Nghiên cứu về phát triển làng nghề và đề xuất định hướng giải pháp phát triển thương mại làng nghề việt nam - Pdf 13


B CễNG THNG
VIN NGHIấN CU THNG MI

TI KHOA HC CP B
M S: 078.10.RD BO CO TNG HP

Nghiên cứu về phát triển làng nghề và đề
xuất định hớng, giải pháp phát triển thơng
mại tại làng nghề Việt Nam
Ch nhim ti: TS. T Thanh Thy

8530

CN. Bựi Thanh Thy
CN. Ngụ Th Nhung
CN. T Qunh Chõu
CN. Tiờu Hi Võn

H NI, 12 2010

MỤC LỤC

Trang

Mở đầu 1

Chương I: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về làng nghề và
thương mại của các làng nghề
6
1.1. Khái quát về làng nghề và vai trò của làng nghề trong phát
triển kinh tế xã hội
6
1.1.1. Khái niệm và phân loại làng nghề 6
1.1.2. Vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế - xã hội 8
1.2. Đặc điểm trong hoạt động thương mại của các làng nghề Vi
ệt
Nam
10
1.2.1 Đặc điểm hoạt động thương mại của các làng nghề quy mô nhỏ 10
1.2.2 Đặc điểm hoạt động thương mại của các làng nghề quy mô lớn 11

nghề và thương mại của các làng nghề
51
2.3.1 Những thuận lợi 51
2.3.2 Những khó khăn, hạn chế 52
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại 55
Chương III: Giải pháp phát triển làng nghề và thương mại tại
các làng nghề Việt Nam đến năm 2020
56
3.1 Quan điểm, định hướng phát triển làng nghề và thương mại
của các làng nghề Việt Nam trong thời gian tới
56
3.1.1 Xu hướng phát triển làng nghề và thương mại của các làng nghề
Việt Nam trong thời gian tới
56
3.1.2 Quan điểm phát triển làng nghề và thương m
ại của các làng nghề
trong thời gian tới
58
3.1.3 Định hướng phát triển làng nghề và thương mại của các làng nghề 61
3.2 Các giải pháp từ phía Nhà nước 66
3.2.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý có liên quan đến phát triển làng
nghề và thương mại của các làng nghề
66
3.2.2 Tập trung xây dựng quy hoạch phát triển làng nghề và vùng
nguyên liệu cho làng nghề
71
3.2.3 Tập trung giải quyết yêu cầu về mặt bằng cho các doanh nghiệp
làng nghề
72
3.2.4 Tăng cường giả

XNK Xuất nhập khẩu
TCTT Thủ công truyền thống
LNTT Làng nghề truyền thống
Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
UBND Ủy ban nhân dân
FSC Uỷ ban an ninh rừng của Mỹ và Châu Phi
JICA Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
DNTN Doanh nghiệp tư nhân
Công ty TNHH Công ty Trách nhiệm hữu hạn
DNV&N Doanh nghiệp vừa và nhỏ
DNNN Doanh nghiệ
p nhà nước
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thuế VAT Thuế Giá trị gia tăng
SHCN Sở hữu công nghiệp
TCCP Tiêu chuẩn cho phép
TCXD Tiêu chuẩn xây dựng
HTX Hợp tác xã
HĐH - CNH Hiện đại hóa – công nghiệp hóa
TCMN Thủ công mỹ nghệ
CCNLN Cụm công nghiệp làng nghề

1
MỞ ĐẦU

1- Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài :

phát triển ngành nghề nông thôn như Chương trình phát triển “Mỗi làng một nghề” giai
đoạn 2006 - 2015 (năm 2005); Nghị định 66/2006/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông
thôn, trong đó nhấn mạnh chươ
ng trình bảo tồn, phát triển làng nghề bao gồm: bảo tồn phát
triển làng nghề truyền thống, phát triển làng nghề gắn với du lịch, phát triển làng nghề mới,
phong tặng nghệ nhân ưu tú, nghệ nhân nhân dân, thương hiệu làng nghề thủ công nổi tiếng
cho những đơn vị, cá nhân có công bảo tồn, phát triển ngành nghề thủ công truyền thống,
ngành nghề mới ở nông thôn nước ta.
Bên cạnh những thành tựu, hiện nay làng nghề
Việt Nam đang gặp phải một số khó
khăn như cơ sở vật chất còn thiếu thốn, vốn đầu tư thấp, chậm ứng dụng khoa học công
nghệ, chưa chủ động tìm kiếm thị trường. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái, ảnh

