BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
BỘ Y TẾ
CHƯƠNG TRÌNH
HỢP TÁC QUỐC TẾ THEO NGHỊ ĐỊNH THƯ
VIỆT NAM – HÀN QUỐC
BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ NHIỆM VỤ
HỢP TÁC NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH ĐÁNH
GIÁ TƯƠNG ĐƯƠNG SINH HỌC CỦA THUỐC TÁC
DỤNG KÉO DÀI VÀ HỆ ĐIỀU TRỊ QUA DA Chủ nhiệm nhiệm vụ: TS. Nguyễn Văn Tựu
Cơ quan chủ trì: Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương
7554
TS. Nguyễn Văn Tựu PGS. TS. Trịnh Văn Lẩu
HÀ NỘI - 2009
MỤC LỤC
STT Nội dung
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
1
1 TỔNG QUAN
3
1.1 Nghiên cứu sinh khả dụng và tương đương sinh học
3
1.2 Tình hình nghiên cứu và ban hành hướng dẫn về nghiên cứu
SKD và TĐSH các dạng thuốc
4
1.2.1 Ngoài nước 4
1.2.2 Trong nước 5
1.3 Tổng quan về hai dạng bào chế nghiên cứu
7
1.3.1 Thuốc tác dụng kéo dài 7
1.3.2 Dạng thuốc hệ điều trị qua da 10
1.4 Tổng quan về hai chế phẩm dùng trong nghiên cứu thực nghiệm
12
1.4.1 Chế phẩm tác dụng kéo dài có chứa Gliclazid 12
3.1 Đánh giá tương đương sinh học viên nén Gliclazid tác dụng kéo
dài
31
3.1.1 Phương pháp phân tích 31
3.1.2 Kết quả giai đoạn lâm sàng 32
3.1.3 Kết quả phân tích, thống kê, đánh giá tương đương sinh học 33
3.1.4 Kết quả xác định sinh khả dụng và đánh giá tương đương sinh học 42
3.2
Đánh giá tương đương in vitro Thuốc dán Ketoprofen
48
3.2.1 Xây dựng phương pháp phân tích 48
3.2.2 Xác định lượng ketoprofen thấm qua da theo thời gian 48
3.2.3 Đánh giá tương đương in vitro 51
3.3 Nghiên cứu xây dựng Qui trình
52
3.4 Nghiên cứu xây dựng Hướng dẫn
53
3.4.1 Phân tích các tài liệu tham khảo 53
3.4.2 Xây dựng hướng dẫn 57
3.5 Kết quả hợp tác nghiên cứu
59
3.6 Kết quả khác
60
4 BÀN LUẬN
61
4.1 Nghiên cứu thực nghiệm
61
4.1.1
Yêu cầu về cơ sở vật chất
61
Bảng 3.3: Nồng độ Gliclazid tối đa trong huyết tương (Cmax)
Bảng 3.4: Thời gian đạt đến nồng độ tối đa trong huyết tương (Tmax)
Bảng 3.5: Diện tích dưới đường cong nồng độ – thời gian (AUC)
Bảng 3.6: Nồng độ Cmin trong khoảng thời gian
τ
ở trạng thái ổn định
Bảng 3.7: Nồng độ Cav trong khoảng thời gian
τ
khi thử đa liều
Bảng 3.8: Độ dao động DF và DF/
τ
trong khoảng thời gian
τ
khi thử đa liều
Bảng 3.9: Sinh khả dụng tương đối của thuốc thử so với thuốc chứng
Bảng 3.10: So sánh Cmax
bằng phương pháp khoảng tin cậy 90%, đơn liều
Bảng 3.11: So sánh AUC
0-∞
bằng phương pháp khoảng tin cậy 90%, đơn liều
Bảng 3.12: So sánh Tmax bằng phương pháp thống kê phi tham số, đơn liều
Bảng 3.13: So sánh Cmax
bằng phương pháp khoảng tin cậy 90%, đa liều
Bảng 3.14: So sánh AUCss
bằng phương pháp khoảng tin cậy 90%, đa liều
Bảng 3.15: So sánh Tmax bằng phương pháp thống kê phi tham số, đa liều
Bảng 3.16: Thông số dược động học trung bình sau khi uống viên Gliclazid MR
Diện tích dưới đường cong từ thời điểm 0 đến t
AUC
0-∞
Diện tích dưới đường cong từ thời điểm 0 đến vô cùng
BCS Hệ thống phân loại sinh dược
Cmax Nồng độ thuốc tối đa
CV Hệ số biến thiên
ĐHT Độ hoà tan
FDA Cơ quan Quản lý thuốc - thực phẩm Mỹ
GCP Thực hành lâm sàng tốt
GLP Thực hành phòng thí nghiệm tốt
MeCN Acetonitril
MeOH Methanol
MR Thuốc phóng thích biến đổi (Modified release)
NTN Người tình nguyện
SD Độ lệch chuẩn
SKD Sinh khả dụng
T
1/2
Thời gian bán thải
TB Trung bình
TĐSH Tương đương sinh học
Tmax Thời gian đạt nồng độ thuốc tối đa
TW Trung ương
USP Dược điển Mỹ
VKNTTW Viện Kiểm nghiệm thuốc trung ương
WHO Tổ chức y tế thế giới
chính vì vậy, việc xem xét khi cấp phép cho các dạng thuốc này còn nhiều lúng
túng, do chưa xây dựng được những tiêu chí chất lượng rõ ràng, đầy đủ.
