Chính sách, pháp luật cạnh tranh của các nước - bài học đối với Việt Nam - Pdf 13


Bộ giáo dục và đào tạo
Tr-ờng Đại học Ngoại th-ơng Hà Nội

Hoàng Thị Ph-ơng Lan

chính sách, pháp luật cạnh tranh của
các n-ớc - Bài học đối với Việt Nam

Chuyên ngành: KTTG&QHKTQT
Mã số: 60.31.07
Luận văn thạc sỹ kinh tế H Ni - 2008
Bộ giáo dục và đào tạo
Tr-ờng Đại học Ngoại th-ơng Hà Nội

Hoàng Thị Ph-ơng Lan

Lời mở đầu 2
Chương I: Tổng quan về cạnh tranh và chính sách, pháp luật cạnh tranh 5
1.1. Khái niệm cạnh tranh 5
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh 5
1.1.2. Vai trò của cạnh tranh 6
1.1.3. Các hình thức biểu hiện của cạnh tranh 8
1.1.3.1. Căn cứ vào tính chất và mức độ can thiệp của công quyền vào đời
sống kinh tế 8
1.1.3.2. Căn cứ vào tính chất và mức độ biểu hiện 9
1.1.3.3. Căn cứ vào mục đích, tính chất của các phương thức cạnh tranh 11
1.2. Sự phát triển của lý thuyết cạnh tranh 12
1.2.1. Lý luận cạnh tranh cổ điển 12
1.2.1.1. Lý luận cạnh tranh của Adam Smith 12
1.2.1.2. Lý luận cạnh tranh của John Stuart Mill 15
1.2.1.3. Lý luận cạnh tranh của Karl Mark 16
1.2.1.4. Lý luận cạnh tranh của John Bates Clark 18
1.2.1.5. Lý luận cạnh tranh theo trường phái Chicago 20
1.2.2. Lý luận cạnh tranh hiện đại 23
1.2.2.1. Lý luận cạnh tranh hoàn hảo 23
1.2.2.2. Lý luận cạnh tranh của trường phái Áo 24
1.2.2.3. Lý luận cạnh tranh tổ chức ngành 26
1.2.2.4. Lý luận lợi thế cạnh tranh quốc gia 28
1.2.3. Những thay đổi của lý luận cạnh tranh trong điều kiện hiện nay 30
1.2.3.1. Những thay đổi của lý luận cạnh tranh trong bối cảnh của các xu thế
phát triển kinh tế thế giới ngày nay 30
1.2.3.2. Thay đổi từ cạnh tranh dựa vào lợi thế đến cạnh tranh dựa vào quy
chế 31
2
1.2.3.3. Thay đổi từ cạnh tranh đối kháng sang cạnh tranh hợp tác 32
1.3. Tổng quan về chính sách, pháp luật cạnh tranh 33

3.2.2. Đảm bảo điều kiện cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong
nước 78
3.2.3. Đảm bảo điều kiện cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trên thị
trường Việt Nam 79
3.2.4. Tăng sự phù hợp giữa chính sách cạnh tranh của Việt Nam với các quy định
liên quan của WTO 81
3.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật cạnh tranh của Việt Nam 83
3.3.1. Hoàn thiện quy định kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh 84
3.3.1.1. Về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 84
3.3.1.2. Về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền 85
3.3.1.3. Về tập trung kinh tế 87
3.3.2. Đối với nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh 90
3.3.3. Hoàn thiện các quy định nhằm tăng cường tính độc lập và hiệu quả của cơ
quan quản lý cạnh tranh 93
3.3.4. Hài hòa hóa pháp luật cạnh tranh với các quy định của WTO 95
Kết luận 100
Tài liệu tham khảo 1011