2
hưởng đến kinh tế trong nước, cùng với tình hình xuất khẩu có dấu hiệu giảm, các làng
nghề đã gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, vào giữa năm 2008, các ngân hàng thương mại thực
hiện chủ trương siết chặt tiền tệ, tín dụng, khiến nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp làng
nghề đã thiếu càng trở nên thiếu hơn. Cho đến thời điểm hiện nay, dù lãi suất cho vay hiện
nay đã gi
ảm nhưng chưa có nhiều doanh nghiệp làng nghề tiếp cận được với nguồn vốn
ngân hàng bởi thủ tục cho vay còn phức tạp; thời hạn cho vay chưa phù hợp với quy trình
sản xuất của mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống, đồng vốn chưa kịp quay vòng thì
các doanh nghiệp đã phải lo tiền trả ngân hàng. Thị trường cho các mặt hàng truyền thống
này đang ngày càng nhỏ lại bở
i tình hình kinh tế khó khăn, đơn hàng xuất khẩu sụt giảm.
Nhiều hợp đồng đã ký kết bị huỷ bỏ. Sức tiêu thụ trên thị trường trong nước chậm lại khiến
sản xuất đình trệ, thu nhập giảm sút. Một số lao động nơi đây bỏ làng đi tìm việc làm nơi
khác, không còn thiết tha tới việc học hỏi và bảo tồn nghề truyền thống. Nguyên nhân
chính là do t
ốc độ tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề chậm, nhiều khách hàng quen thuộc


3
vào việc điều tra thực trạng phát triển làng nghề và hoạt động kinh doanh của các làng
nghề trên địa bàn toàn quốc, đưa ra định hướng để xây dựng bản đồ quy hoạch phát triển
các ngành nghề thủ công của Việt Nam;
- Đề tài "Môi trường kinh doanh ở nông thôn Việt Nam - Thực trạng và giải pháp", do
Viện Kinh tế Hợp tác xã phối hợp thực hiện năm 2001 trong khuôn khổ Dự án VIE 97/016
do Viện Quản lý kinh tế TW chủ
trì. Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng môi trường
kinh doanh đối với các ngành nghề thủ công ở nông thôn Việt Nam thời kỳ từ 2001 trở về
trước và định hướng hoàn thiện môi trường kinh doanh nhằm phát triển hoạt động sản xuất,
kinh doanh các sản phẩm làng nghề đến năm 2010;
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Tiếp tục đổi mới chính sách và giải pháp đẩy
mạnh tiêu thụ sản ph
ẩm của các làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ thời kỳ đến năm 2010” –
Viện NCTM, 2003 được thực hiện với mục tiêu nghiên cứu để tiếp tục đổi mới các chính
sách, giải pháp cụ thể và đồng bộ nhằm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm LNTT, góp phần phát
triển sản xuất của các làng nghề nói riêng, phát triển kinh tế nông thôn, phát triển xuất khẩu
nói chung.
Ngoài ra, còn có các công trình khác liên quan đến vấ
n đề nghiên cứu đáng chú ý
như :
+ Báo cáo “Đánh giá thực trạng và định hướng phát triển ngành nghề nông thôn
đến năm 2010" của Bộ NN&PTNT;
+ Đề tài "Những giải pháp vi mô nhằm đẩy mạnh XK hàng thủ công mỹ nghệ", mã
số B.2001-39-05, do Trường ĐH Thương Mại chủ trì thực hiện năm 2002.
+ Đề tài "Thị trường xuất khẩu và các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu một số mặ
t
hàng rau quả, thịt lợn và hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam", mã số 2001-78-013, Đại
học Ngoại thương;

đề cập một cách lẻ tẻ, không có tính hệ thống, đồng bộ. Vì vậy, việc thực hiện đề tài nghiên
cứu phần nào giúp các nhà quản lý, các hộ tư nhân, doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh
các sản phẩm làng nghề có được cái nhìn tổng quan về lĩnh vực hoạt động này để đưa ra
những định hướng, chiến lược phát triển phù hợp với đặc thù của mình.
3- Mục tiêu và đối tượ
ng của đề tài :
- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài :
Đề xuất định hướng và giải pháp phát triển làng nghề và thương mại của các làng
nghề Việt Nam. Cụ thể :
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về làng nghề và thương mại của các làng nghề;
- Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề và thương mại của các làng nghề Việt
Nam;
- Đề xuất định hướng và giải pháp phát triể
n làng nghề và thương mại của các làng
nghề Việt Nam đến năm 2020.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài :
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là làng nghề và hoạt động thương mại của các
làng nghề Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu :
+ Phạm vi về không gian : các làng nghề ở Việt Nam
+ Phạm vi về thời gian : các tài liệu và phân tích, đánh giá thực trạng phát triển làng
nghề và thương mại làng nghề
từ 2005 đến nay; đề xuất định hướng và giái pháp phát triển
thương mại của các làng nghề thời kỳ tới năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Cách tiếp cận : đề tài tiếp cận theo hướng thông qua việc đánh giá thực trạng phát
triển làng nghề và thương mại của các làng nghề rút ra những vấn đề còn tồn tại, hạn chế
sự phát triển của thương mại làng nghề và từ đ
ó đề xuất các giải pháp phát triển làng nghề

