Thực trạng thanh toán biên mậu tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - thực trạng và giải pháp - Pdf 13

TRƯờNG ĐạI HọC NGOạI THƯƠNG
Khoa kinh tế THế GiớI Và QUAN Hệ KINH Tế QuốC Tế


LUậN VĂN THạC Sỹ
Đề tài
:
THC TRNG THANH TON BIấN MU TI NGN
HNG NễNG NGHIP V PHT TRIN NễNG THễN
VIT NAM THC TRNG V GII PHP

Giáo viên hớng dẫn :
TS. NGUYN TRUNG VN
Sinh viên thực hiện :
PHM TH HNH
Lớp : Cao học 12

mở rộng mạng lưới hệ thống ngân hàng đại lý, ký kết thoả thuận với các ngân
hàng thương mại nước bạn có chung đường biên giới và đã trở thành ngân
hàng đầu tiên trong cả nước thực hiện dịch vụ TTBM. Ngày nay, TTBM là

2
một dịch vụ ngày càng trở nên quan trọng đối với Ngân hàng thương mại
(dưới đây được viết tắt là NHTM) Việt Nam, là một mắt xích quan trọng thúc
đẩy các hoạt động kinh doanh Biên mậu. TTBM phát triển mang lại lợi ích
cho cả ngân hàng và khách hàng trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
cũng như tăng cường khâu quản lý ngân sách của Nhà nước. Ngoài ra, TTBM
sử dụng đồng tiền của các nước có chung biên giới nên tránh được sự phụ
thuộc vào các ngoại tệ mạnh vẫn thường dùng trong các phương thức thanh
toán quốc tế với mức kim ngạch lớn.
Tuy nhiên, kết quả TTBM tại NHNo&PTNT VN vẫn còn hạn chế chưa
tương xứng với vị thế NHTM hàng đầu trong dịch vụ này. Cụ thể, tỷ lệ
TTBM mới chỉ chiếm khoảng trên 10% (năm 2006 là 14,15%; năm 2007 là
12,35%) trên tổng doanh số thanh toán xuất nhập khẩu của cả hệ thống. Trong
khi đó, nhu cầu TTBM của các doanh nghiệp ngày càng tăng doanh số. Đây
chính là cơ hội để NHNo&PTNT VN tiếp tục mở rộng và phát triển hoạt động
kinh doanh ngoại tệ và thanh toán Biên mậu. Nhận thức được ý nghĩa của vấn
đề này, đề tài “Thanh toán Biên mậu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Việt Nam - thực trạng và giải pháp” là thực sự cấp thiết ở nước ta
hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
Hoạt động TTBM nhìn chung chưa có nhiều công trình nghiên cứu.
Trong khoảng 15 năm trở lại đây, kể từ khi các cửa khẩu quốc tế Việt – Trung
chính thức khai thông trở lại và các cửa khẩu khác được Nhà nước đầu tư mới
đã có một số Luận văn Thạc sỹ nghiên cứu về vấn đề này. Tiêu biểu, năm
2002 có Luận văn “ Một số giải pháp tăng cường hoạt động TTBM tại
NHNo&PTNT VN” của Thạc sỹ Nguyễn Thị Phượng (Học viện Ngân hàng).

6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mac- Lênin làm phương pháp nghiên cứu chủ đạo. Đồng thời, đề
tài còn sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, phương pháp điều tra,
khảo sát và nghiên cứu tình huống cụ thể để giải quyết vấn đề đặt ra. Các
phương pháp nghiên cứu trên được sử dụng độc lập hoặc kết hợp trong quá
trình nghiên cứu.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần
chính của luận văn được kết cấu theo 3 chương:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận chung về TTBM của các Ngân
hàng thƣơng mại
Chƣơng 2: Thực trạng TTBM tại NHNo&PTNT VN
Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp phát triển TTBM tại
NHNo&PTNT VN trong những năm tới
5
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TOÁN
BIÊN MẬU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1 NHỮNG NÉT CHÍNH VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ
1.1.1 Khái niệm thanh toán quốc tế
Trong giao dịch thương mại quốc tế, luôn tồn tại mối quan hệ tỷ lệ
thuận giữa rủi ro và lợi nhuận. Việc bán hàng, thanh toán tiền hàng hoặc cung
cấp dịch vụ cho người mua ở nước ngoài chứa đựng nhiều rủi ro hơn nhiều so

