Các quy định về nhập khẩu của nhật bản và khả năng xuất khẩu của việt nam sang thị trường này - Pdf 13


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG TRẦN THU CÚC

CÁC QUY ĐỊNH VỀ NHẬP KHẨU CỦA NHẬT BẢN
VÀ KHẢ NĂNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG
THỊ TRƯỜNG NÀY Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế
Mã số: 60.31.07 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1.1.1
Điều kiện tự nhiên
4
1.1.2
Tình hình Chính trị - Kinh tế
5
1.1.3
Tình hình Văn hoá - Xã hội
8
1.1.4
Cách ứng xử trong công việc và tập quán kinh doanh
10
1.2
Các quy định chung liên quan đến nhập khẩu hàng hoá.
13
1.2.1
Hệ thống thuế quan
13
1.2.2
Các quy định phi thuế quan
17
1.3
Sự cần thiết nghiên cứu các quy định nhập khẩu của Nhật Bản
32
1.3.1
Nghiên cứu quy định nhập khẩu của Nhật Bản sẽ giúp Việt Nam
hoàn chỉnh quy chế xuất nhập khẩu, bảo vệ nền sản xuất trong nước

32
1.3.2

Thực trạng quy định nhập khẩu của Nhật Bản đối với hàng hoá
xuất khẩu của Việt Nam
50
2.2.1
Quy định đối với nhóm hàng thuỷ sản
50
2.2.2
Quy định đối với nhóm hàng dệt may
57
2.2.3
Quy định đối với nhóm hàng đồ gỗ (chủ yếu là đồ gỗ nội thất)
61
2.2.4
Quy định đối với nhóm hàng rau quả
63
CHƯƠNG 3: KHẢ NĂNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH
XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN

70
3.1
Khả năng xuất khẩu của Việt Nam
70
3.1.1
Lợi thế của Việt Nam
70
3.1.2
Quy mô và năng lực sản xuất của các ngành

3.3.2
Các giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật
80

3.3.2.1. Các giải pháp của Chính phủ
80

3.3.2.2. Các giải pháp của ngành hàng
83

3.3.2.3. Các giải pháp của Hiệp hội
88

3.3.2.4. Các giải pháp của doanh nghiệp
93
KẾT LUẬN
102
TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt
Tiếng Anh
Tiếng Việt
ASEAN
Association of Southeast Asia
Nations

KNNK

Kim ngạch nhập khẩu
KNXK

Kim ngạch xuất khẩu
LDC
Least Developed Countries
Các nước chậm phát triển
METI
Ministry of Economy, Trade and
Industry
Bộ Kinh tế Thương mại và Công
nghiệp Nhật Bản
MFN
Most Favored Nations
Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc
VASEP
Vietnam Association of Seafood
Exporters and Producers
Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy
sản Việt Nam
WTO
World Trade Organization
Tổ chức Thương mại thế giới
DANH MỤC BẢNG BIỂU


Xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật giai đoạn 2001-2006
43
Bảng 2.6
Tỷ trọng xuất khẩu 5 nhóm hàng chính trong xuất khẩu
hàng dệt kim của Việt Nam sang Nhật giai đoạn 2004-2006
44
Bảng 2.7
Tỷ trọng xuất khẩu 5 nhóm hàng chính trong xuất khẩu
hàng dệt thoi của Việt Nam sang Nhật giai đoạn 2004-2006
45
Bảng 2.8
Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam sang Nhật Bản giai
đoạn 2004-2006
46
Bảng 2.9
Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ mã HS 9403 của Việt Nam sang
Nhật Bản
47
Bảng 2.10
Kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang Nhật giai
đoạn 2002-2006
48
Bảng 2.11
Tỷ trọng xuất khẩu 4 nhóm hàng chính trong xuất khẩu
rau của Việt Nam sang Nhật giai đoạn 2004-2006
49
Bảng 2.12
Tỷ trọng xuất khẩu 5 nhóm hàng chính trong xuất khẩu quả
50


có kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản lớn
64
Bảng 2.21
Thuế suất đối với 5 nhóm hàng quả của Việt Nam
có kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản lớn
64
Bảng 3.1
Nhập khẩu thuỷ sản của Nhật Bản giai đoạn 1995-2004
75
Bảng 3.2
Nhập khẩu hàng dệt may của Nhật Bản giai đoạn 2002-2006
76
Bảng 3.3
Nhập khẩu đồ gỗ nội thất (mã HS 9403) của Nhật Bản giai
đoạn 2003-2006
76
Bảng 3.4
Nhập khẩu rau quả của Nhật giai đoạn 2002-2006
77

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Các quy định về nhập khẩu của
Nhật Bản và khả năng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này” làm đề tài
luận văn tốt nghiệp.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Mối quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản, đầu tư trực tiếp của Nhật Bản
vào Việt Nam và viện trợ phát triển chính thức của Chính phủ Nhật dành cho Việt
Nam đã được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và
ngoài nước. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đi sâu vào tìm hiểu các quy định
nhập khẩu của thị trường Nhật Bản không nhiều. Trong đó có một quyển sách do
Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) ấn hành là “Quy định nhập
khẩu hàng tiêu dùng vào Nhật” phát hành năm 2004, đề cập đến những quy định về
nhập khẩu của Nhật Bản với các nhóm hàng tiêu dùng. Tuy nhiên, cuốn sách này
không tham khảo được với nhóm hàng nông sản và thủy sản Việt Nam - vốn là
những ngành mà Việt Nam lợi thế về điều kiện tự nhiên. Ngoài ra còn có cuốn sách 2
“Chính sách ngoại thương Nhật Bản thời kỳ tăng trưởng cao và toàn cầu hóa kinh
tế” của GS. TS. Bùi Xuân Lưu, giới thiệu về các tổng quát về hệ thống thuế quan và
các quy định phi quan thuế của thị trường Nhật Bản, nhưng cuốn sách này không đề
cập đến các quy định cụ thể cho từng nhóm ngành. Bên cạnh đó còn có một số bài
báo trên các báo và tạp chí của Việt Nam như “Thời báo kinh tế Việt Nam”,
“Thương mại”, “Đầu tư”, “Nghiên cứu kinh tế” cũng viết về thị trường Nhật Bản,
nhưng chỉ đề cập sơ qua đến quy định nhập khẩu cho các nhóm ngành, và ít thông
tin mang tính hệ thống. Ngoài ra, các sách và bài báo nêu trên chưa đưa ra các giải
pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài nhằm tìm hiểu và phân tích chính sách nhập khẩu của Nhật Bản nhằm
giúp các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam hiểu rõ hơn về thị trường này và
khả năng xuất khẩu của Việt Nam, trên cơ sở đó đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của

Việt Nam.
Chương 3- Khả năng và các giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu của Việt
Nam sang thị trường Nhật Bản. 4
Chƣơng 1
MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ NHẬP KHẨU CỦA NHẬT BẢN