1.1. KHÁI QUÁT VỀ LÀNG NGHỀ VÀ VAI TRÒ CỦA LÀNG NGHỀ TRONG
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1.1. Khái niệm và phân loại làng nghề
Việc hình thành các làng nghề là một trong những nét đặc sắc của tổ chức kinh doanh ở
nông thôn Việt Nam. Trên thực tế, tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu mà có thể có các khái
niệm khác nhau về làng nghề nhưng nhìn chung có thể t
ổng hợp theo 4 quan niệm sau :
Quan niệm thứ nhất, làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người trong làng đều hoạt động
cho nghề ấy và lấy đó làm nghề sống chủ yếu. Với quan niệm này làng nghề được hiểu theo
nghĩa rất hẹp và hiện nay còn rất ít làng nghề như vậy.Ngày nay, làng nghề được hiểu theo
nghĩa rộng, không chỉ bó hẹp trong phạm vi hành chính của một làng mà gồm một ho
ặc
một số làng trên cùng một tiểu vùng địa lý kinh tế, cùng sản xuất một số chủng loại mặt
hàng truyền thống hoặc cùng kinh doanh một ngành nghề phi nông nghiệp và có quan hệ
mật thiết với nhau về kinh tế - xã hội.
Quan niệm thứ hai, làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công nhưng không
phải toàn bộ các hộ sinh sống ở đây đều làm nghề này mà có người làm nghề nông, có
người trở thành nh
ững người thợ chuyên sản xuất hàng thủ công truyền thống ngay của
làng nghề hay phố nghề ở nơi khác.
Quan niệm thứ ba, làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi qui tụ các nghệ
nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong
sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ và
có cùng tổ
nghề.
Quan niệm thứ tư, làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng), có
một hay một số nghề tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập, thu nhập từ
các nghề đó chiếm tỉ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng
2
. Quan niệm này

- Phân loại làng nghề theo lịch sử hình thành và phát triển, gồm có làng nghề
truyền thống, làng nghề mới ;
- Phân loại làng nghề theo ngành nghề sản xuất kinh doanh và loại hình sản phẩm,
gồm có các làng nghề tiểu thủ công nghiệp như : dệt Vạn Phúc (Hà Nội), gốm sứ Bát Tràng
(Hà Nội), đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ (Bắc Ninh) ; làng nghề công nghiệp cơ khí, chế tác
như: chế tác vàng bạc ở Châu Khê (Hải Dương), dát vàng Kiêu Kỵ (Hà Nội); gia công tái
chế sắt thép Văn Môn (Bắc Ninh) và Đa Hội (Hà Nội) ; làng nghề chăn nuôi như: làng
nghề chăn nuôi ngựa đua ở Lâm Đồng, làng nghề nuôi gà chọi ở Hải Dương, làng nghề
nuôi trâu chọi ở Đồ Sơn (Hải Phòng), làng nghề nuôi chim c
ảnh, nuôi cá cảnh ở ngoại
thành Hà Nội ; làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ …; làng
nghề trồng trọt như làng nghề trồng cây cảnh Nghi Tàm - Quảng Bá (Hà Nội), làng nghề
trồng hoa Ngọc Hà (Hà Nội)
- Phân loại theo quy mô các làng nghề gồm :
+ Làng nghề quy mô lớn, lan toả, liên kết nhiều làng cùng làm một nghề hoặc cùng
một không gian địa lý lãnh thổ, tạo thành vùng nghề hoặc cụm công nghiệp làng ngh
ề. Ở
các làng nghề này, quy mô lao động phi nông nghiệp rất lớn, không chỉ có lực lượng lao
động tại chỗ mà còn thu hút lực lượng lao động ở nhiều nơi khác đến làm thuê, vốn lưu
chuyển và doanh số rất lớn. Ví dụ như Ninh Hiệp (Hà Nội), Bát Tràng (Hà Nội).
+ Làng nghề quy mô nhỏ, tức là trong phạm vi một làng theo nghĩa hành chính địa
phương. Ở các làng này thường hoạt động kinh doanh một ngành nghề phi nông nghiệp, được
truyền ngh
ề trong phạm vi dòng tộc, với sản phẩm độc đáo
- Phân loại làng nghề theo loại hình kinh doanh có tính phổ biến, có các làng nghề
chuyên doanh một chủng loại sản phẩm hàng hoá, như làng nghề chạm bạc cổ truyền Đồng
Xâm (Kiến Xương, Thái Bình), Làng nghề mây tre đan Nguột Tế (Phú Xuyên, Hà Nội),
làng nghề khảm trai sơn mài Ngọ Hà (Phú Xuyên, Hà Nội), làng nghề nung vôi Trường Úc
(Bình Định) ; các làng nghề kinh doanh tổng hợp một số ngành sản ph
ẩm truyền thống

vậy, nếu là các làng nghề ở nông thôn được phát triển m
ạnh sẽ thu hút được nhiều lao động
nông thôn. Theo một số kết quả điều tra, nghiên cứu, bình quân mỗi cơ sở chuyên ngành nghề
ở các làng nghề tạo việc làm ổn định cho 27 lao động, mỗi hộ ngành nghề cho 4-6 lao động.
Ngoài lao động thường xuyên, các hộ, các cơ sở ngành nghề ở các làng nghề còn thu hút lao
động nhàn rỗi trong nông thôn (bình quân 2-5 người/hộ và 8-10 người/cơ sở). Nhiều làng nghề
đã thu hút trên 60% số lao động vào các hoạt động ngành ngh