Trước xu thế toàn cầu hóa, khi mà yêu cầu về sinh khả dụng và tương đương
sinh học có thể coi như một tiêu chí kỹ thuật được hầu hết các nước trên thế giới
2
thừa nhận. Nếu quốc gia nào không áp dụng thì sẽ có những kẽ hở để thuốc kém
chất lượng đưa vào thị trường, gây thiệt hại cho chất lượng điều trị và nền kinh tế
nói chung. Về trình độ kỹ thuật và trang thiết bị của Việt Nam còn chênh lệch nhiều
so với thế giới, khả năng đầu tư cho lĩnh vực này còn hạn chế, nên việc áp dụng
nh
ững qui chế, hướng dẫn của các nước tiên tiến trong điều kiện hiện tại đã gặp
nhiều điều bất cập. Để dần dần nâng cao năng lực, có khả năng hòa hợp khu vực và
toàn cầu, việc xây dựng và ban hành các Hướng dẫn và qui trình thử nghiệm phù
hợp với điều kiện trong nước là cần thiết.
Khoa Dược, Trường Đại học Sung Kyun Kwan là một đơ
n vị hợp tác với
Việt Nam nói chung và Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương nói riêng từ nhiều
năm qua. Một số cán bộ của Viện đã được gửi đào tạo và tốt nghiệp trên đại học tại
Trường. Trên cơ sở đó, Viện đã đề xuất chương trình hợp tác nghiên cứu, trao đổi
kinh nghiệm và đào tạo với Trường dựa trên sự kế thừa và các kinh nghi
ệm thực tế,
với mục tiêu chung của nhiệm vụ: xây dựng tài liệu đánh giá tương đương sinh học
của thuốc tác dụng kéo dài và hệ điều trị qua da phù hợp điều kiện Việt Nam. Các
mục tiêu cụ thể như sau:
- Xây dựng qui trình đánh giá tương đương sinh học của thuốc tác dụng kéo dài
- Xây dựng qui trình đánh giá tương đương sinh học của hệ đi
ều trị qua da.
Đề cương nghiên cứu của nhiệm vụ đã được Hội đồng khoa học xem xét và Bộ
Khoa học-Công nghệ phê duyệt cho Viện Kiểm nghiệm thuốc trung ương thực hiện
SKD của 2 thuốc có chứa cùng dược chất trên người tình nguyện sau khi dùng cùng
một m
ức liều, trong cùng điều kiện thử nghiệm. Một số trường hợp nghiên cứu
TĐSH có thể là các nghiên cứu so sánh dược lực hoặc so sánh lâm sàng. Những
khái niệm này đã được đề cập trong Hướng dẫn nghiên cứu sinh khả dụng và tương
đương sinh học [3].
Như vậy, nghiên cứu sinh khả dụng và tương đương sinh học có thể có mục tiêu và
ý nghĩa khác nhau, nhưng phương pháp và quá trình thực hiện là tươ
ng tự như nhau.