tiết của ngân hàng nhà nước, thực hiện kinh doanh tiền tệ tín dụng, làm các
dịch vụ ngân hàng với nội dùng nhận tiền gửi và sử dụng tiền đó để cấp tín
dụng, cung ứng các dich vụ thanh toán. Khi thay mặt khách hàng thực hiện
dịch vụ thanh toán quốc tế, các ngân hàng trở thành cầu nối trung gian thanh
toán giữa hai bên mua bán.
Với vai trò trung gian thanh toán, các ngân hàng tiến hành thanh toán
theo yêu cầu của khách hàng, bảo vệ quyền lợi cho khách hàng trong giao
dịch thanh toán đồng thời tư vấn và hướng dẫn khách hàng những biện pháp
kỹ thuật nghiệp vụ TTQT nhằm hạn chế rủi ro, tạo sự tin tưởng cho khách
hàng trong quan hệ mua bán với nước ngoài. Mặt khác, trong quá trình thực
hiện TTQT, khách hàng không đủ năng lực về vốn sẽ cần đến sự tài trợ của
ngân hàng, ngân hàng sẽ thực hiện tài trợ xuất nhập khẩu cho khách hàng một
cách chủ động và tích cực. Nhìn chung, ngân hàng là người cung cấp hoàn
hảo các loại hình dịch vụ kỹ thuật và tài chính nhằm hỗ trợ cho các khách
hàng thực hiện hoạt động thương mại quốc tế.

7
1.1.2.3 Đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
Thanh toán quốc tế liên quan tới quyền lợi của các bên mua và bên bán
và được coi là điều khoản quan trọng trong khi kí kết hợp đồng ngoại thương.
Trong thanh toán quốc tế, ngân hàng là trung gian thanh toán, giúp cho quá
trinh thanh toán của khách hàng được tiến hành nhanh chóng, an toàn và tiện
lợi, giảm bớt chi phí thay vì phải thanh toán bằng tiền mặt. Nhờ có ngân hàng
mà các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất - nhập khẩu đựoc bảo vệ
quyền lợi, được ngân hàng tư vấn, hướng dẫn về kỹ thuật nhằm giảm thiểu rủi
ro, tạo sự an tâm, tin tưởng của khách hàng trong quan hệ giao dịch, mua bán
với nước ngoài.
Mặt khác, nếu khách hàng không đủ khả năng tài chính để đáp ứng yêu
cầu giao dịch với đối tác thì ngân hàng có thể tài trợ thông qua các hình thức
cho vay, bảo lãnh thanh toán mở L/C, chiết khấu chứng từ xuất - nhập

Người chuyển tiền

Người nhận tiền

Ngân hàng nước chuyển
tiền

Ngân hàng nước nhận tiền

1
2
3

9
giao dịch bên bán đã chuyển trực tiếp cho người mua, không qua ngân hàng. Quy trình nhờ thu trơn
(1) Bên bán giao hàng đồng thời chuyển toàn bộ chứng từ hàng hóa
cho bên mua.
(2) Bên bán lập hối phiếu đòi tiền người mua, ủy nhiệm qua ngân hàng
phục vụ mình thu hộ tiền từ người mua.
(3) Ngân hàng phục vụ bên bán chuyển hối phiếu qua ngân hàng bên
mua nhờ thu tiền từ người mua.
(4) Ngân hàng phục vụ bên mua đòi tiền người mua hoặc yêu cầu ký
chấp nhận hối phiếu.
(5) Bên mua thanh toán tiền.
(6) Chuyển tiền cho ngân hàng bên bán.
(7) Thanh toán tiền cho bên bán.
Với quy trình trên, chúng ta có thể rút ra nhận xét:

gửi kèm với điều kiện nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền (đối với
hối phiếu có kỳ hạn) sẽ trao bộ chứng từ cho người mua đi nhận hàng. Các
bước và trình tự nghiệp vụ của nhờ thu kèm chứng từ cũng tương tự như sơ
đồ 1.2, chỉ khác là bộ chứng từ gửi đi đòi tiền bên mua bao gồm cả hối phiếu
và bộ chứng từ hàng hoá.
c. Phương thức thanh toán mở tài khoản (Open account)
Theo phương thức này, sau mỗi chuyến giao hàng, người xuất khẩu gửi
bộ chứng từ hàng hóa cho người mua để họ nhận hàng và trả tiền hàng.
Cách thức thanh toán.
Hai bên mở tài khoản để ghi các khoản tiền cần thanh toán cho nhau.
Số dư nợ sẽ được người mua thanh toán dần theo định kỳ đã thỏa thuận. Đặc
điểm của phương thức thanh toán mở tài khoản:
- Phương thức này không có sự tham gia của các ngân hàng với chức

