Triển vọng hình thành cộng đồng kinh tế đông á và tác động của nó tới sự phát triển của việt nam - Pdf 13

Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới
Đề tài khoa học cấp nhà nước KX.01.06/06-10
TRIỂN VỌNG HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ĐÔNG Á VÀ
TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM
(Báo cáo tổng hợp)
Chủ nhiệm: PGS. TS. Lưu Ngọc Trịnh


CEP : Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện
CEPEA : Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Đông Á
CJKFTA : Hiệp định Thương mại Tự do Trung Quốc-Nhật Bản-Hàn
Quốc
CGE : Mô hình cân bằng tổng thể có thể tính toán được
CLMV : Campuchia, Lào, Myanma, Việt Nam
CMI : Sáng kiến Chiang Mai
EAEC : Cộng đồng Năng lượng Nguyên tử châu Âu
EAFTA : Khu vực Thương mại Tự do Đông Á

EAS : Hội nghị Cấp cao Đông Á
EAVG : Nhóm Tầm nhìn Đông Á
EC : Cộng đồng châu Âu
ECSC : Cộng đồng Than Thép Châu Âu
EEC : Cộng đồng Kinh tế châu Âu
EHP : Chương trình thu hoạch sớm
EL : Danh mục loại trừ
EMEAP : Hội nghị các cán bộ điều hành của Ngân hàng trung ương
khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
EMU : Liên minh Tiền tệ châu Âu
EPA : Hiệp định đối tác kinh tế
EPG : Nhóm Nhân vật Nổi tiếng
EPU : Liên minh Nghị viện châu Âu
ERIA : Viện nghiên cứu Kinh tế ASEAN và Đông Á
EU : Liên minh châu Âu
EVSL : Tự nguyện tự do hóa sớm theo lĩnh vực
EWEC : Hành lang Kinh tế Đông-Tây
FEALAC : Diễn đàn Hợp tác Đông Á - Mỹ Latinh
G7 : Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển
G20 : Nhóm 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH

Trang

BẢNG

Bảng 2-1: Tỷ trọng thương mại nội vùng trong tổng giá trị thương
mại của khu vực thời kỳ 1986-2006
20

Bảng 2-2: Quan hệ thương mại của các nước ASEAN và các nước
Đông Bắc Á
21

Bảng 7.1: Các lựa chọn hội nhập khu vực (I) 158

Bảng 7.2: Các lựa chọn hội nhập khu vực (II) 159

Bảng 7.3: Xếp hạng mức độ phát triển cơ sở hạ tầng “cứng” của các
nước Đông Á trên toàn thế giới
171

Bảng 7.4: So sánh các đặc trưng hậu cần của các nước/lãnh thổ ở
GMS
171


công nghệ và sự dịch chuyển đan xen lẫn nhau của các dòng vốn và nhân lực.
Cùng với việc các nền kinh tế quốc gia có quan hệ đan xen và ràng buộc chặt
chẽ lẫn nhau và nền kinh tế thế giới ngày càng trở thành một thực thể thống
nhất, thì các khối kinh tế khu vực cũng hình thành và cạnh tranh lẫn nhau,
khiến cho các nền kinh tế ngoài khối bị tác động không nhỏ và không thể thờ
ơ.
Sau nhiều năm chậm chân so với các khu vực châu Âu và Bắc Mỹ trong
việc hình thành các khối kinh tế được kết cấu chặt chẽ về mặt thể chế, gần đây,
ở Đông Á (gồm cả Đông Bắc và Đông Nam Á) đang có những chuyển động
hết sức mạnh mẽ và nhanh chóng để tiến đến các việc hình thành các khối
kinh tế dưới các dạng khác nhau và ở các cấp độ và phạm vi liên kết chăt chẽ
khác nhau (từ song phương đến nhóm nước và toàn khu vực, từ thương mại
thuần tuý đến chỗ hợp tác kinh tế toàn diện, từ lỏng lẻo đến chỗ dần dần hình
thành các khối kinh tế được gắn kết chặt chẽ lẫn nhau về mặt thể chế và hoạt
động như một thực thể độc lập. Tiêu biểu trong số đó có xu hướng tiến đến
2