Nghiên cứu thường được thực hiện trên người tình nguyện (NTN) khỏe mạnh. Sinh
khả dụng được đánh giá dựa trên nồng độ thuốc theo thời gian từ khi thuốc được
dùng cho tới khi thuốc thải trừ ra khỏi cơ thể. Để đường biểu diễn nồng độ - thời
gian phản ánh chính xác quá trình thuốc ở trong cơ thể, phải có đủ số mẫu máu và
phân bố ở
những thời điểm phù hợp. Thời gian lấy mẫu thường kéo dài bằng
khoảng 5 – 7 lần thời gian bán thải của dược chất. Sự hấp thu, phân bố thuốc phụ
4
thuộc nhiều vào từng cá thể. Do vậy, để hạn chế sự khác nhau đó, các nghiên cứu
SKD và TĐSH thường được thiết kế chéo (mỗi NTN sẽ sử dụng cả 2 loại thuốc
nghiên cứu (thử và chứng), sau một khoảng thời gian đủ dài để thuốc có thể thải trừ
ra khỏi cơ thể. Số lượng NTN cho mỗi nghiên cứu phải đủ cho xử lý thống kê,
nhưng cũng không nên quá nhi
ều vì chi phí cho các nghiên cứu này khá nhiều. Bên
cạnh đó, các nghiên cứu thực hiện trên người phải đảm bảo nguyên tắc về đạo đức.
Đề cương nghiên cứu phải được phê duyệt bởi một hội đồng đạo đức. Quá trình
nghiên cứu phải được kiểm soát chặt chẽ với các hồ sơ, số liệu ghi chép đầy đủ,
chính xác và rõ ràng. Báo cáo kết quả trình bày quá trình nghiên cứu và các kết quả
có thể kiểm soát đượ
c.
ế thế giới (WHO) đã dự thảo hướng dẫn chung cho các nghiên
cứu đánh giá thuốc generic, trong đó đề cập đến dạng thuốc phóng thích kéo dài cần
phải thực hiện nghiên cứu, nhưng chưa có hướng dẫn chi tiết. Theo hướng dẫn của
WHO, các qui định cụ thể sẽ được ban hành riêng để phù hợp với trình độ quản lý
và năng lực kỹ thuật thực tế của của từ
ng quốc gia [39].
Một số nước châu Á như Hàn quốc, Trung Quốc cũng đã có những hướng
dẫn cho việc thử nghiệm SKD/TĐSH (bằng tiếng địa phương). Mặc dù vậy, cho đến
nay Hàn Quốc chưa chính thức ban hành hướng dẫn cho dạng thuốc tác dụng kéo
dài cũng như hệ điều trị qua da.
Trong quá trình triển khai hội nhập kinh tế của các nước khối ASEAN, Ủy
ban tư vấn v
ề tiêu chuẩn và chất lượng của ASEAN (ASEAN Consultative
Committee for Standard and Quality - ACCSQ) đã có nhiều cuộc họp thường niên
để bàn về việc thống nhất các tiêu chí hoà hợp. Trong tiến trình này, bản “Hướng
dẫn thực hiện đánh giá sinh khả dụng và tương đương sinh học của thuốc” đã được
xây dựng để áp dụng cho việc công nhận kết quả nghiên cứu lẫn nhau về thuốc khi
xét cấp phép lưu hành giữa các nước trong kh
ối. Đây là tài liệu hướng dẫn chung
nhất cho việc thực hiện đánh giá sinh khả dụng và tương đương sinh học. Các cuộc
họp chủ yếu thảo luận các dạng thuốc uống thông thường, chưa đề cập tới dạng bào
chế đặc biệt như tác dụng kéo dài hay hệ điều trị qua da. Trên thực tế, nghiên cứu
của các nước ASEAN cũng thực hiện với các chế
phẩm qui ước, và hiếm có nghiên
cứu trên chế phẩm tác dụng kéo dài.
1.2.2. Trong nước
6
Cho tới nay, Việt Nam chưa ban hành một văn bản nào hướng dẫn thực hiện
các thử nghiệm đánh giá SKD và TĐSH. Năm 2008, bản Hướng dẫn thực hành tốt
Trước nhu cầu hội nhập và mục tiêu tăng cường đảm bảo chất lượng cho
thuốc, Cục Quản lý Dược đang soạn thảo ban hành danh mục các thuốc yêu cầu
7
phải cung cấp dữ liệu về SKD và TĐSH khi xin cấp phép lưu hành. Danh mục này
đã được gửi lấy ý kiến của các doanh nghiệp dược trong và ngoài nước đang kinh
doanh dược phẩm ở Việt Nam. Do có nhiều ý kiến bàn luận chưa được giải quyết
thỏa đáng, nên thời điểm áp dụng dự kiến ban đầu là tháng 1/ 2009 đã phải lui lại
đến tháng 07/ 2009. Theo đó các thuốc phóng thích kéo dài đều bắt buộc phải có
kết quả đánh giá SKD và TĐSH khi xin cấp phép lưu hành. Chính vì vậy, việc xây
dựng tiêu chí đánh giá và hướng dẫn nghiên cứu càng cấp thiết hơn.