11
năng là người mở tài khoản và thực thi thanh toán.
- Chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên.
- Tài khoản do bên mua mở chỉ là tài khoản theo dõi, không có giá trị
thanh quyết toán.
- Chỉ có 2 bên tham gia thanh toán là người mua và người bán.
Trường hợp áp dụng.
Thường được áp dụng trong nội thương ở các nước tư bản, ít được
dùng trong mậu dịch quốc tế, vì không bảo đảm quyền lợi cho người xuất
khẩu. Phương thức này đòi hỏi người xuất khẩu phải rất tin cậy vào thiện chí
và khả năng thanh toán của người nhập khẩu, nên trong ngoại thương chỉ sử
dụng để thanh toán:
- Giữa các chi nhánh của cùng một công ty hoặc xí nghiệp, giữa công
ty mẹ công ty con đặt trên địa bàn thuộc nhiều nước khác nhau.
- Giữa các công ty có liên hệ thương mại lâu năm, có truyền thống, trị
giá hàng mậu dịch thường xuyên, nhưng không lớn.

xuất khẩu.
4. Nhà xuất khẩu kiểm tra L/C thấy phù hợp thì giao hàng hoá cho
nguời nhập khẩu.
5. Nhà xuất khẩu chuẩn bị bộ chứng từ, ký phát hối phiếu và xuất trình
hối phiếu cùng bộ chứng từ cho ngân hàng thông báo.
Nhập khẩu
Xuất khẩu
NH phát
hành L/C
NH thông
báo L/C
NH thanh
toán L/C
NH xác nhận
L/C
6
2
2
4
1
3
5
7
2
,

13
6. Ngân hàng thông báo kiểm tra chứng từ, nếu chứng từ phù hợp với
điều kiện và điều khoản của L/C thì đối chiếu hối phiếu, chứng từ và gửi tới
ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng thanh toán theo chỉ định của ngân hàng

tiền chấp nhận. Tóm lại, nhờ vào tính trừu tượng và tính bắt buộc của nghĩa
vụ trả tiền mà hối phiếu có được tính lưu thông.
b. Séc
Séc là một tờ lệnh vô điều kiện do một khách hàng của Ngân hàng ký
phát ra lệnh cho Ngân hàng trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình
để trả cho người chỉ định trên Séc, hoặc trả cho người cầm Séc.
Séc ra đời từ chức năng làm phương tiện thanh toán của tiền tệ và được
sử dụng rộng rãi trong những nước có hệ thống ngân hàng phát triển cao.
Hiện nay Séc là phương tiện chi trả được dùng hầu như phổ biến trong giao
lưu thanh toán nội địa của tất cả các nước. Séc cũng được sử dụng rộng rãi
trong thanh toán quốc tế về hàng hóa, cung ứng lao vụ, du lịch và về các chi
trả phi mậu dịch khác.
Séc có giá trị thanh toán trực tiếp như tiền tệ, do vậy Séc phải có những
quy định về nội dung và hình thức theo luật định. Năm 1931, nhiều nước như
Đức, Pháp, Ý, Đan Mạch, Hà Lan, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ, Áo, Bồ Đào Nha đã
họp tại Giơ - Ne – Vơ để ký một Công ước Quốc tế về Séc. Công ước Giơ -
Ne – Vơ về Séc năm 1931 đã được nhiều nước áp dụng.
Đặc điểm của Séc là có tính chất thời hạn, tức là tờ Séc chỉ có giá trị
thuộc vào phạm vi không gian mà Séc lưu hành và luật pháp các nước quy
định. Nhưng nói chung Séc lưu hành trong nội địa thời gian ngắn hơn lưu

15
hành trong thanh toán quốc tế.
c. Lệnh phiếu
Ngược lại với hối phiếu, lệnh phiếu do người ký phát viết ra để hứa
cam kết trả tiền cho người hưởng lợi. Với tính thụ động trong thanh toán như
trên, trong thanh toán quốc tế, lệnh phiếu ít thông dụng hơn hối phiếu.
Lệnh phiếu là một tờ giấy hứa cam kết trả tiền vô điều kiện do người ký
phát hứa trả một số tiền nhất định cho người hưởng lợi hoặc theo lệnh của
người này trả cho người khác quy định trong lệnh phiếu đó.