hình thành một khối kinh tế toàn khu vực gọi là Cộng đồng Kinh tế Đông Á.
Nhiều năm qua, Việt Nam đã từng bước hội nhập vào nền kinh tế quốc tế
và khu vực và nhờ đó đã thúc đẩy được sự phát triển nhanh chóng của nền
kinh tế. Đứng trước trào lưu hợp tác kinh tế mới trong khu vực, Việt Nam cần
có sự nghiên cứu khẩn trương và cẩn thận, hiểu rõ được thực tế, biết được
những thuận lợi và khó khăn mà thực thể đó gây ra, để có thể không những
thích ứng (tận dụng được những lợi thế mà Khối đó mang lại và hạn chế được
những khó khăn mà khối đó tạo ra để có thể tiếp tục phát triển bền vững), mà
còn chủ động tham gia tích cực vào quá trình hình thành và phát triển của
khối này trong tương lai.
Ý tưởng nghiên cứu đề tài "Triển vọng hình thành Cộng đồng Kinh tế
Đông Á và tác động của nó đến sự phát triển của Việt Nam" được hình thành
trong bối cảnh như thế.

1
Báo cáo này, khi bàn đến hội nhập kinh tế ở Đông Á nói
chung, sẽ sử dụng cách hiểu Đông Á giống như trong kinh tế và kinh doanh.

1
Song, cần lưu ý rằng, nếu theo các cách tiếp cận khác (địa lý, văn hóa, nhân chủng học,
địa chính trị, …), có thể có những cách xác định khác về phạm vi của Đông Á. Thậm chí
cùng theo một cách xác định thì ở mỗi tổ chức hoặc ở mỗi nước, Đông Á lại cũng có thể
được hiểu khác nhau.
4

Tuy nhiên, cần lưu ý là Hội nghị Cấp cao Đông Á - là cơ chế mà từ đó
Cộng đồng Kinh tế Đông Á tương lai được xây dựng nên - lại có những thành
viên nằm ngoài khu vực Đông Á theo cách hiểu trên như Ấn Độ, Australia,
New Zealand (thành viên chính thức) và Nga (quan sát viên).

I.3.2. Cộng đồng kinh tế
Cộng đồng thường được hiểu là một tập thể cá nhân tồn tại trong cùng một
môi trường; có chung những mối quan tâm, những lợi ích, những quan niệm,
những nhận thức, những giá trị quan, những kế hoạch; chịu chung các tác động
tới tính thống nhất của tập thể; có ý thức cộng đồng; cùng ra quyết định chung.
Cộng đồng kinh tế là cộng đồng của hai hay nhiều nền kinh tế. Trong thế
kỷ 20, các khối kinh tế tự nhận là cộng đồng được thành lập đầu tiên có lẽ là
Cộng đồng Than Thép châu Âu (European Coal and Steel Community, thành
lập vào năm 1952), Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu (European
Atomic Energy Community, 1957), Cộng đồng Kinh tế châu Âu (European
Economic Community, 1957). Những cộng đồng kinh tế này được thành lập
trên nguyên tắc của chủ nghĩa siêu quốc gia (supranationalism). Chủ nghĩa siêu
quốc gia là phương thức ra quyết định của cộng đồng các quốc gia, trong đó
quyền lực được ủy nhiệm cho một thể chế do các chính phủ các nước thành viên