1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt
Tiếng Anh
Tiếng Việt
AFTA
Asean Free Trade Area
Khu vực mậu dịch tự do Asean
FDI
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Sau hơn 20 năm đổi mới nền kinh tế, Việt Nam đã ký các hiệp định hợp tác
kinh tế - thương mại với EU (năm 1995), tham gia ASEAN (1995) và Khu vực mậu
dịch tự do AFTA của ASEAN (2001), tham gia APEC (1998), Hiệp định thương
mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực (2001).
Ngày 11/1/2007, Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của WTO - tổ chức
thương mại lớn nhất toàn cầu hiện nay. Điều này trở thành cột mốc quan trọng đánh
dấu sự hội nhập sâu hơn, rộng hơn, mạnh mẽ hơn của nền kinh tế Việt Nam vào nền
kinh tế thế giới. Mặt khác, đây cũng là một thử thách to lớn vì sức ép cạnh tranh đối
với doanh nghiệp và nền kinh tế sẽ trở nên gay gắt hơn.
Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khó XI ngày 3/12/2004 đã thông qua Luật Cạnh
tranh, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/7/2005. Với 6 chương, 123 điều khoản, Luật
Cạnh tranh là một trong những văn bản luật đồ sộ và có tầm quan trọng đặc biệt
trong việc định hướng cho nền kinh tế thị trường đang hình thành. Luật Cạnh tranh
đi vào cuộc sống sẽ góp phần làm cho thị trường ngày càng lành mạnh hơn; những
hành vi độc quyền trong kinh doanh gây hậu quả tiêu cực trên thị trường, cộng đồng
và người tiêu dùng sẽ bị hạn chế. Như vậy, một chính sách, pháp luật cạnh tranh
phù hợp sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào nền kinh tế toàn cầu
thành công hơn, từ đó, đưa vị thế của nền kinh tế lên một tầm cao mới.
2. Tình hình nghiên cứu:
Đã có nhiều sách tham khảo, công trình nghiên cứu về chính sách, pháp luật
cạnh tranh của Việt Nam, như: sách tham khảo “Tiến tới xây dựng pháp luật về
cạnh tranh trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của
Nguyễn Như Phát và Bùi Nguyên Khánh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2001;
“Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam”, chủ biên Nguyễn Như
Phát/Trần Đình Hảo, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2001; “Pháp luật về kiểm soát
độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam”, Đặng Vũ Huân,
3
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004. Các đề tài nghiên cứu khoa học như: “Cơ sở

Phạm vi nghiên cứu: các hành vi cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh trên
lãnh thổ Việt Nam, chính sách, pháp luật cạnh tranh của Việt Nam và một số nước
trên thế giới.
6. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau như phương
pháp thu thập, tổng hợp, phân tích dữ liệu trên cơ sở định lượng và định tính,
phương pháp trích dẫn…
Đề tài cũng sử dụng những số liệu thống kê được lấy từ các nguồn trong và
ngoài nước, thu thập từ các trang web, tài liệu hội thảo…
7. Kết cấu của luận văn:
Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính được chia
thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về cạnh tranh và chính sách, pháp luật cạnh tranh
Chương 2: Thực trạng về chính sách và pháp luật cạnh tranh của một số nước
và Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật cạnh tranh của
Việt Nam
5
ch-ơng i: tổng quan về cạnh tranh và chính sách,
pháp luật cạnh tranh
1.1. Khỏi nim cnh tranh
1.1.1. Khỏi nim cnh tranh
Cnh tranh l hnh ng ganh ua, u tranh chng li cỏc cỏ nhõn hay cỏc
nhúm, cỏc loi vỡ mc ớch ginh c s tn ti, sng cũn, ginh c li nhun,
a v, s kiờu hónh, cỏc phn thng hay nhng th khỏc
[19]
. Cnh tranh c hiu
l hin tng t nhiờn, l mõu thun quan h gia cỏc cỏ th cú chung mt mụi
trng sng v mt iu kin no ú m cỏc cỏ th cựng quan tõm.
Thut ng cnh tranh c s dng trong nhiu lnh vc khỏc nhau nh kinh