thẻ, sau một thời gian nhất định, kể từ thời điểm cấp thẻ hoặc thời điểm chi trả.
- Thẻ quốc tế:
Loại thẻ này có công dụng như những thẻ trên, nhưng phạm vi sử dụng
của nó không phải chỉ trong phạm vi 1 quốc gia mà còn cả nước ngoài. Một
số loại thẻ quốc tế thông dụng như: Visa; Master Card; American Express…
1.1.4 Hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán
quốc tế
Trên thế giới mỗi quốc gia phải xây dựng cho mình một hệ thống pháp
luật riêng phù hợp với thể chế chính trị, xã hội, tập quan và trình độ phát
triển; chính vì vậy, luật pháp giữa các các nước thường là khác nhau. Tuy
nhiên, khi tham gia các hoạt động quốc tế, các nước đều bình đẳng với nhau,
nên không thể dùng luật pháp của một nước nào đó áp đặt buộc nước khác
phải theo. Sau đây là một số văn bản điều chỉnh hoạt động TTQT theo tính
chất pháp lý giảm dần [15, tr98]:

17
1.1.4.1 Luật và công ƣớc quốc tế:
- Công ước Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán quốc tế (United
nations convention on contracts for the international sale of goods-Wien
Convention 1980).
-Công ước Geneve 1930 về Luật thống nhất về hối phiếu (Uniform
Law for Bill of Exchange-ULB 1930)
- Công ước Liên hợp quốc về hối phiếu và lệnh phiếu quốc tế
(International Bill of Exchange and International Promissory Note-Un
convention 1980).
- Công ước Geneve 1931 về Séc quốc tế (Geneve conventions for
Check 1931).
- Các nguồn luật và Công ước quốc tế về vận tải và bảo hiểm.
- Các hiệp định song phương và đa phương.
1.1.4.2 Các nguồn luật quốc gia

nghiệp vụ “Thanh toán biên mậu”.
Qua sự phân tích trên cho thấy, TTBM được bắt nguồn từ thương mại
biên giới và mục đích của nó là hỗ trợ và phục vụ cho hoạt động xuất nhập
khẩu giữa các nước có chung đường biên giới được trôi chảy và thuận tiện.
1.2.2 Khái niệm TTBM
Quan hệ quốc tế giữa các nước trên thế giới bao gồm nhiều lĩnh vực,

19
bao gồm kinh tế, chính trị, văn hoá…trong đó quan hệ kinh tế (chủ yếu là
ngoại thương) đóng vai trò quan trọng, là cơ sở cho các quan hệ quốc tế khác
tồn tại và phát triển. Ngoại thương được hiểu là việc mua bán hàng hoá và
dịch vụ qua biên giới quốc gia hình thành trên cơ sở nền kinh tế hàng hoá và
phân công lao động quốc tế, buôn bán qua biên giới cũng là hoạt động ngoại
thương. Như vậy, buôn bán qua biên giới và hoạt động ngoại thương nói
chung đều liên quan đến:
- Người bán và người mua ở hai nước khác nhau.
- Hàng hoá mua bán được dịch chuyển qua biên giới giữa các nước.
- Luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán và thanh toán chứa đựng
yếu tố quốc tế.
Đặc điểm khác nhau cơ bản giữa TTBM và TTQT nói chung là:
Nếu trong TTQT nói chung việc thanh toán phải sử dụng các đồng tiền
mạnh, có khả năng tự do chuyển đổi như USD, GBP, EUR,… thì trong
TTBM không phụ thuộc vào đồng bản tÖ của các nước có phải là các đồng
tiền mạnh hay không mà vẫn sử dụng thanh toán. Trong đó, đồng tiền của
nước có vị thế kinh tế cao hơn sẽ được sử dụng thông dụng hơn. Theo hình
thức này thì ngoại tệ chỉ xuất hiện vào thời điểm cuối cùng sau mỗi chu kỳ
thanh toán khoản chênh lệch ròng.
- Do đặc điểm có thể thanh toán bằng đồng bản tệ của các nước có
chung biên giới nên Ngân hàng ở các nước này được phép mở tài khoản bằng
đồng tiền của nước kia, nhằm phục vụ cho việc thanh toán thuận tiện. Đồng