1
. Hơn nữa, của các làng nghề,
sự phát triển của các ngành nghề phi nông nghiệp truyền thống đã kéo theo mở ra nhiều nghề
mới khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan, tạo thêm việc làm mới, thu hút thêm lao động.
Cũng theo tổng kết thực tiễn, cứ xuất khẩu được 1 triệu USD hàng hoá sẽ tạo việc làm và thu
nhập cho 3000-4000 lao động thường xuyên, nếu lao động thời vụ sẽ gấp 3-5 lần. M
ặt khác,
việc phát triển các ngành nghề ở các làng nghề ở nông thôn sẽ tận dụng tốt thời gian lao động,
khắc phục được tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp. Hơn nữa, nó còn góp phần thực hiện

1
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn: "Báo cáo đánh giá thực trạng và định hướng phát triển ngành nghề nông
thôn đến năm 2010", Hà nội, tháng 7/2001, trang 6

9
phân bổ hợp lý lực lượng lao động nông thôn. Nhiều hộ ở các làng nghề sẽ kết hợp giữa phát
triển sản xuất nông nghiệp với ngành nghề phi nông nghiệp, thậm chí một số hộ chuyển hẳn
sang làm nghề phi nông nghiệp. Những cơ sở, những hộ kiêm và hộ chuyên sẽ là những trung
tâm thu hút lao động của địa phương và lao động những vùng xung quanh trong phát triển các
làng nghề. Như vậy, các làng nghề đượ
c coi là động lực trực tiếp giải quyết việc làm cho lao
động ở nông thôn.

u. Thông qua quá
trình đó đã làm tăng giá trị hàng hoá, tăng giá trị hàng xuất khẩu. Từ đó, cơ cấu kinh tế
được chuyển dịch từ nông nghiệp là chủ yếu sang cơ cấu kinh tế mới có công nghiệp và
dịch vụ cùng phát triển và chiếm tỷ trọng ngày càng cao ở các làng nghề; tỷ trọng lao động
nông nghiệp ngày càng giảm xuống, tăng tương ứng lao động làm ngành nghề phi nông
nghiệp. Mặt khác, cũng trên cơ s
ở giá trị sản lượng từ hoạt động phi nông nghiệp của các
làng nghề tăng lên, tạo điều kiện tăng tích luỹ và nguồn vốn đầu tư tại chỗ, nâng cấp và xây
dựng mới kết cấu hạ tầng, cải thiện đời sống dân cư trong làng, trong vùng. Do đó, các làng

10
nghề có vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nông thôn mới.
1.2. ĐẶC ĐIỂM TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI CỦA CÁC LÀNG NGHỀ
VIỆT NAM
1.2.1. Đặc điểm hoạt động thương mại của các làng nghề quy mô nhỏ :
- Đặc điểm về sản phẩm :
+ Trên thực tế, đặc đi
ểm lớn nhất của thương mại trong các làng nghề là do đặc
điểm của các sản phẩm làng nghề quy định. Sản phẩm làng nghề thường kết tinh nhiều lao
động sống hơn, độc đáo và thậm chí độc tôn về nguyên liệu, độc đáo và nâng lên thành văn
hóa trong phương thức sản xuất và tiêu dùng … Điều đó đặt ra yêu cầu : hoạt động thương
mại phải hòa quyện được vớ
i không gian văn hóa của làng nghề.
+ Đặc điểm nổi bật về sản phẩm của các làng nghề quy mô nhỏ chủ yếu và phổ biến
là sản phẩm thủ công truyền thống in đậm sắc thái văn hoá trong sản phẩm. Sản phẩm thủ
công truyền thống chủ yếu phục vụ nhu cầu hàng ngày; phần lớn quá trình sản xuất bằng
tay, riêng công đoạn hỗ trợ có thể dùng b
ằng máy; sản xuất dựa trên kỹ thuật hay công
nghệ truyền thống nhưng có thể tiến hành cải tiến kỹ thuật hay công nghệ nào mà không

bao tiêu sản phẩm cho các cơ sở sản xuất trong làng. Những người này có quan hệ với các
chủ bao mua lớn ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng. TP Hồ Chí Minh, đồng thời
hiểu rất rõ ý nghĩa của việc tìm kiếm thị trường xuất kh
ẩu.
+ Các thương nhân trong nước chuyên thu mua gom sản phẩm của các làng nghề để bán
cho các doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu hoặc cung cấp cho các cửa hàng bán buôn và bán
lẻ ở các đô thị lớn hoặc các khu du lịch.
+ Các thương nhân ở các đô thị lớn ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm trực tiếp với các
nghiệp chủ ở các làng nghề.
+ Các nghiệp chủ ở các làng nghề trực tiếp thiết lậ
p hệ thống cửa hàng bán sản phẩm
của mình hoặc liên kết với các thương nhân ở các đô thị lớn để tiêu thụ sản phẩm.
+ Các nghiệp chủ có vị thế lớn ở các làng nghề gốc đứng ra bao tiêu sản phẩm cho các
nghiệp chủ ở các làng nghề trong vùng trên cơ sở chi phối công nghệ sản xuất và mẫu mã
sản phẩm.
1.2.2.Đặc điểm hoạt động thươ
ng mại của các làng nghề quy mô lớn
Sự hình thành và phát triển của ngành nghề thủ công truyền thống có qui mô lớn
trong xã hội hiện đại, như sau: Quá trình phân công lao động để hình thành những làng
nghề chuyên nghiệp (tách khỏi hẳn việc trồng trọt) là rất từ tốn và không phổ biến trong xã
hội Việt Nam cổ truyền. Suy cho cùng, sinh mệnh của các làng nghề khởi thuỷ chỉ nhằm
vào việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt củ
a chính người nông dân trong các làng xã nông
nghiệp, mà tính chất khép kín, tự cung cấp là nổi trội. Cho nên, khi đặc trưng ấy phai nhạt,
cũng chính là những thử thách đối với sự sinh tồn của những sản phẩm này.
Khi luỹ tre làng không còn là rào chắn thị trường tiêu thụ các mặt hàng thủ công lẫn
công nghiệp, thì mọi điều sẽ diễn ra một cách công bằng trước thực tế cạnh tranh, buộc mỗi
mặt hàng phải tự khẳ
ng định mình trước người tiêu thụ.
Trong xã hội hiện đại, sản phẩm công nghiệp và bán thủ công với chất liệu, mẫu mã,