sở hữu khác nhau. Cạnh tranh chỉ trở thành động lực phát triển khi các doanh
nghiệp đến từ các thành phần kinh tế khác nhau có sự khác biệt về chủ sở hữu vốn,
đường lối kinh doanh… nhưng cùng chung mục đích là tìm kiếm lợi ích kinh tế; ii)
cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại khi có sự tôn trọng quyền tự do kinh doanh trên
thị trường của doanh nghiệp. Sự độc lập, tự chủ, tự do trong các hoạt động của
doanh nghiệp sẽ phát huy tối đa khả năng, sức sáng tạo của doanh nghiệp, là bàn
đạp để doanh nghiệp đưa ra những đối sách hiệu quả, phù hợp để có thể thành công
trên thị trường. Tuy nhiên, nếu để quyền tự do của doanh nghiệp quá lớn sẽ tạo ra
những hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế như những hành vi cạnh tranh không lành
mạnh nên cần phải có hệ thống chính sách, pháp luật cạnh tranh để một mặt khuyến
khích khả năng sáng tạo, mặt khác phải kiềm chế được những hành vi mang tính thủ
đoạn nhằm tiêu diệt đối thủ của doanh nghiệp.
1.1.2. Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh làm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng
Ba câu hỏi lớn mà các nhà sản xuất phải tìm được câu trả lời trước khi tham
gia thị trường là sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào. Đáp án cho
ba câu hỏi này thực chất chính là người tiêu dùng: người tiêu dùng đang cần gì, số
lượng bao nhiêu, yêu cầu như thế nào. Người tiêu dùng được xem là đối tác của
7
doanh nghiệp, nếu có sự hợp tác thì doanh nghiệp thành công và ngược lại. Chính vì
vậy, doanh nghiệp phải tìm mọi cách để cho đối tác của mình hài lòng như nâng cao
chất lượng, giảm giá thành, tăng các dịch vụ kèm theo… Người tiêu dùng luôn được
lựa chọn giữa nhiều doanh nghiệp cung cấp sản phẩm khác nhau nên họ sẽ quyết
định đến với doanh nghiệp nào mà nhu cầu của họ được thỏa mãn tốt nhất và phù
hợp với khả năng tài chính của họ. Các doanh nghiệp còn muốn làm hài lòng người
tiêu dùng hơn nữa nhằm tạo sự trung thành lâu dài của người tiêu dùng với doanh
nghiệp, đảm bảo sự tăng trưởng dài hạn cho doanh nghiệp.
Cạnh tranh đảm bảo sử dụng các nguồn lực sản xuất một cách hiệu quả
Để có thể thành công trong cạnh tranh, các doanh nghiệp đều tìm cách hạ giá
thành, giảm chi phí sản xuất. Để có thể giảm được chi phí sản xuất, các doanh

1.1.3. Các hình thức biểu hiện của cạnh tranh
Trên thị trường có nhiều hình thức biểu hiện khác nhau của cạnh tranh, góc độ
nghiên cứu khác nhau thì có các hình thức biểu hiện khác nhau. Các hình thức biểu
hiện của cạnh tranh được phân loại dựa trên 3 căn cứ sau:
1.1.3.1. Căn cứ vào tính chất và mức độ can thiệp của công quyền vào đời
sống kinh tế
Cạnh tranh tự do
Cạnh tranh tự do là hình thái thị trường thoái khỏi mọi sự can thiệp của nhà
nước. Hình thái cạnh tranh tự do ra đời cùng phương thức sản xuất tư bản thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX, theo đó, giá cả được hình thành dưới sự chi phối của quan hệ
cung cầu và của các thế lực thị trường. Cạnh tranh tự do đưa ra mô hình cạnh tranh
mà ở đó các chủ thể tham gia hoàn toàn chủ động trong xây dựng và thực hiện các
chiến lược, kế hoạch kinh doanh của mình. Mô hình cạnh tranh tự do ra đời cùng
với học thuyết “bàn tay vô hình” của Adam Smith. Đây là thời kỳ không có “bàn
tay hữu hình”, nhà nước và pháp luật được xem là kẻ thù của cạnh tranh, khuyết tật
của thị trường được bùng phát và gây ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội.
9
Ngày nay, do sự khác biệt về quyền lợi, chủ sở hữu giữa các thành phần kinh
tế đòi hỏi phải có sự cân bằng, hài hòa lợi ích giữa các chủ thể tham gia hoạt động
thị trường, đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững nên sự tự do của các doanh
nghiệp bị giới hạn bằng các quy định pháp luật. Cạnh tranh tự do được thay thế
bằng cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước.
Cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước
Cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước là hình thức cạnh tranh có sự can thiệp
của nhà nước thông qua các chính sách và công cụ pháp luật nhằm điều tiết các
quan hệ cạnh tranh theo xu hướng phát triển trật tự, công bằng và lành mạnh.
Cạnh tranh tự do đã gây ra tình trạng các nguồn lực sản xuất bị khai thác tràn
lan, lãng phí; các hành vi lừa gạt, trục lợi… của các chủ thể tham gia thị trường.
“Bàn tay vô hình” chỉ có vai trò điều tiết khi mối quan hệ giữa các chủ thể là bình
đẳng và lành mạnh, trong khi thực tế để có được và duy trì được mối quan hệ này là