1.1. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƢỜNG NHẬT BẢN
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Nhật Bản là quốc đảo được hợp thành bởi trên 3900 hòn đảo nằm ở Tây Bắc
lòng chảo Thái Bình Dương, ở ngoài khơi Đông Á, gần với Nga, Trung Quốc và
Hàn Quốc. Đa số các đảo của Nhật đều rất nhỏ, trong đó có 4 hòn đảo chiếm tới
98% diện tích đất nước là Honshu, Hokkaido, Kyushu và Shikoku, trong đó đảo
Honshu chiếm 60% tổng diện tích. Diện tích đất liền của toàn bộ nước Nhật Bản
vào khoảng 378.000 km
2
, chiếm chưa đầy 0,3% tổng diện tích đất toàn thế giới.
Khí hậu: Các đảo Nhật Bản nằm trong vùng khí hậu ôn hoà, nhưng khác nhau
giữa các miền, chủ yếu do các dòng khí lưu lục địa thổi từ phía tây bắc chi phối khí
hậu mùa đông và các dòng khí lưu đại dương thổi từ phía đông nam chi phối các
tháng mùa hè. Ở hầu hết các miền của Nhật Bản đều có 4 mùa rõ rệt. Mùa hè ấm và
ẩm, bắt đầu khoảng giữa tháng 7. Mùa xuân và mùa thu là những mùa tốt nhất trong
năm, khí hậu êm dịu và rực rỡ ánh mặt trời trên khắp đất nước.
Địa hình: Địa hình phức tạp của Nhật Bản khác hẳn với khí hậu tương đối
ôn hoà của nó. Các đảo Nhật Bản là một phần của dãy núi chạy dài từ Đông Nam
Á tới tận Alaska. Điều này tạo cho nước Nhật có một bờ biển dài, nhiều đá với
nhiều hải cảng nhỏ. Nó cũng tạo ra rất nhiều vùng núi có nhiều thung lũng, các con
sông chảy xiết, các hồ nước trong. Núi chiếm khoảng 71% tổng diện tích đất Nhật

nguyên thủ tượng trưng về mặt đối ngoại. Nhà nước được tổ chức theo chế độ tam
quyền phân lập. Cơ quan lập pháp gồm 2 viện là Thượng viện với 242 ghế, được
bầu 6 năm một lần và Hạ viện với 480 ghế, được bầu 4 năm một lần. Cơ quan hành
pháp là Nội các và Tư pháp là Toà án. Ba cơ quan quyền lực này độc lập kiểm soát
và hỗ trợ nhau. Người đứng đầu Chính phủ Nhật Bản hiện nay là thủ tướng Shinzo
Abe (được bầu từ ngày 26/9/2006 với 339 ghế ở Hạ viện và 136 ghế ở Thượng
viện). Nội các do thủ tướng chỉ định.
Năm đảng phái chính trị lớn ở Nhật hiện nay là: Đảng Tự do Dân chủ (LDP -
hiện đang chiếm 111 ghế ở Thượng viện và 305 ghế ở Hạ viện), Đảng Dân chủ 6
(DJP - hiện đang chiếm 82 ghế ở Thượng viện và 113 ghế ở Hạ viện), Đảng Komei
(hiện đang chiếm 24 ghế ở Thượng viện và 31 ghế ở Hạ viện), Đảng Cộng sản
(JCP- chiếm 9 ghế ở Thượng viện và 9 ghế ở Hạ viện) và Đảng SDP (đang chiếm
6 ghế ở Thượng viện và 7 ghế ở Hạ viện) [1], [19].
1.1.2.2. Kinh tế
Nhật Bản là nước hết sức nghèo về tài nguyên trong khi dân số quá đông,
phần lớn tài nguyên thiên nhiên phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong
chiến tranh, nhưng với các chính sách phù hợp và với ý chí vươn lên của người
dân, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1954), phát triển cao độ
(1955-1973). Từ năm 1974 đến nay tốc độ phát triển tuy chậm lại song Nhật Bản
tiếp tục là nước có tiềm năng lớn thứ hai trên thế giới về kinh tế, khoa học kỹ thuật,
tài chính, chỉ xếp sau Mỹ. Một đặc tính cơ bản của nền kinh tế Nhật là các nhà sản
xuất, người cung cấp và người phân phối đã kết hợp chặt chẽ với nhau trong một
thể thống nhất được gọi là Keireitsu. Một đặc trưng khác là chế độ thuê mướn lao
động suốt đời, làm cho người lao động trung thành gắn bó với công ty, cũng như
duy trì ổn định lực lượng lao động của công ty. Tuy nhiên, hai đặc trưng này đang
dần dần được thay đổi. Dưới đây là một số số liệu về nền kinh tế Nhật Bản.
Tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao, cụ thể là 4,6% ( tháng 10/2004), 4,2% năm 2005

