữa, nhƣng để bảo hộ sản xuất, thực hiện
- 10 - chính sách tiết kiệm ngoại tệ, Chính phủ đƣa ra hạn ngạch nhập khẩu (M) là
300.000 chiếc. Khi đó: (S + M) - D = -200.000. Nhƣ vậy nhu cầu còn thiếu là
200.000 chiếc xe máy. Điều này dẫn đến áp lực làm cho giá mặt hàng đó tăng.
Nhƣng đây là sự biến động không mang tính khách quan vì nó chịu sự
chi phối và điều tiết của Chính phủ thông qua rào cản phi thuế quan (hạn
ngạch). Nó sẽ phản ánh mặt không tốt khi một quốc gia đang chuyển đổi
sang cơ chế thị trƣờng.
Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan là hai công cụ bảo hộ sản
xuất quan trọng đối với mọi quốc gia. Do mỗi công cụ đều có điểm mạnh,
điểm yếu đặc thù nên chúng thƣờng đƣợc sử dụng bổ sung lẫn nhau nhằm
bảo hộ sản xuất trong nƣớc. Mặc dù về lý thuyết, WTO và các định chế
thƣơng mại khu vực thƣờng chỉ thừa nhận thuế quan là công cụ bảo hộ hợp
pháp duy nhất nhƣng thực tế đã chứng minh rằng các nƣớc không ngừng sử
dụng các NTM mới, vừa đáp ứng mục đích bảo hộ, vừa không trái với thông
lệ quốc tế.
Mức độ hiệu quả của bảo hộ có tăng lên nhiều hay không còn phụ thuộc
vào tính linh hoạt có chọn lọc, có định hƣớng của Chính phủ các nƣớc trong
việc áp dụng các NTM bổ trợ cho biện pháp thuế quan. Nếu biết kết hợp hài

Trên cơ sở các căn cứ nói trên có thể phân loại các NTM thành ba nhóm
với các thuộc tính sau:
Nhóm 1: Các NTM không phù hợp với những quy định của WTO
Nhóm 2; Các NTM phù hợp với những quy định của WTO, không có
mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nƣớc
Nhóm 3: Các NTM phù hợp với những quy định của WTO, có mục tiêu
bảo vệ sản xuất trong nƣớc.
2.1. Nhóm 1: Những biện pháp phi thuế quan không phù hợp với những
quy định của WTO
- 12 - Các NTM thuộc nhóm này hoặc là vi phạm rõ ràng quy định của WTO
(ví dụ áp dụng giá nhập khẩu tối thiểu để xác định trị giá tính thuế hải quan)
hoặc chỉ phù hợp trong những trƣờng hợp đặc biệt (ví dụ cấm nhập khẩu
hàng hoá có hại cho môi trƣờng). Nhóm này bao gồm tất cả các biện pháp
hạn chế nhập khẩu sau đây:
2.1.1. Các biện pháp quản lý định lượng
 Các trƣờng hợp ngăn cấm (6300)1 bao gồm:
- Cấm hoàn toàn (6310): trừ trƣờng hợp đối với lý do môi trƣờng, sức
khoẻ, thuần phong mỹ tục, an ninh quốc phòng
- Ngừng cấp giấy phép nhập khẩu (6320)
- Cấm theo mùa (6330)
- Cấm tạm thời (6340)
- Cấm trên cơ sở nguồn gốc (Cấm vận) (6360)
- Cấm đối với các hạng mục sản phẩm nhạy cảm (6370)
 Quản lý bằng hạn ngạch (6200): Hạn ngạch là quy định của Nhà
nƣớc về số lƣợng hoặc giá trị một mặt hàng nào đó đƣợc nhập khẩu nói
chung hoặc từ một thị trƣờng nào đó, trong một thời gian nhất định
- Hạn ngạch toàn cầu (6210):