Sức sống của những giá trị kết tinh từ nhiều thế hệ, cũng như sự đa dạng phong phú
của các nền văn hoá khác nhau thể hiện trên sản phẩm thủ công, luôn tạo nên sự hấp dẫn,
thú vị, len vào những khoảng hở của cuộc sống đầy ắp căng thẳng, dồ
n dập hiện nay. Đó là
cái mà sản phẩm phục vụ cuộc sống tiện nghi và thực dụng, cái mà tính thời thượng, các
trào lưu ngắn ngủi của mode không thể thay thế. Bởi, bất cứ nơi nào trên hành tinh này
cũng đều dễ dàng tiếp thu, nhập khẩu cả một quy trình sản xuất sản phẩm công nghiệp hiện
đại, nếu họ có con người và ngân sách chuyển nhượng. Nhưng để có một ngành nghề thủ

công thì không phải như thế.
Các làng nghề quy mô lớn mà tiêu biểu là cụm công nghiệp làng nghề (CCNLN) là
một hình thức biểu hiện của khu công nghiệp, được thành lập, phát triển từ khi có Quyết
định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính
sách ngành nghề nông thôn. Là một hình thức mới của tổ chức sản xuất công nghiệp theo
lãnh thổ, CCNLN đã có vai trò quan trọng và đóng góp tích cực trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn nước ta. CCNLN chưa có tên gọi thống
nhất giữa các địa phương, nơi gọi là điểm công nghiệp (tỉnh Hà Tây), nơi gọi là cụm công
nghiệp huyện (tỉnh Nam Định), nơi gọi là cụm công nghiệp (thành phố Hà Nội) … Nhưng
nói chung, khá thống nhất về quan niệm cho rằng CCNLN là một địa điểm phân bố sản
xuất công nghiệp tập trung bao gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ
kinh tế gia đình
nhằm khắc phục ô nhiễm môi trường, tạo kết cấu cơ sở hạ tầng tốt hơn cho phát triển sản
xuất, kinh doanh công nghiệp. CCNLN có ranh giới địa lý rõ ràng, có hệ thống kết cấu hạ
tầng kỹ thuật chung được xây dựng đồng bộ và được thành lập theo quyết định của chính
quyền địa phương (tỉnh hoặc huyện). Mục tiêu của CCNLN phát triển s
ản xuất, kinh doanh
công nghiệp trên cơ sở giải quyết tốt vấn đề tạo ra kết cấu cơ sở hạ tầng kỹ thuật và môi
trường. Đối tượng vào CCNLN là cơ sở sản xuất, kinh doanh (doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ
kinh doanh gia đình) ở làng nghề chuyển đến. CCNLN đã thực hiện sự tách biệt khu vực

khẩu tại chỗ), gồm: Các nhà nhập khẩu nước ngoài, các nhà sản xuất và người tiêu dùng có
quốc tịch nước ngoài.
- Hình thức lưu thông phân phối và tiêu thụ sản ph
ẩm :
+ Các doanh nghiệp kinh doanh XNKVN ký hợp đồng cung cấp nguyên liệu thu mua
sản phẩm để XK hoặc hợp đồng thu mua gom sản phẩm của các làng nghề để XK.
+ Các nhà nhập khẩu nước ngoài trực tiếp ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với các doanh
nghiệp chủ ở làng nghề.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOAT ĐỘNG THƯƠNG MẠI CỦA CÁC
LÀNG NGHỀ
Hoạt động thương mại của các làng nghề
chịu ảnh hưởng của các nhân tố cơ bản sau
 Các nhân tố chủ quan
+ Khả năng tiêu thụ của chính sản phẩm hàng hoá làng nghề. Sản phẩm của các
làng nghề sản xuất ra chỉ có thể được đưa vào trao đổi, mua bán khi nó có khả năng đáp
ứng được nhu cầu của khách hàng về các tiêu chuẩn như: chất lượng, thị hiếu, mẫu mã….
và với giá thành sản xuất, giá cả hợp lý.
+ Năng lực tiếp cận thị trường của các nghiệp chủ ở các làng nghề. Thị trường các
sản phẩm hàng hoá của các làng nghề luôn luôn biến đổi dưới tác động của các qui luật
cung - cầu, giá cả, cạnh tranh… Vì thế, nếu các nghiệp chủ này không nâng cao năng lực
tiếp cận thị trường để kịp thời điều chỉnh chiến lược sản phẩm thích ứng với các thị
trường