Công nghiệp
26,8%

Lưu thông
12,5%
Xây dựng
10,3%

Các ngành khác
37,9%
Sau thời kỳ kinh tế “bong bóng” 1986-1990, từ năm 1991 kinh tế Nhật Bản
phát triển ì ạch. Trong những năm 1992-1995 tốc độ tăng trưởng hàng năm chỉ đạt
1,4%, năm 1996 là 3,2% [1], [19].
Đặc biệt từ 1997 và nhất là từ đầu năm 1998 kinh tế Nhật bị lâm vào suy
thoái nghiêm trọng nhất kể từ sau khủng hoảng dầu lửa năm 1974 đến nay với
những biểu hiện khủng hoảng hệ thống tài chính tiền tệ, đồng Yên, chứng khoán
giảm giá mạnh, nợ khó đòi tăng cao, sản xuất trì trệ và tỷ lệ thất nghiệp hoàn toàn
đạt mức kỷ lục trong 45 năm (5,5% vào tháng 12/2002). Năm 1997, GDP thực chất
đạt -0,7%; năm 1998 là -1,8%. Cuộc suy thoái kinh tế lần này của Nhật chủ yếu
mang tính chất cơ cấu liên quan đến mô hình phát triển của Nhật đang bị thách
thức bởi một môi trường đã thay đổi. Vấn đề phục hồi kinh tế thông qua đẩy mạnh
cải cách cơ cấu kinh tế, tài chính, ngân hàng đang là một vấn đề cấp bách đặt ra
trước mắt đối với chính phủ Nhật Bản. 8
Nhật Bản đang xúc tiến chương trình cải cách lớn trong đó có cải cách cơ
cấu kinh tế, giảm thâm hụt ngân sách, cải cách khu vực tài chính và sắp xếp lại cơ
cấu chính phủ…Cải cách hành chính của Nhật được thực hiện từ tháng 1/2001. Dù
diễn ra chậm chạp nhưng cải cách đang đi dần vào quỹ đạo, trở thành xu thế không

con sinh ra. Năm 1930, một phụ nữ Nhật trung bình sinh 4,7 con, nhưng con số
này đã giảm còn 3,6 vào năm 1950 và đến năm 2006 chỉ còn 1,4.
Lối sống của người Nhật đã thay đổi đáng kể do việc sử dụng rộng rãi các đồ
dùng gia đình hiện đại, việc mở rộng các ngành công nghiệp thực phẩm ăn liền và
đông lạnh, và sự sẵn có các loại quần áo may sẵn và các hàng thiết yếu hàng ngày
khác. Những điều tiện lợi này đã tạo cho các gia đình có nhiều thời gian dùng vào
việc giải trí, nâng cao trình độ giáo dục và hưởng thụ văn hoá.
1.1.3.3. Giáo dục
Nhật Bản là nước nghèo tài nguyên, chỉ trừ một thứ, đó là con người. Hệ
thống giáo dục được xem như chìa khoá làm cho nền kinh tế tăng trưởng và ổn
định về mặt chính trị. Việc đầu tư cho giáo dục có ý nghĩa lớn đối với đất nước.
Nhà nước đã nỗ lực để tạo lập ra một hệ thống giáo dục có thể đào tạo lực lượng
lao động có hiệu quả cao, đưa đất nước tiến tới hiện đại hoá. Ở cấp độ cá nhân,
người lao động Nhật Bản ngày nay được đánh giá chủ yếu dựa vào học vấn chứ
không phải địa vị gia đình, địa vị xã hội hay thu nhập.
Hệ thống giáo dục được phân thành 5 giai đoạn: Vườn trẻ (từ 1 đến 3 năm),
tiểu học (6 năm), trung học bậc thấp (3 năm), trung học bậc cao (3 năm) và đại học
(thông thường là 4 năm). Ngoài ra còn có các trường cao đẳng với các khoá học 2
hoặc 3 năm. Nhiều trường đại học còn mở các khoá nâng cao sau đại học.
Giáo dục phổ cập miễn phí cho tất cả trẻ em từ 6 đến 15 tuổi. Tuy vậy, tuyệt
đại đa số học sinh học hết các trường trung học bậc thấp đều tiếp tục học lên, và
trong thực tế các trường trung học bậc cao hiện đã trở thành bộ phận cơ bản trong
hệ thống giáo dục trẻ em.
Trình độ học vấn là một nhân tố quan trọng trong chế độ thuê người làm việc
suốt đời của Nhật Bản. Để có được một việc làm trong công ty hàng đầu cần phải
tốt nghiệp một trường đại học hàng đầu, và để đạt được điều đó thì lại phải tốt 10
nghiệp các trường trung học bậc cao và bậc thấp hàng đầu. Do sự cạnh tranh quyết