1.3 Tổng quan về hai dạng thuốc nghiên cứu
1.3.1 Thuốc tác dụng kéo dài
Trong nghiên cứu phát triển dược phẩm, nghiên cứu bào chế làm thay đổi
khả năng hoặc vị trí phóng thích dược chất ra khỏi dạng thuốc ngày càng được
quan tâm. Những nghiên cứu này có thể tạo ra các dạng bào chế đặc biệt nhằm cải
thiện hiệu quả điều trị và sử dụng. Mong muốn thường gặp nhất là điều chỉnh sự
phóng thích dược chất nhằm duy trì tác dụng điều trị trong một thời gian dài, giảm
các phản ứng bất lợi hoặc vì một vài mục đích điều trị khác.
Nghiên cứu dạng thuốc tác dụng kéo dài chưa được phổ biến ở
Việt Nam. Gần đây,
một số nghiên cứu cũng đã được thực hiện nhưng chủ yếu ở qui mô phòng thí
nghiệm của các trường đại học hoặc viện nghiên cứu [5], [11] , việc nâng cỡ lô và
triển khai ở qui mô sản xuất công nghiệp còn hạn chế.
Tại các nước có nền công nghiệp dược phát triển, để có được một chế phẩm tác
dụng kéo dài, phải trải qua quá trình nghiên cứu rấ
t công phu từ giai đoạn lựa chọn
công thức, kỹ thuật bào chế đến đánh giá chất lượng [34]. Chất lượng của dạng
thuốc phóng thích kéo dài được chú trọng cải thiện liên tục trong quá trình nghiên
cứu phát triển một chế phẩm mới. Từ xây dựng công thức, nghiên cứu tăng cỡ lô
ng thức ăn ảnh
hưởng tới sinh khả dụng của thuốc. Do vậy, ngoài những nghiên cứu sinh khả dụng
theo yêu cầu chung như những thuốc qui ước, cần đánh giá ảnh hưởng của thức ăn
với các chế phẩm tác dụng kéo dài. Sự ảnh hưởng của thức ăn có thể do:
- Chậm vận chuyển qua dạ dày;
- Kích thích lưu lượng mật;
- Thay đổi pH đườ
ng tiêu hóa;
- Tăng lưu lượng máu nội tạng;
- Thay đổi chuyển hóa dược chất trong đường tiêu hóa;
- Tương tác về vật lý hoặc hóa học với dược chất hoặc dạng thuốc.
9
Với các thuốc phóng thích ngay thuộc nhóm 2, 3, 4 của hệ phân loại BCS và tất cả
các thuốc tác dụng kéo dài, ảnh hưởng của thức ăn thường là do sự kết hợp của
nhiều yếu tố phức tạp làm ảnh hưởng tới độ hòa tan in vivo và sự hấp thu của thuốc.
Ảnh hưởng của thức ăn nhiều nhất khi thuốc được dùng ngay sau bữa ăn. Lượng
thức ăn, tỷ
lệ chất dinh dưỡng, nhiệt độ của thức ăn đều có thể gây nên những thay
đổi sinh lý trong đường tiêu hóa, làm ảnh hưởng tới thời gian vận chuyển thuốc qua
đó, ảnh hưởng tới độ tan, khả năng thấm của thuốc và khả năng tuần hoàn. Nói
chung, các bữa ăn có lượng chất béo cao và nhiều năng lượng sẽ làm ảnh hưởng tới
sinh lý đường tiêu hóa nhiều hơn, gây ảnh hưởng nhi
ều hơn tới SKD của thuốc. Do
vậy, trong các nghiên cứu cần đánh giá ảnh hưởng của thức ăn hoặc nghiên cứu
TĐSH trong tình trạng không đói, nên dùng bữa ăn có nhiều chất béo và giàu năng
lượng. Trên thực tế, thật khó để xác định chính xác cơ chế thức ăn làm thay đổi
SKD của thuốc nếu không thực hiện những nghiên cứu đặc hiệu về cơ chế. Với mộ
t
số thuốc, ảnh hưởng có thể do thuốc chuyển hóa lần đầu qua gan; thuốc dễ bị hấp
để bảo vệ niêm mạc dạ dày, bả
o vệ dược chất khỏi ảnh hưởng của môi trường acid
dạ dày hoặc dự định cho dược chất phóng thích trong một đoạn xác định của đường
tiêu hóa để điều trị tại chỗ. Cần giải thích rõ về việc lựa chọn tá dược để thuốc có
thể chịu đựng được môi trường acid dịch vị (hoặc phóng thích ở một pH nào đó
trong ruột)
Việ
c đánh giá sinh khả dụng và tương đương sinh học cho các thuốc tác dụng kéo
dài là bắt buộc, nhưng trên thực tế ở nước ta và các nước khác trong khu vực
ASEAN còn rất hạn chế. Chưa có nhiều nghiên cứu được thực hiện ở khu vực này,
và cũng chưa có một hướng dẫn nào cho nghiên cứu SKD và TĐSH các thuốc này.