Cạnh tranh mang tính độc quyền là hình thức cạnh tranh sản phẩm, trong đó
mỗi doanh nghiệp đều có mức độ độc quyền nhất định do họ có sản phẩm riêng có
của mình. Mức độ độc quyền phụ thuộc vào khả năng tạo sự khác biệt giữa sản
phẩm của mình so với sản phẩm của các doanh nghiệp khác. Hình thức cạnh tranh
này tồn tại nhiều trong các sản phẩm như hóa mỹ phẩm, ô tô, may mặc…
Độc quyền nhóm là hình thức cạnh tranh xuất hiện trong một số ngành chỉ có
một số ít nhà sản xuất và các nhà sản xuất đều nhận thức được rằng giá cả sản phẩm
của mình không chỉ phụ thuộc vào sản lượng của mình mà còn phụ thuộc vào hoạt
động của các đối thủ cạnh tranh trong ngành đó. Độc quyền nhóm hình thành trong
các lĩnh vực sản xuất ô tô, xi măng, thép, caosu…
Về độc quyền, là hiện tượng tồn tại khi chỉ có một doanh nghiệp duy nhất kinh
doanh hoặc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường mà không có sự thay thế của các sản
phẩm hoặc các chủ thể kinh doanh khác. Doanh nghiệp độc quyền có thể là độc
quyền nguồn cung (độc quyền bán) hoặc độc quyền nguồn cầu (độc quyền mua)
trên thị trường. Độc quyền được hình thành từ nhiều nguyên nhân khác nhau bao
11
gồm: i) từ quá trình cạnh tranh. Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự tích lũy lợi
nhuận và các nguồn lực thị trường vào doanh nghiệp chiến thắng, bên cạnh đó là sự
ra đi của các doanh nghiệp thất bại đã hình thành nên doanh nghiệp độc quyền; ii)
từ yêu cầu về công nghệ sản xuất sản phẩm. Có những sản phẩm đòi hỏi số vốn lớn
và trình độ công nghệ cao, trong khi chỉ có một số nhà sản xuất mới đáp ứng được
yêu cầu nên khi tiến hành đầu tư họ đã tạo được thế độc quyền; iii) từ sự tồn tại của
các rào cản thị trường. Chính sách bảo hộ của nhà nước, sự trung thành của khách
hàng, doanh nghiệp có lợi thế chi phí tuyệt đối… đều là những rào cản làm hạn chế
các doanh nghiệp khác gia nhập thị trường; iv) từ sự tích tụ tập trung kinh tế. Tập
trung kinh tế diễn ra thông qua hoạt động mua lại, sáp nhập, liên doanh, hợp nhất
doanh nghiệp.
Độc quyền có vai trò thúc đẩy sự tích tụ và tập trung các nguồn lực, phát triển
về khoa học kỹ thuật; tuy nhiên độc quyền sẽ thủ tiêu cạnh tranh và gây ra những
tác động tiêu cực như người tiêu dùng bị thiệt hại, gây ra lãng phí cho xã hội do chi