tế Đông Á. Phần đánh giá về tác động của Cộng đồng tới kinh tế Việt Nam
chủ yếu mới dừng ở tầm vĩ mô.
Hội thảo quốc tế "Hướng tới Cộng đồng Đông Á: Cơ hội và thách thức"
do Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia Hà
Nội, tổ chức tại Hà Nội tháng 9 năm 2005. Hội thảo này chủ yếu đề cập đến
Cộng đồng Đông Á nói chung, chứ không phải là chuyên về Cộng đồng Kinh tế
Đông Á, và trên thực tế đây là diễn đàn để các đại biểu (phần lớn là nước ngoài)
nêu ra các quan điểm sơ bộ của mình về hợp tác Đông Á và những cơ hội và
thách thức đối với các nước Đông Á, chứ không riêng gì của Việt Nam, nếu một
Cộng đồng Đông Á được hình thành trong tương lai. Trừ tham luận của
PGS.TS. Nguyễn Xuân Thắng (Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới), còn hầu hết
các tham luận còn lại đều bàn chủ yếu đến những khía cạnh văn hóa, lịch sử và
giá trị Đông Á mà chưa chú ý đến sự hợp tác kinh tế Đông Á hiện tại và các vấn
đề liên quan đến Cộng đồng kinh tế Đông Á trong tương lai.
Hội thảo quốc tế "Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc trong bối cảnh
hội nhập Đông Á" do Viện nghiên cứu Đông Bắc Á (Viện Khoa học xã hội Việt
Nam) tổ chức tại Bắc Ninh tháng 12 năm 2003 mới đề cập chủ yếu đến quan hệ
hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Hàn Quốc hiện nay và triển vọng. Đề tài khoa
học cấp bộ do Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á chủ trì, TS. Trần Quang Minh làm
chủ nhiệm về “Quan điểm của Nhật Bản về liên kết Đông Á trong bối cảnh
toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế” công bố năm 2007 chủ yếu đề cập
đến quan điểm và hoạt động hội nhập Đông Á của Nhật Bản. Còn về hợp tác
7

kinh tế ở khu vực Đông Bắc Á, thì hội thảo và đề tài trên mới chỉ đề cập đến
như là một môi trường tác động đến mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước
Việt Nam và Hàn Quốc, còn Cộng đồng kinh tế Đông Á hầu như chưa được đề
cập gì.
Tiếp cận chủ đề liên kết Đông Á qua hướng nghiên cứu về hợp tác
ASEAN+3 có đề tài cấp bộ do Viện nghiên cứu Đông Nam Á (Viện Khoa học

ninh, hay giá trị Đông Á hoặc quan hệ hợp tác kinh tế song phương giữa hai
nước nào đó trong khu vực, chứ Cộng đồng kinh tế Đông Á như là một thực thể
độc lập (hình thành, tiến triển và tác động như thế nào trong tương lai) chưa
được hầu hết các công trình đề cập. Do đó, có thể nói, trong khoảng 5 năm qua,
Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới (Viện Khoa học xã hội Việt Nam) không
những là một trong những Viện đi tiên phong mà còn là Viện nghiên cứu một
cách khá tập trung, toàn diện và cụ thể quá trình hợp tác kinh tế Đông Á và việc
hình thành và mô hình Cộng đồng kinh tế Đông Á trong tương lai và sự tác
động của nó. Trên thực tế, Viện đã đạt được những kết quả nghiên cứu bước đầu
khá tích cực và cụ thể.
9I.5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Cách tiếp cận của đề tài này là đặt sự phát triển của khu vực Đông Á nói
chung, của Cộng đồng Kinh tế Đông Á nói riêng, trong sự phát triển chung của
thế giới, trong dòng xoáy của xu thế toàn cầu hoá, của nền kinh tế tri thức đang
diễn ra một cách mạnh mẽ, từng ngày, từng giờ tác động (cả tích cực lẫn tiêu
cực) đến sự phát triển của các quốc gia, dân tộc. Trước tiên, cần giải quyết được
những cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình hợp tác kinh tế Đông Á để thấy
được tính tất yếu và hợp lý của quá trình này và hướng tiến triển của một khối
kinh tế ở khu vực Đông Á trong tương lai. Đề tài xem xét sự tiến triển của hợp
tác kinh tế Đông Á nói chung và Cộng đồng Kinh tế Đông Á nói riêng trong
chính sách và chiến lược khu vực và toàn cầu của các nước lớn và nhóm nước,
như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, EU, và ASEAN, để thấy được vai trò của các
nước này trong việc hình thành Cộng đồng kinh tế Đông Á, cũng như tính phức
tạp của sự tiến triển của sự hợp tác Đông Á cũng như của Cộng đồng này. Chỉ
có dựa trên những cơ sở đó, mới có thể vạch ra được lộ trình và hình dung được
mô hình tương lai có thể của Cộng đồng kinh tế Đông Á. Khi đánh giá về tác
động tới sự phát triển của Việt Nam, đề tài đã xuất phát từ lợi ích quốc gia và