14
khách hàng mục tiêu thì nguy cơ sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ được, bị ứ đọng là rất
lớn. Mặt khác, năng lực tiếp cận thị trường của các nghiệp chủ ở các làng nghề cũng thể
hiện qua việc nắm vững thông tin thị trường, nhất là các thông tin về xu hướng biến đổi của
nhu cầu và thị hiếu khách hàng mục tiêu; từ đó dự báo sớm để đ
iều chỉnh chiến lược sản
phẩm (nhất là chất liệu, mẫu mã, nhãn mác…) để "đón đầu" nhu cầu và thị hiếu khách

mỹ nghệ và các sản phẩm kim hoàn…
+ Các rào cản thương mại của các nước nhập khẩu tác động không nhỏ đến hoạt
động xuất khẩu sản phẩm của các làng nghề truyền thống Việt Nam. Trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại trên phạm vi toàn cầu, các nước đề
u từng
bước cắt giảm hàng rào thuế quan, thuế hóa các biện pháp phi thuế nhưng để bảo hộ mậu
dịch, chính phủ các nước đều tạo lập và áp dụng các rào cản thương mại mới, tinh vi, đa
dạng không trái với qui định của WTO. Trong đó, có nhiều rào cản thương mại đang và sẽ
tác động không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu sản phẩm của các làng nghề Việt Nam nh
ư:
các rào cản về tiêu chuẩn môi trường tác động đến xuất khẩu sản phẩm gốm sứ, thuỷ tinh,
đồ nhựa; rào cản về tiêu chuẩn trồng rừng tác động đến xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ, mây tre

15
đan; các rào cản về tiêu chuẩn văn hoá - nhân văn tác động đến xuất khẩu các sản phẩm
dệt, thêu ren, khảm trai và hàng mỹ nghệ khác….
+ Môi trường luật pháp, chính sách và cơ chế quản lý kinh tế của nhà nước cũng tác
động mạnh đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề. Trong đó, Luật pháp và
chính sách của Nhà nước xác lập và tác động mạnh đến các vấn đề như quyền kinh doanh,
vấ
n đề tự do lưu thông hàng hoá, vấn đề xuất nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu sản
phẩm của các làng nghề, vấn đề xây dựng mạng lưới phân phối tiêu thụ sản phẩm như các
đại lý tiêu thụ, các cửa hàng bán sản phẩm của làng nghề. Theo xu hướng tự do hoá kinh tế,
tự do hoá thương mại, đến nay về cơ bản và trên tổng thể, luật pháp và chính sách kinh tế
của Nhà nước ta đ
ã cho phép và khuyến khích các nghiệp chủ ở các làng nghề đầu tư phát
triển sản xuất kinh doanh các ngành nghề mà luật pháp không cấm, hỗ trợ tiếp cận thị
trường thế giới, được trực tiếp nhập khẩu nguyên liệu phục vụ sản xuất và trực tiếp xuất
khẩu sản phẩm của mình và của người khác nếu có bạn hàng và thị trường, được tự do xây
dựng mạng l

đóng góp 5,5-6% GDP; tạo ra 2,2 triệu việc làm trong đó 620.000 việc làm trực tiếp; đến

16
năm 2020 phấn đấu đón 11-12 triệu lượt khách quốc tế; 45-48 triệu lượt khách nội địa; thu
nhập trực tiếp du lịch đạt 18-19 tỷ USD, đóng góp 6,5-7% GDP, tạo ra 3 triệu việc làm,
trong đó 870.000 việc làm trực tiếp. Đây là nhân tố quyết định trực tiếp đến hoạt động xuất
khẩu các sản phẩm làng nghề, đặc biệt là xuất khẩu tại chỗ.
1.4. PHÁT TRIỂN BỀN V
ỮNG CÁC LÀNG NGHỀ
Các làng nghề đang đóng vai trò tích cực trong việc phát triển ngành tiểu thủ công,
ngành nghề truyền thống và nghề mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
Điều trăn trở lớn nhất của các làng nghề hiện nay là làm thế nào để sản phẩm làng
nghề thực sự trở thành các sản phẩm xuất khẩu có giá trị cao, đáp ứng được các yêu cầu
của các thị
trường khó tính nhất. Tuy nhiên phải nhận thấy những thách thức là: Làng nghề
thiếu cạnh tranh do chất lượng sản phẩm chưa cao, quy mô sản xuất nhỏ, phân tán, mẫu
mã đơn điệu, nhãn hiệu hàng hoá, bao bì sản phẩm thiểu hẫp dẫn. Thiết bị nhà xưởng sản
xuất còn thiếu và nghèo nàn. Tình trạng ô nhiễm môi trường, giao thông đi lại khó khăn.
Tác phong làm việc, thái độ ứng xử với khách hàng còn hạn chế. Với trình
độ, kiến thức
như vậy, người lao động làng nghề sẽ gặp rất nhiều trở ngại khi phải đổi mới công nghệ, kỹ
nghệ, mỹ nghệ, thay đổi mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm”.
Đặc điểm chung của các làng nghề Việt Nam là chúng thường nằm gần các khu đô
thị lớn, có mạng lưới giao thông đường bộ và đường thủy, thuận lợi cho giao lưu, trao
đổi
hàng hoá. Đây chính là điều kiện thuận lợi để kết nối hoạt động du lịch với các làng nghề.
Một số địa phương như Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh đã ý thức được lợi ích kinh tế xã hội từ
việc phát triển du lịch làng nghề và vì vậy đã có nhưng đầu tư nhất định vào quy hoạch du
lịch, xây dựng mô hình du lịch làng nghề. Tuy nhiên, hoạt động đầu tư
còn mang tính tự