điển ra đời đã đáp ứng được yêu cầu đó, đại diện cho trường phái này là chủ nghĩa
tự do kinh tế cổ điển.
Chủ nghĩa tự do kinh tế cổ điển xuất hiện chủ yếu ở Anh và Pháp, là hai nước
tư bản chủ nghĩa phát triển nhất ở thế kỷ XIX ở châu Âu. Nhưng sự phát triển của
chủ nghĩa tự do kinh tế cổ điển thực sự phát triển vào cuối thế kỷ XVIII dưới bàn
tay của Adam Smith và sau đó là các học giả tiêu biểu khác của trường phái cổ điển
đã tổng hợp thành lý luận hoàn chỉnh, trong đó có những lý luận về cạnh tranh.
1.2.1.1. Lý luận cạnh tranh của Adam Smith
Adam Smith sinh năm 1723 tại Kirkcaldy, Scotland. Năm 14 tuổi ông đã vào
học đại học ở trường đại học Glasgow, chuyên ngành triết học đạo đức, sau này ông
trở thành giáo sư triết học tại chính ngôi trường này. Tác phẩm đầu tiên của ông là
“Lý thuyết về những xúc cảm đạo đức“ xuất bản năm 1759. Tuy nhiên, tác phẩm
mang lại cho ông sự nổi tiếng và giàu có là cuốn “Của cải của các dân tộc“ được
xuất bản năm 1776. Ngược lại với cuốn “Lý thuyết về những xúc cảm đạo đức“,
13
“Của cải của các dân tộc“ giả định rằng con người hành động theo lợi ích cá nhân,
với lập luận rằng một cá nhân hành động vì bản thân sẽ đóng góp tốt cho cộng
đồng
[13, trang 56, 57]
. Adam Smith cũng là người đầu tiên nhìn thấy lợi ích từ việc có
cạnh tranh nhiều hơn và ủng hộ các chính sách thúc đẩy cạnh tranh. Điều này đòi
hỏi nhà nước giảm bớt sự can thiệp vào nền kinh tế, cũng như những hành động
ngăn chặn khuynh hướng và tình trạng độc quyền.
Adam Smith chủ trương tự do cạnh tranh. Ông cho rằng, cạnh tranh có thể
phối hợp với kinh tế một cách nhịp nhàng, có lợi cho xã hội. Cạnh tranh trong quá
trình của cải của quốc gia tăng lên chủ yếu diễn ra thông qua thị trường và giá cả,
do đó, cạnh tranh có quan hệ chặt chẽ với cơ chế thị trường. Với quan điểm lấy chủ
nghĩa cá nhân làm cơ sở, Smith nhận định rằng, trong tự do cạnh tranh, các cá nhân
chèn ép nhau khiến cho mỗi cá nhân phải thực hiện công việc của mình một cách tốt
nhất, cố gắng ở mức độ cao nhất. Cạnh tranh có thể khơi dậy nỗ lực chủ quan của

việc mở rộng thị trường và là kẻ thù của tăng trưởng kinh tế nhanh, Smith chỉ ra 4
hậu quả của độc quyền: i) dẫn tới giá cao hơn đối với người tiêu dùng, khi số lượng
doanh nghiệp càng ít và quy mô càng lớn thì họ dễ hợp lực với nhau để tăng giá; ii)
là kẻ thù với quản lý tốt, trong khi cạnh tranh buộc các nhà quản lý phải sắp xếp
công việc hiệu quả và tìm ra cách cải tiến cách quản lý thì độc quyền triệt tiêu
những tác động này; iii) doanh nghiệp độc quyền có khả năng tạo áp lực với nhà
nước để ủng hộ vị trí độc quyền của họ hơn là các doanh nghiệp cạnh tranh, điều
này có thể dẫn tới hậu quả là các bộ luật tồi, mang tính áp đặt có thể được thông
qua; iv) dẫn tới phân bổ sai nguồn lực, các nhà độc quyền có thể đặt giá cao để hoạt
động sản xuất phát triển, nguồn lực sẽ chảy vào ngành độc quyền không phải xuất
phát từ nhu cầu của thị trường, của xã hội mà chỉ vì do tình trạng độc quyền
[13, trang
61]
.
Smith có cái nhìn lạc quan về chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh theo nghĩa nó
nâng cao mức sống và làm cho mọi người giàu có lên, nhưng ông đã không nhìn
thấy mặt trái của tăng trưởng kinh tế là thất nghiệp, ô nhiễm, sự gia tăng khoảng
cách giàu nghèo Tuy nhiên, những phân tích về tác động tích cực của cạnh tranh
và sự điều tiết của thị trường trong sự vận hành kinh tế vẫn có giá trị lý luận lớn cho
đến thời đại ngày nay.
15
1.2.1.2. Lý luận cạnh tranh của John Stuart Mill
John Stuart Mill sinh năm 1806 tại London, là một nhân vật chuyển tiếp quan
trọng trong kinh tế học. Mặc dù ông được xem là một phần của trường phái cổ điển
nhưng trên những phương diện khác, ông là bậc tiền bối quan trọng của trường phái
biên bắt đầu nổi lên vào cuối thế kỷ XIX
[13, trang 106]
.
Với rất nhiều tác phẩm như “Hệ thống logic“ (1843), “Các nguyên lý của Kinh
tế chính trị học“ (1848), “Bàn về tự do“ (1859), “Chủ nghĩa công lợi“ (1863) , Mill