11
nhất của tổ chức, có ý thức vì mục đích chung và tiến hành hiệu quả các hoạt động
kinh doanh, các công ty dù lớn hay nhỏ cũng ban hành rất nhiều quy định cụ thể từ
cách quyết định vấn đề, phạm vi trách nhiệm, quyền hạn, cách thực thi cho đến đạo
đức của một nhân viên, giờ làm việc, trang phục, cách ứng xử giao tiếp với
khách…
Trong ngành sản xuất, vì phương pháp quản lý chất lượng là yếu tố quyết
định uy tín đối với khách hàng nên nó được quy định đến từng chi tiết về tiêu
chuẩn. Đương nhiên theo thời gian và sự thay đổi trong môi trường kinh doanh cần
có sự điều chỉnh cho phù hợp, nhưng phương pháp kinh doanh và sản xuất luôn là
vốn kinh nghiệm và trí tuệ quý báu được đúc kết qua quá trình lịch sử của công ty.
Trong thời gian thực tập ở bộ phận chuyên trách, nhân viên mới vào được giáo
dục ý tưởng và phương châm của công ty, đồng thời được chỉ bảo về những quy
định đối với một nhân viên. Sau thời kỳ sinh viên tự do, đây là giai đoạn giúp nhân
viên mời làm quen và có nhận thức mới như một thành viên của tổ chức theo chiều
dọc trong công ty [10].
1.1.4.1. Cách ứng xử qua điện thoại
Các công ty Nhật Bản có quan điểm cho rằng các ứng xử qua điện thoại
của nhân viên là một tiêu chuẩn để người ngoài đánh giá công ty, điều này
thậm chí còn ảnh hưởng đến cả sự thành bại trong công việc. Vì vậy, nhân
viên luôn được hướng dẫn phải có ý thức rằng mình là bộ mặt của công ty
khi gọi và nhận điện thoại.
Khi có điện thoại gọi tới, nhân viên phải cầm máy ngay trong vòng một hoặc
hai tiếng chuông và xưng tên công ty, không được để khách chờ. Khi gọi điện
thoại phải cố gắng nói ngắn gọn nội dung công việc để không làm mất thời gian
người mình đối thoại khi họ đang bận. Việc ghi trước những điểm cần nói là cách
sử dụng hiệu quả điện thoại ở nơi làm việc. Ngày nay, thư điện tử qua mạng máy
tính dần dần phổ cập làm cho công việc không bị gián đoạn bởi những tiếng
chuông điện thoại và có thể nhận thông tin tuỳ theo thời gian phù hợp với mình.
1.1.4.2. Giữ đúng hẹn