quan bộ, chính phủ để tổ chức thực hiện. Từ đó sớm lựa chọn, thông báo rộng rãi quy
hoạch phát triển du lịch làng nghề. Bộ NN&PTNT sẵn sàng hỗ trợ mạnh mẽ, huy động
nguồn l
ực để lồng ghép với các chương trình du lịch, để phát triển làng nghề du lịch một
cách bài bản, như nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn.
- Tăng cường ứng dụng công nghệ để phát huy bàn tay khéo léo của các nghệ nhân,
cho phép đưa ra những sản phẩm có chất lượng tốt hơn, năng suất cao hơn. Trong đó, chính
sách khuyến công sẽ có tác dụng cụ thể.
- Nhanh chóng nghiên cứu cơ chế, tìm nguồn hỗ trợ cho các làng ngh
ề. Bộ NN &
PTNNNT tán đồng chủ trương hỗ trợ các nghệ nhân truyền nghề, đào tạo nghề để nhân lên
các nghệ nhân tương lai. Cần đưa ra các hình thức tôn vinh nghệ nhân, tạo điều kiện các
nghệ nhân tham khảo kinh nghiệm quốc tế, giới thiệu cho các nghệ nhân kỹ năng mới, kỹ
năng thị trường
1.5. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM VỀ
PHÁT TRIỂ
N LÀNG NGHỀ VÀ THƯƠNG MẠI CỦA CÁC LÀNG NGHỀ
1.5.1. Kinh nghiệm của một số nước
 Kinh nghiệm của Nhật Bản :
Sớm xác định nghề thủ công truyền thống là một bộ phận tài sản quý báu của dân tộc,
Chính Phủ Nhật Bản đã sớm đề ra những chính sách bảo tồn thích hợp. Nghề thủ công
truyền thống đã được chia làm hai lĩnh vực văn hóa vật chấ
t và văn hóa tinh thần. Các sản
phẩm thủ công mỹ nghệ được xếp vào loại di sản văn hóa vật chất, việc quản lý, tu sửa do
chủ sở hữu hoặc tổ chức đoàn thể quần chúng tiến hành nhưng sẽ được Nhà nước hỗ trợ về
tài chính. Các kỹ thuật, bí quyết nghề thủ công được xếp hạng vào hàng văn hóa tinh thần
và những người có tay nghề tái tạo nh
ững sản phẩm đó được công nhận là người làm công
tác bảo tồn hoặc đoàn thể làm công tác bảo tồn. Đối với những cá nhân hoặc đoàn thể này,
Nhà nước sẽ trợ cấp tiền để họ trau dồi, nâng cao kỹ năng, tay nghề và bồi dưỡng thế hệ kế

 Kinh nghiệm của Thái Lan
- Thực hiện Dự án quốc gia "Một làng nghề, một sản phẩm"
:
Dự án "Một làng nghề, một sản phẩm" được Chính phủ Thái Lan khởi xướng vào
năm 2001 với mục tiêu cuối cùng là sản phẩm giành được các thị trường ngách trên thị
trường thế giới và được nhận biết thông qua chất lượng cũng như tính dị biệt nhờ vào đặc
thù của từng làng quê Thái. Dự án được xây dựng trên ba nguyên tắc cơ bản là
2
: (1) mang
tính địa phương, nhưng phải tiến ra toàn cầu; (2) phát huy tính tự lực và sáng tạo, và (3)
phát triển nguồn nhân lực. Với những nguyên tắc trên, Dự án có 6 mục tiêu cụ thể, bao
gồm, thứ nhất là tạo ra những đặc điểm riêng biệt cho sản phẩm của địa phương để tăng
doanh số bán. Ngoài ra, để hàng hoá có thể thâm nhập thị trường thế giới, chúng phải đáp
ứng được nh
ững tiêu chuẩn về vệ sinh và chất lượng quốc tế. Thứ hai, làm sống lại, phục
hồi và phát huy các kiến thức truyền thống của địa phương nhằm củng cố hiệu quả kinh
doanh của địa phương. Thứ ba, phát huy những tri thức của địa phương để sáng tạo ra
những sản phẩm và hàng hoá mới có tính đặc thù. Thứ tư, song song phát triển du lịch sinh
thái và du lịch tham quan các làng ngh
ề thủ công mỹ nghệ nhằm tăng thu nhập cho địa
phương. Thứ năm, xây dựng lòng tự hào dân tộc và xã hội đối với các sản phẩm của Thái
Lan. Thứ sáu, hỗ trợ các doanh nghiệp địa phương phát triển và cạnh tranh trên các thị
trường quốc tế. Điều này được thực hiện thông qua việc hỗ trợ thiết kế và phát triển sản
phẩm để theo kị
p thay đổi thị hiếu và sở thích của thị trường.
Để chính sách quốc gia này thực sự có tính toàn diện, hầu hết các bộ, ngành chủ
chốt trong nước tham gia vào Dự án như Văn phòng Thủ tướng, Cục phát triển kinh tế - xã