của các chuyên gia, hiểu kỹ hơn quan điểm của các nước và làm sâu sắc và hoàn
chỉnh hơn quan điểm của Việt Nam về hợp tác kinh tế Đông Á và Cộng đồng
Kinh tế Đông Á. Đồng thời, đề tài đã tiến hành khảo sát tại một vài địa phương
trong nước (Hải Phòng, Quảng Ninh, Lào Cai, thành phố Hồ Chí Minh) để tìm
hiểu nhu cầu và thực tiễn liên kết khu vực của các địa phương và doanh nghiệp,
trao đổi ý kiến với các nhà khoa học về đề tài.

I.6. Nội dung của báo cáo này
Ngoài phần giới thiệu này, Báo cáo tổng hợp của đề tài bao gồm sáu
phần.
Phần 1 sẽ phân tích những nhu cầu (tức là những nhân tố thôi thúc thành
lập Cộng đồng) và những điều kiện (tức là những yếu tố mà thiếu nó thì việc
thành lập Cộng đồng sẽ gặp trở ngại).
Phần 2 sẽ trình bày những thuận lợi và khó khăn đối với việc hình thành
Cộng đồng Kinh tế Đông Á.
Phần 3 trình bày vai trò của các nền kinh tế quốc gia đối với sự hình
thành Cộng đồng Kinh tế Đông Á, trước hết là vai trò của các khối và nước
dự kiến là thành viên của Cộng đồng (ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung
Quốc, Ấn Độ, Australia và New Zealand), tiếp đó là vai trò của Hoa Kỳ và
Liên minh châu Âu. Quan điểm của mỗi một nước, khối về liên kết kinh tế
Đông Á nói chung và Cộng đồng Kinh tế Đông Á nói riêng sẽ được xem xét.
Đồng thời, sự đóng góp của mỗi nước, khối vào việc hình thành Cộng đồng sẽ

12
được trình bày. Ngoài ra, quan hệ giữa APEC và Cộng đồng Kinh tế Đông Á
cũng sẽ được xem xét và trình bày ở cuối phần này.
Phần 4 khái quát về lộ trình và dự báo một số đặc điểm chủ yếu của mô
hình của Cộng đồng Kinh tế Đông Á.
Phần 5 bàn về những tác động có thể của việc hình thành Cộng đồng
Kinh tế Đông Á tới thế giới, khu vực và đặc biệt là tới sự phát triển của Việt


14

Bảng 2-1: Tỷ trọng thương mại nội vùng trong tổng giá trị thương mại của khu vực thời kỳ 1986-2006.
(Đơn vị: %)
Khu vưc 1980 1985 1990 1995 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
ASEAN+3 30,2

30,2

29,4

37,6

37,3

37,1

37,9

39,0

39,2

38,9

38,3

ASEAN+3+Hong
Kong+Đài Loan

40,5

40,6

41,3

423,4

43,0

43,1

42,6

ASEAN+6+Hong
Kong+Đài Loan
40,5

42,7

46,3

54,5

54,6

54,5

56,3


Mercosur 11,1

7,2

10,9

19,2

20,3

17,9

13,6

14,7

15,2

15,5

15,7

EU cũ 60,7

59,8

66,2

64,2


67,6

66,2

65,8

Nguồn: Kawai, Masahiro & Ganeshan Wignarja (2007), “ASEAN+3 or ASEAN+6: Which Way Forward?” ADBI discussion paper 77.
Ghi chú:
- NIE-4 là 4 nước công nghiệp mới châu Á (Hàn Quốc, Đài Loan, Hong Kong, Singapore);
- ASEAN+3 là toàn bộ khối ASEAN và Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc;
- ASEAN+6 là ASEAN+3 và Austrlia, New Zealand, Ấn Độ.