- Các thoả thuận quản lý xuất khẩu tự nguyện (6610)
- Các thoả thuận tiếp thị có trật tự (6620)
- Thoả thuận liên quan đến hiệp định đa sợi MFA (6630)
+ Thoả thuận hạn ngạch (6631)
+ Thoả thuận tƣ vấn (6632)
+ Thoả thuận hợp tác hành chính (6633)
- Thoả thuận hạn chế xuất khẩu hàng dệt may ngoài Hiệp định đa sợi
MFA (6640)
- 14 - 2.1.2. Các biện pháp tương đương thuế quan
Đƣợc định nghĩa nhƣ những biện pháp làm tăng chi phí theo cách tƣơng
tự đối với các biện pháp thuế quan. Bao gồm:
 Phụ phí hải quan (2100): Đây là loại chi phí thu thêm của chủ
hàng phục vụ cho công tác quản lý, làm thủ tục của Hải quan. Phụ phí Hải
quan còn đƣợc hiểu là phí thu thêm hoặc bổ sung thêm, là một phƣơng tiện
chính sách thƣơng mại độc lập để tăng thu nhập tài chính hoặc bảo hộ công
nghiệp trong nƣớc
 Thuế và chi phí bổ sung (2200): Chi phí bổ sung bao gồm các loại
thuế và lệ phí khác nhau đặt ra đối với hàng hoá nhập khẩu cũng giống nhƣ
phụ phí hải quan đƣợc đặt ra nhằm mục đích tăng thêm một phần thu cho
ngân sách chủ yếu phục vụ công tác hành thu. Nhƣng mặt khác còn có ý
nghĩa bảo hộ nhƣ một loại rào cản phi thuế quan khác gồm một số loại cơ
bản sau:
- Thuế đối với các giao dịch chuyển đổi ngoại tệ (2210)
- Thuế gián tem (2220)
- Lệ phí giấy phép nhập khẩu (2230)
- Lệ phí hoá đơn lãnh sự (2240)
- Thuế thống kê (2250)

 Các quy định liên quan đến các điều kiện chi trả đối với nhập khẩu
(4500): Các quy định cụ thể liên quan đến các điều kiện thanh toán của quá
trình nhập khẩu và việc đạt đƣợc và sử dụng tín dụng (nƣớc ngoài và trong
nƣớc) đối với vấn đề nhập khẩu tài chính
 Trì hoãn chuyển giao xếp hàng (4600)
2.1.4. Các biện pháp liên quan đến doanh nghiệp
 Các hạn chế đối với công ty cụ thể (đầu mối xuất nhập khẩu) (6700):
- 16 - - Phê chuẩn chọn lọc các nhà nhập khẩu (6710)
- Hạn ngạch đối với công ty nhập khẩu (6720)
 Các biện pháp độc quyền (7000): Các biện pháp tạo nên một tình
huống độc quyền, bằng cách đƣa ra các quyền riêng biệt cho một hoặc một
nhóm hạn chế các nhà kinh doanh vì những lý do xã hội tài chính hoặc kinh
tế. Bao gồm:
- Kênh nhập khẩu duy nhất (7100): tất cả việc nhập khẩu hoặc việc
nhập khẩu một loại hàng hoá chọn lọc phải thông qua các cơ quan Nhà nƣớc
hoặc các doanh nghiệp do Nhà nƣớc quản lý (Đôi khi khu vực tƣ nhân cũng
ó những quy định nhập khẩu riêng biệt). Bao gồm: quản lý doanh nghiệp
thƣơng mại nhà nƣớc (7110); Cơ quan nhập khẩu duy nhất (7120)
- Các dịch vụ quốc gia bắt buộc (7200): các quyền riêng biệt đƣợc
Chính phủ thừa nhận về bảo hiểm quốc gia và các công ty vận tải biển đối
với toàn bộ hoặc một phần cụ thể của việc nhập khẩu. Bao gồm: Bảo hiểm
quốc gia bắt buộc (7210), Vận tải quốc gia bắt buộc (7220)
2.1.5. Các biện pháp liên quan đến đầu tư (9100)
Do quan điểm, mục đích khác nhau giữa các nƣớc phát triển và đang
phát triển về đầu tƣ nƣớc ngoài, theo đó các quốc gia đang phát triển không
muốn thông qua đầu tƣ nƣớc ngoài lại làm thị trƣờng nƣớc sở tại bị lũng
đoạn. Do vậy, các nƣớc này thƣờng đặt ra một loạt các biện pháp có thể coi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status