2
Arnupab Tadpitakkul, Bộ Thương mại, Báo cáo: "Củng cố nền kinh tế Thái Lan từ gốc", 22/11/2001

lập chính sách. Quan trọng hơn, Chính phủ trực tiếp hỗ trợ hình thành các kênh phân phối,
khuyếch trương sản phẩm và tìm kiếm thị trường cho các sản phẩm dự án. Như vậy, cơ chế
hoạt động này đảm bảo thu hút được mọi nguồn lực của địa phương để tạo ra những sản
phẩm hàng hoá và dịch vụ có tính dị biệt cao, đồng thời tạo ra sự đồng thuận ở cấp địa
phương. Theo chức năng được phân định rõ trong Dự án, Bộ Thương mại của Thái Lan có
vai trò đặc biệt trong việc tiêu thụ các sản phẩm Dự án. Bộ phụ trách phân loại đối tượng
sản xuất theo tiềm năng thị trường, bao gồm: nhóm có khả năng xuất khẩu, nhóm tiêu thụ
trong n
ước và nhóm chỉ tiêu thụ ở địa phương. Trọng trách khác là hình thành những mắt
xích liên kết giữa các thị trường địa phương và thị trường nước ngoài, phát triển các kênh
thị trường hiện tại, tìm ra những thị trường mới và theo dõi các xu hướng thị trường mới.
Bộ Thương mại là một trong những bộ chủ chốt trong chiến lược thương mại điện tử của
Thái Lan, giúp mở rộ
ng tiêu thụ sản phẩm Dự án. Ngoài ra, Bộ cũng thực hiện việc phát
triển marketing chiến lược cũng như đào tạo nguồn nhân lực cho các làng, các quận và
tỉnh. Trách nhiệm đặc biệt nặng nề của Bộ là bảo vệ các tri thức địa phương, thực hiện việc
bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thông qua cơ chế luật pháp và Hiệp định quyền sở hữ
u trí tuệ

20
liên quan đến thương mại (TRIPS). Đây là vấn đề không phải đơn giản nhưng có vai trò hết
sức quan trọng trong xu hướng tự do hoá thương mại và phát triển thương mại điện tử.
Về tổng thể, những chính sách ưu tiên hàng đầu của Thái Lan cho Dự án này bao
gồm: ân hạn nợ ba năm cho nông dân; lập quỹ 1 triệu baht cho từng làng nghề, trong đó,
vốn ngân sách cấp là 70 tỷ baht; xây dựng mạng Internet ww.thaitambon.com để giúp cộng
đồng dân cư sử dụng thương mại điện tử. Chính phủ Thái Lan xác định rõ năm bước thực
hiện dự án: thứ nhất là quá trình hướng nghiệp, lập kế hoạch và thiết lập các quan hệ trong
cộng đồng; bước thứ hai là xác định các sản phẩm nổi bật; bước ba là phát triển sản phẩm,
bao gồm: chất lượng và thiết kế sản phẩm; bước bốn là phân phối và marketing s
ản phẩm,

ẩm, đóng gói và lưu kho sản phẩm, đưa sản
phẩm đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế. Giai đoạn này đòi hỏi rất nhiều hỗ trợ tài chính
để cải tiến chất lượng và nghiên cứu sản phẩm. Việc nghiên cứu bao gồm tìm hiểu các sản
phẩm đang tồn tại trên thị trường, nghiên cứu thị hiếu khách hàng, các sản phẩm tương tự
hoặc
đang trực tiếp cạnh tranh với sản phẩm được chọn, nghiên cứu các điều kiện thị
trường và các yếu tố sản xuất. Từ các kết quả nghiên cứu, ý tưởng về kiểu dáng sản phẩm

Trích đoạn Định hướng phỏt triển làng nghề và thương mại của cỏc làng nghề Hoàn thiện mụi trường phỏp lý cú liờn quan đến phỏt triển làng nghề và thương mại của cỏc làng nghề : Tập trung xõy dựng quy hoạch phỏt triển làng nghề và vựng nguyờn liệu cho làng nghề Tập trung giải quyết yờu cầu về mặt bằng cho cỏc doanh nghiệp làng nghề:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status