15
Bảng 2-2: Quan hệ thương mại của các nước ASEAN và các nước Đông
Bắc Á
(Đơn vị: %)
Nhật Bản Hàn Quốc Trung Quốc Ba nước Đông Bắc ÁXK

NK

XK

NK

XK

NK


3,94

19,40

29,12

Singapore

7,34

16,42

3,47

3,42

3,79

5,04

14,60

24,88

Thái Lan 15,68

25,93

1,95


14,12

2,33

12,06

6,71

11,00

27,07

37,18

Nguồn: Theo The International Centre for the Study of East Asian Development, 2002.
Ghi chú: XK là xuất khẩu; NK là nhập khẩu.

Đông Á còn mang sắc thái nội ngành khá rõ rệt. Thương mại nội ngành theo
chiều dọc, đặc biệt trong các sản phẩm chế tạo được mở rộng nhanh chóng.
Hiện nay, phần lớn trao đổi thương mại các sản phẩm chế biến nội vùng ở
Đông Á là theo chiều dọc và theo bản chất nội ngành. Các công ty đa quốc gia
đã tạo ra các loại hình thương mại như vậy thông qua các hoạt động đầu tư
định vị các quy trình sản xuất khác nhau ở các nước khác nhau theo năng lực
công nghệ và lợi thế so sánh về các đầu vào sản xuất. Đó chính là nhân tố
thúc đẩy thương mại nội ngành đối với các phụ tùng, phụ kiện, bán thành
phẩm và thành phẩm trên khắp các nước trong khu vực.

II.1.1.2. Đầu tư nội bộ khu vực
Tỷ trọng FDI nội vùng vào Đông Á so với tổng vốn FDI vào Đông Á

Tức ASEAN không bao gồm Singapore.
3
Ma, Hong (2005), “On Economic Cooperation in East Asia,” 17
từ Nhật Bản, trong khi 18% đến từ EU và 16% từ Mỹ. Ở Trung Quốc, Mỹ
chiếm 10% dòng chảy FDI vào, trong khi EU và Nhật Bản lần lượt chiếm
8,3% và 6,2%. Các nước công nghiệp mới châu Á, trong đó có Hong Kong,
chiếm khoảng 55% dòng chảy FDI vào Trung Quốc.
Như vậy, bên cạnh các nhà đầu tư từ Mỹ và EU, các nước Đông Á đang
có vai trò lớn hơn với tư cách là nhà đầu tư FDI vào khu vực. Hiện nay, Nhật
Bản là nhà đầu tư lớn nhất ở ASEAN. Đồng thời, các NIE và một số nước
ASEAN có thu nhập trung bình và Trung Quốc đang trở thành các nhà đầu tư
tích cực hơn trong khu vực.

II.1.1.3. Các yếu tố thúc đẩy thương mại và đầu tư nội bộ khu vực
Có một số yếu tố nằm sau sự mở rộng thương mại và đầu tư vốn là nhân
tố chính thúc đẩy liên kết kinh tế Đông Á trong thời gian vừa qua.
Thứ nhất, các nền kinh tế Đông Á theo đuổi tự do hóa thương mại và đầu
tư như một phần của chính sách thương mại và đầu tư hướng ngoại trong
khuôn khổ đa phương của GATT/WTO và chủ nghĩa khu vực mở thông qua
APEC. Một vài vòng đàm phán tự do hóa của GATT đã làm giảm các rào cản
thuế quan và phi thuế quan đối với thương mại trên nền tảng bền vững. Một
điểm chủ chốt là khu vực đã tránh được các thực tiễn đối xử thương mại phân
biệt. Quá trình APEC đã thành công trong việc thúc đẩy Trung Quốc cũng
như Đài Loan trong việc theo đuổi tự do hóa thương mại và đầu tư bên ngoài
khuôn khổ WTO. Với áp lực cạnh tranh từ bên ngoài, các nền kinh tế đã theo
đuổi các cải cách kinh tế bổ trợ ở trong nước theo hướng thị trường và mở
cửa.