Cách làm của người Nhật là "xuất phát từ hình thức", có nghĩa là bắt đầu từ
việc hoàn thiện hình thức, sau đó tiếp tục cụ thể hoá nội dung. Người Nhật "cất" 13
công việc trong ngăn kéo cho đến khi đạt được hình thức ở mức mong muốn mới
tiến hành. Sự coi trọng hình thức không chỉ được thể hiện qua cách ăn mặc mà còn
qua nhiều yếu tố khác như tài liệu giấy tờ, văn thư, sổ kế toán cũng như cách đón
tiếp khách hàng của công ty [10].
1.1.4.4. Con dấu và danh thiếp
Cùng với sự phát triển của kỹ thuật tiên tiến, rất nhiều phương tiện phục vụ
cho kinh doanh như điện thoại di động, máy tính xách tay, máy fax, scan…cũng
dần dần phổ cập, song vẫn có những thứ luôn giữ vị trí quan trọng. Đó là danh
thiếp và con dấu.
Người nước ngoài thường cho rằng con dấu dễ bị làm giả hơn chữ ký bằng
tay và hoài nghi không biết có cách nào để phân biệt thật giả, nhưng Nhật Bản quy
định đóng dấu trên các văn bản chính thức chứ không dùng chữ ký.
Con dấu của cá nhân có hai loại: con dấu chính thức được đăng ký ở cơ quan
hành chính, có hiệu lực pháp lý, dùng trong các trường hợp quan trọng như hợp
đồng và con dấu thông thường đơn giản hơn, mang tính thường dụng. Trong cuộc
sống hàng ngày, con dấu thường được sử dụng khi nhận hàng gửi nhanh, hàng gửi
đảm bảo qua bưu điện hoặc được dùng trong các văn bản lưu hành nội bộ.
Không ít doanh nhân nước ngoài nêu tầm quan trọng của danh thiếp trong xã
hội Nhật Bản. Khi chào hỏi làm quen lần đầu tiên bao giờ người Nhật cũng trao
đổi danh thiếp, từ đó bắt đầu quan hệ. Người Nhật nhìn danh thiếp, nhận biết tên
công ty và chức vụ của người đối thoại để qua đó thể hiện thái độ và sử dụng kính
ngữ phù hợp với địa vị của người đó.
1.1.4.5. Thoả thuận kinh doanh
Việc trao đổi kinh doanh không nhất thiết phải tiến hành ở văn phòng. Phần
nhiều thoả thuận diễn ra tại văn phòng, song có không ít những cuộc thoả thuận

lực ngày 13/7/2006). Mức thuế này được áp dụng cho các hàng hóa trong danh
mục đối tượng của Hiệp định. Các mặt hàng khác sẽ áp dụng mức thuế (d).
(b). Mức thuế ƣu đãi dành cho các nƣớc chậm phát triển (LDC): Những
mặt hàng nằm trong danh mục ưu đãi thuế quan chung dành cho các nước đang
phát triển, và các mặt hàng nằm trong danh mục ưu đãi thuế dành cho các nước
chậm phát triển được miễn thuế. Những mặt hàng nằm ngoài hai danh mục này sẽ
áp dụng mức thuế (d) 15
(c). Mức thuế ƣu đãi chung: dành cho các nước đang phát triển. Áp dụng với
những mặt hàng nằm trong danh mục ưu đãi thuế quan chung dành cho các nước đang
phát triển. Những mặt hàng nằm ngoài danh mục này sẽ áp dụng mức thuế (d)
(d). Mức thuế dành cho các nƣớc thành viên của WTO, mức thuế dành
cho các nƣớc đƣợc hƣởng ƣu đãi thuế tối huệ quốc theo hiệp định giữa chính
phủ Nhật Bản và chính phủ nước đó. Đây là mức thuế được xác định trên cam kết
WTO và các hiệp định quốc tế khác.
Đối với với các mặt hàng đồng thời nằm trong danh mục thuế theo hiệp định
và thuế tạm thời thì áp dụng mức thuế thấp hơn giữa hai mức thuế này.
Đối với mặt hàng nằm trong danh mục thuế theo hiệp định nhưng không nằm
trong danh mục thuế tạm thời thì áp dụng mức thuế thấp hơn giữa mức thuế theo
hiệp định và mức thuế chung.
Đối với mặt hàng nằm ngoài danh mục thuế theo hiệp định thì áp dụng mức
(e) hoặc (f).
(e). Mức thuế tạm thời: được quy định theo Luật thuế tạm thời. Đây là mức
thuế mang tính tạm thời được áp dụng thay cho mức thuế cơ bản trong một thời
gian nhất định trong trường hợp khó áp dụng mức thuế cơ bản. Nếu mức thuế tạm
thời thấp hơn tất cả các mức thuế còn lại thì áp dụng mức thuế tạm thời.
(f). Mức thuế cơ bản: là mức thuế cơ bản căn cứ theo Luật thuế quan Nhật
Bản, được áp dụng trong một thời gian dài (nhưng không áp dụng với các nước