mua hàng hoặc nhận tiền hàng, thiết lập quan hệ đại lý giữa các NHTM hai

21
bên biên giới phù hợp với quy định về thanh toán quốc tế và yêu cầu quản lý
ngoại tệ, tiền tệ biên giới góp phần tháo gỡ những khó khăn vướng mắc và
trong thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu tại cửa khẩu quốc tế và thực chất
đã khai thông và thúc đẩu hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.
- TTBM thúc đẩy hợp tác kinh tế và thương mại khu vực biên giới
Do hoạt động thanh toán được khai thông mà hoạt động kinh tế thương
mại giữa các doanh nghiệp được thuận lợi. Hàng hoá được lưu thông trao đổi
ngày càng lớn, các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh của các địa phương được
khai thác phát triển…hoạt động xuất nhập khẩu biên giới giữa các tỉnh chung
biên giới ngày càng sôi động [17, tr.10].
- TTBM tăng cường quan hệ hợp tác giữa các Ngân hàng Việt Nam với
các Ngân hàng thương mại khu vực biên giới
Thị trường dịch vụ Ngân hàng và nhu cầu thanh toán XNK của các
doanh nghiệp tại các cửa khẩu quốc tế ngày càng lớn và khẩn trương. Do đó
việc thiết lập quan hệ hợp tác thanh toán với các NHTM khu vực biên giới là
một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển của NHTM, nhằm phát
triển dịch vụ, mở rộng kinh doanh ngoại tệ, thanh toán biên mậu và thanh toán
quốc tế.
- TTBM góp phần tăng cường quản lý ngoại tệ và tiền tệ khu vực biên giới
Hoạt động buôn bán trao đổi hàng hoá tại các khu vực cửa khẩu biên
giới đất liền của dân cư đã xuất hiện từ lâu đời và luôn gắn với thanh toán
bằng tiền mặt theo tập quán buôn bán nhỏ lẻ và thói quen sử dụng tiền mặt,
vàng bạc, kim khí quý của cư dân biên giới [17, tr.11].
Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển của ngoại thương, quan
hệ hợp tác kinh tế thương mại của thương nhân khu vực biên giới ngày càng

22

giới đều cách xa trung tâm kinh tế chính trị, có nhiều khu hành chính phân
cách, bất lợi cho vị trí địa lý kinh tế. Như vậy, quá trình tổ chức các hoạt động
thanh toán biên mậu sẽ không có điều kiện và cơ hội thuận lợi.
- Chủ thể tham gia vào hoạt động TTBM thuộc hai quốc gia có chung
đường biên giới. Trong đó, khu vực biên giới nước láng giềng có hoàn cảnh
văn hoá, xã hội và tự nhiên tương tự như nhau, nhân dân biên giới hai nước có
ngôn ngữ văn hoá, tập quán sinh sống, truyền thống, tôn giáo tín ngưỡng gần
giống nhau hoặc tương tự nhau, có mỗi liên hệ mật thiết với nhau.
- Đồng tiền sử dụng trong TTBM là đồng bản tệ của nước có chung
biên giới. Trong đó, đồng tiền của nước có vị thế kinh tế cao hơn sẽ được sử
dụng thông dụng hơn.
- Ngôn ngữ sử dụng trong TTBM là ngôn ngữ của hai nước có chung
biên giới hoặc theo thoả thuận của hai bên.
- Phương thức giao dịch trực tiếp,qua mạng viễn thông quốc tế SWIFT
và cả qua mạng Internet.
- Hành động theo thoả thuận giữa các chủ thể tham gia, trên cơ sở
thông lệ quốc tế và các thoả thuận song phương của Chính phủ hai nước.
1.2.5 Điều kiện tổ chức TTBM
1.2.5.1 Đối với NHTM
- NHTM tham gia TTBM trực tiếp phải có trụ sở hoạt động kinh doanh
gần biên giới, cửa khẩu, nơi diễn ra các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
hàng hoá dịch vụ qua biên giới.
- NHTM tham gia TTBM trực tiếp phải tiến hành ký kết thoả thuận hợp

24
tác TTBM đối tác nước ngoài có chung đường biên giới.
- Các chi nhánh NHTM ở các tỉnh xa khu vực biên giới cửa khẩu muốn
thực hiện các nghiệp vụ TTBM phục vụ khách hàng của mình, phải ký kết
hợp đồng đại lý uỷ thác thanh toán với các NHTM tham gia TTBM trực tiếp
- Có đội ngũ cán bộ am hiểu nghiệp vụ ngân hàng, đặc biệt là nghiệp vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status