4
Rajan, Ramkishen S. (2007), “Chapter 13: Intra-Developing Asia FDI Flows:
Magnitudes, Trends, and Determinants,” in Hadi Soesastro edited (2007), “Deepening
Economic Integration in East Asia,” ERIA Research Project Report 2007, No. 1-2.

19
phẩm chế tạo cuối cùng. Quan hệ thương mại này tồn tại ngay cả giữa những
nước có khoảng cách địa lý lớn. Tác động quan trọng của cuộc cách mạng này
là nó thúc đẩy sự tham gia thương mại của khu vực theo cách nó phản ánh các
giai đoạn phát triển công nghiệp của các nền kinh tế riêng lẻ. Mạng lưới sản
xuất khu vực đã tạo ra tam giác thương mại Nhật Bản - Đông Á - Bắc Mỹ.
Trong tam giác này, Nhật Bản có vai trò là người cung cấp vốn và kỹ thuật
cho các nước; các nước Đông Á xuất khẩu hàng hóa tiêu dùng tới Bắc Mỹ;
còn Bắc Mỹ là thị trường tiêu thụ hàng xuất khẩu quan trọng của cả Nhật Bản
và Đông Á.
5, 6

Có thể khẳng định, mạng sản xuất khu vực là hình thức chính của sự liên
kết kinh tế khu vực.
Các mạng sản xuất Đông Á đã xuất hiện chủ yếu dựa trên ba yếu tố là sự
khác biệt về tiền lương lớn giữa các nước trong khu vực, chi phí thương mại
thấp, tính kinh tế theo quy mô và vị trí công ty.
Sự khác biệt về tiền lương giữa các nước là lực lượng dẫn dắt thúc đẩy
cơ chế chia sẻ sản xuất ở Đông Á. Dòng vốn và công nghệ giữa các nước đã
bổ sung cho sự chia sẻ sản xuất và cho phép các công ty mở rộng thuê ngoài
(out-sourcing) toàn cầu và mở rộng mạng lưới sản xuất khu vực. Giảm chi phí
thương mại làm tăng động cơ mở rộng hơn nữa dòng thương mại, vốn và ý
tưởng xuyên biên giới. Điều này ngược hẳn với những gì thế giới chứng kiến
trong những năm 1960, 1970 và đầu những năm 1980 khi dòng thương mại và

tăng thương mại trong các chuỗi cung ứng kết nối các nước lại với nhau. Tuy
nhiên, sự chia sẻ sản xuất có thể diễn ra giữa nhiều nước. Trong chế tạo hàng
dệt may chẳng hạn, các công ty đa quốc gia có thể sử dụng cúc áo của một
nước, vải của nước thứ hai và cắt may ở một nước thứ ba. Ở đâu mạng sản
xuất dày đặc, ở đó thuê ngoài toàn cầu có thể đặc biệt nhạy cảm với các hàng
rào thuế quan xuyên biên giới, bởi vì trong một chuỗi cung ứng, các đầu vào
có thể phải chuyển dịch qua nhiều biên giới. 7
Yi, Kei-Mu (2000), “Can vertical specialization explain the growth of world trade?”
New York Federal Reserve Bank staff report.
8
Hanson G., Mataloni R., and Slaughter M. (2005), “Vertical Production Networks in
Multinational Firms,” Review of Economics and Statistics 87, 664-678.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status