(UNCTAD). Mục đích của hệ thống này là tăng kim ngạch xuất khẩu, thúc đẩy
công nghiệp hóa và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng ở các nước đang phát triển bằng
việc giảm thuế nhập khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu ở các nước này.
Hệ thống ưu đãi phổ cập (GSP) của Nhật Bản có hiệu lực từ ngày 1/8/1971,
dựa trên Hiệp ước của UNCTAD năm 1970. Thuế GSP thường thấp hơn thuế ưu
đãi tối huệ quốc (MFN) từ 10 đến 100%. Hiện nay Nhật Bản giành chế độ GSP
cho 142 nước và 15 vùng lãnh thổ, trong đó có 50 nước được hưởng ưu đãi thuế
dành cho các nước chậm phát triển (tham khảo phụ lục 1). Việt Nam cũng nằm
trong danh sách các nước và vùng lãnh thổ được hưởng chế độ GSP. 17
Theo chế độ GSP, với các mặt hàng nông sản và hải sản (từ chương 1 đến 24
trong hệ thống HS), Nhật Bản dành ưu đãi cho 339 mặt hàng với thuế suất thấp
hơn thuế suất WTO từ 10% đến 100% và không giới hạn hạn ngạch. Tuy nhiên,
nếu việc công nhận quy chế ưu đãi cho một sản phẩm gây ảnh hưởng xấu tới
ngành sản xuất trong nước thì một quy định ngoại lệ sẽ được đưa ra để tạm hoãn
quy chế ưu đãi cho sản phẩm này.
Hầu hết sản phẩm công nghiệp (chương 25 đến 97 trong hệ thống HS) được
hưởng ưu đãi không chịu thuế nhập khẩu trừ 118 mặt hàng không được hưởng ưu
đãi gồm: muối, dầu thô, gelatin, đồ da, lông cừu, dê, thỏ và các sản phẩm từ lông,
gỗ dán, kén tằm, lụa thô, sợi lụa, vải lụa, sợi bông và sản phẩm dệt, giày và các bộ
phận của giày…và 78 hạng mục (1.264 mặt hàng) nhạy cảm với mức thuế suất
20%, 40%, 60% hoặc 80% so với thuế suất MFN, có hạn ngạch trần được tính cho
mỗi năm tài chính.
Để hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia được hưởng GSP, chúng phải được
công nhận là có xuất xứ tại nước đó theo tiêu chuẩn xuất xứ của chế độ GSP Nhật
Bản và được vận chuyển đến Nhật Bản theo tiêu chuẩn về vận tải.
Tiêu chuẩn về vận tải (vận chuyển thẳng) là để đảm bảo hàng hóa được giữ
nguyên tính chất và không bị thay đổi hay chế biến trong quá trình vận chuyển từ

Vũ khí, đạn dược và những phụ tùng vũ khí
Các chất gây nổ, thuốc súng.
Các hoạt chất dùng để sản xuất vũ khí hóa học.
Các vi trùng, mầm bệnh, chất dùng để sản xuất vũ khí sinh học.
Tiền xu, tiền giấy, chứng khoán, thẻ tín dụng giả, làm thay đổi hoặc bắt
chước.
Sách, tranh,tác phẩm điêu khắc hoặc bất kỳ mặt hàng khác có hại đến an ninh
công cộng và giá trị đạo đức.
Sách, tranh ảnh khiêu dâm trẻ em.
Những mặt hàng vi phạm quyền về sáng chế, thiết kế, kiểu mẫu sử dụng, tên
thương mại, quyền tác giả [24].
b. Quy định của Nhật Bản về hạn ngạch số lượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status