thì tốt hơn chính phủ làm; ii) làm những việc tuy để cá nhân làm thì chưa hẳn đã tốt
bằng giao cho quan chức chính phủ làm, nhưng nếu xét về tinh thần cá nhân thì để
họ làm những việc ấy thì có thể tăng cường năng lực chủ động, rèn luyện năng lực
phán đoán của họ; iii) làm những việc không cần thiết để gia tăng quyền lực, có khả
năng xảy ra tai họa, đây là trường hợp dễ bị phản đối nhất.
Trong tác phẩm “Bàn về tự do“, Mill đã một lần nữa lập luận về quan điểm tự
do của ông là thị trường tự do là tốt đẹp, chủ yếu bởi vì nó cho phép mỗi cá nhân
phát triển tối đa, trong khi đó, trước ông, Adam Smith ủng hộ thị trường tự do vì nó
tối đa hóa đời sống vật chất.
1.2.1.3. Lý luận cạnh tranh của Karl Mark
Karl Mark sinh năm 1818 trong một gia đình trung lưu Do thái ở Trier, Đức.
Sau khi tốt nghiệp đại học, ông đã say sưa nghiên cứu triết học, đặc biệt là triết học
Hegel. Trong 33 năm cuối đời thì ông lại dành hết thời gian cho kinh tế học. Những
nghiên cứu của ông chủ yếu về sự vận hành của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và
phân tích những vấn đề nảy sinh trong chủ nghĩa tư bản
[13, trang 114]
.
Karl Mark không có lý luận cạnh tranh riêng mà quan điểm về cạnh tranh của
ông được thể hiện xuyên suốt trong lý luận về giá trị, tư bản, giá trị thặng dư. Theo
ông, sự ra đời và tồn tại của cạnh tranh phải dựa vào hai điều kiện là phân công xã
hội và chủ thể lợi ích đa nguyên. Trong đó, phân công xã hội là sản phẩm tất yếu
của sự phát triển của xã hội loài người tới một giai đoạn nhất định, có phân công xã
hội thì có trao đổi, thị trường và có cạnh tranh. Sự tồn tại chủ thể lợi ích đa nguyên
quyết định mỗi chủ thể có lợi ích kinh tế riêng, việc theo đuổi lợi ích riêng ấy tạo
nên động lực cạnh tranh. Cạnh tranh gây ra sự tác động qua lại lẫn nhau giữa những
17
nhà tư bản có lợi ích riêng, từ đó điều tiết sự phân phối tư bản và các tài nguyên
kinh tế - xã hội giữa các ngành sản xuất khác nhau, làm cho giá cả dao động, thúc
đẩy phát triển kỹ thuật sản xuất, thay đổi kết cấu tổ chức kinh tế, thúc đẩy lực lượng
sản xuất phát triển và nền kinh tế - xã hội tăng trưởng.

dụng kỹ thuật mới, giảm chi phí xản xuất, nâng cao năng suất lao động. Năng suất
lao động lại do trình độ kỹ thuật sản xuất, quy mô sản xuất và mức độ mở rộng Sản
xuất kinh doanh quyết định. Kết quả làm cho tư bản, sức lao động không ngừng di
chuyển từ ngành này (ngành có lợi nhuận thấp) sang ngành khác (ngành có lợi
nhuận cao), cạnh tranh cũng phát triển từ cạnh tranh trong nội bộ ngành sang cạnh
tranh giữa các ngành. Cạnh tranh càng phát triển, các loại tài nguyên kinh tế xã hội
càng không ngừng được phân phối lại, không ngừng điều chỉnh và tối ưu hóa kết
cấu ngành, kết cấu lao động, từ đó thúc đẩy tập trung sản xuất và tích lũy tư bản.
- Cạnh tranh là cơ chế điều tiết việc phân phối lợi nhuận. Sự phân chia giá trị
thặng dư giữa các nhà tư bản chịu tác động bởi cơ chế cạnh tranh, tác dụng của cơ
chế cạnh tranh lại chịu ảnh hưởng bởi sự bình quân hóa lợi nhuận. Quá trình bình
quân hóa lợi nhuận cũng là quá trình cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh
giữa các nhà tư bản chia nhau và chiếm hữu giá trị thặng dư.
Lý luận cạnh tranh của Karl Mark được nghiên cứu trong thời kỳ chủ nghĩa tư
bản cạnh tranh tự do. Chính vì vậy, cạnh tranh tư bản chủ nghĩa gắn chặt với tình
trạng sản xuất vô chính phủ. Do bối cảnh lịch sử nên nghiên cứu của Karl Mark vẫn
có những hạn chế nhất định. Ông dường như đã đánh giá thấp tính linh động của hệ
thống tư bản và khả năng thay đổi nhằm cứu vãn chính bản thân nó. Ông cũng đánh
giá thấp khả năng một chính phủ dân chủ xuất hiện từ cuộc xung đột giữa tư bản và
lao động, và đưa ra những chính sách nhằm xoa dịu những khía cạnh nghiệt ngã, đôi
khi thối nát của chủ nghĩa tư bản. Dù vậy, Karl Mark cùng với Adam Smith và John
Maynard Keynes vẫn được coi là 3 nhân vật vĩ đại nhất trong lịch sử kinh tế học.
1.2.1.4. Lý luận cạnh tranh của John Bates Clark
John Bates Clark sinh năm 1847 tại Provindence, Rhode Island. Trong thời
gian giảng dạy kinh tế học tại Đại học Columbia, ông đã tham gia thành lập Hiệp
hội Kinh tế Mỹ, hiện nay là tổ chức lớn nhất và danh giá nhất trên thế giới, sau này
ông cũng trở thành chủ tịch của Hiệp hội. Clark là một trong số những người phát
19
hiện ra một cách độc lập ý niệm lợi ích biên và năng suất biên vào cuối thế kỷ XIX.
Ông cũng nghiên cứu tác động của những hãng độc quyền lớn và những công đoàn

độc quyền thì người tiêu dùng và liên đoàn lao động sẽ cố gắng dùng luật pháp và
tòa án để đòi giảm giá và phá vỡ tình trạng độc quyền. Tuy nhiên, ông cũng nhận ra
rằng trong quá trình độc quyền, một vài nhà sản xuất có thể đặt mức giá của họ thấp
hơn chi phí sản xuất. Đây là một trong những hành động nhằm đẩy đối thủ cạnh
tranh ra khỏi ngành và tiến tới thâu tóm sức mạnh độc quyền và thu được lợi nhuận
cao hơn trong tương lai. Khi việc làm này được tiến hành trong nước thì được gọi là
“đặt giá thôn tính“, khi do một hãng sản xuất nước ngoài thực hiện thì được gọi là
“bán phá giá“. Để giải quyết vấn đề này cần phải ngăn chặn các phương pháp cạnh
tranh không công bằng.
Một chủ đề xuyên suốt nghiên cứu kinh tế học của J. B. Clark là tầm quan
trọng của cạnh tranh giữa các hãng. Ông cho rằng cạnh tranh là cần thiết để bảo
đảm rằng mọi người đều được trả phần mà họ đóng góp trong quá trình sản xuất và
rằng chúng ta đều có phần phân phối thu nhập công bằng; cạnh tranh cũng là cần
thiết để kiềm chế các hãng lớn lạm dụng sức mạnh kinh tế của họ.
Mặc dù những thành tựu của Clark chưa đưa ông lên ngang hàng với các nhà
kinh tế trường phái cận biên châu Âu, nhưng ông vẫn là nhà kinh tế học Mỹ xuất
sắc nhất cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Châu Âu là trung tâm của tư tưởng kinh
tế trong thời đại Clark sống và làm việc, nhưng Clark vẫn là người đứng đầu các
nhà kinh tế học tiêu biểu của Mỹ mà sau này đã trở lên rất hùng hậu.
1.2.1.5. Lý luận cạnh tranh theo trường phái Chicago
Hoa Kỳ bắt đầu thực hiện việc kiểm soát tập trung kinh tế từ hơn 100 năm
nay. Hoa Kỳ l
Hoa Kỳ
(anti trust: kiểm soát, khống chế độc quyền và phá bỏ cản trở cạnh tranh).
Sau Chiến tranh thế giới thứ II, tư tưởng chống Trust đã mau chóng phổ biến
sang Anh, Pháp và các nước bại trận. Đạo luật Sherman của Mỹ năm 1890, và một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status