Từ giữa năm 2008, Cục Quản lý Dược yêu cầu bổ sung kết quả nghiên cứu SKD và
TĐ
SH cho dạng thuốc này khi nộp hồ sơ đăng ký lưu hành, nhưng chưa có qui định
cụ thể về yêu cầu nghiên cứu.
1.3.2 Dạng thuốc hệ điều trị qua da
Cho tới nay, hệ điều trị qua da vẫn còn khá mới ở Việt Nam, tài liệu hướng
dẫn về bào chế cũng như đánh giá chất lượng còn hạn chế. Trên thực tế, chưa có
chế phẩm nào
được nghiên cứu sản xuất ở trong nước được phép lưu hành dựa trên
những nghiên cứu, đánh giá chất lượng một cách đầy đủ.
11
Hệ điều trị qua da là một dạng thuốc được bào chế dưới dạng thuốc dán trên da để
dược chất được hấp thu qua da vào máu. Bằng cách sử dụng hệ tá dược kết hợp với
cấu trúc đặc biệt của da làm cho hệ điều trị qua da có khả năng điều chỉnh theo
hướng kéo dài sự phóng thích và hấp thu dược chất vào cơ thể. Dạng thuốc sử dụ
ng
đơn giản, đa số các trường hợp đều có khả năng kéo dài tác dụng điều trị, nên ngày
càng có triển vọng phát triển. Tuy nhiên, lựa chọn hệ tá dược và kỹ thuật bào chế
trị. Do vậy, thuốc thích hợp cho các bệnh hen suyễn, tim mạch và huyết áp.
- Sử dụng thuốc đơn giản, b
ệnh nhân không phải dùng thuốc nhiều lần.
Tuy nhiên, chỉ một số dược chất có thể thích hợp để bào chế và sử dụng dưới dạng
hệ điều trị qua da, như phải có tác dụng tương đối mạnh, rõ ràng; bền, không quá
nhạy cảm và kích ứng trên da. [7], [8].
Để có thể đưa ra thị trường một sản phẩm hệ điều trị qua da đáp ứng yêu cầu
và có hiệu quả
điều trị như mong muốn, cần thực hiện các nghiên cứu trong quá
trình sản xuất như:
- Nghiên cứu động học quá trình phóng thích dược chất, bằng phép thử độ hòa
tan hoặc tính thấm qua da in vitro.
- Nghiên cứu quá trình thấm qua da người in vivo, điều chỉnh công thức và kỹ
thuật bào chế để đạt được tốc độ thấm qua da mong muốn.
- Nghiên cứu tương quan in vitro –
in vivo để xác định được phương pháp
thích hợp dùng trong đánh giá chất lượng trong quá trình sản xuất và lưu
hành.
Sinh khả dụng của hệ điều trị qua da chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố:
- Đặc tính của dược chất, chủ yếu về tính thân dầu hay nước, hệ số khuếch tán
của dược chất.
- Đặc điểm, cấu trúc của da (phụ
thuộc vào loại da khô hay da dầu, vị trí da
trên cơ thể ). Do đặc điểm của da có nhiều lớp: biểu bì, trung bì và hạ bì có
cấu trúc phức tạp, các lớp mỡ xen kẽ, các tuyến, mạch dẫn Ngoài ra, các
yếu tố như nhiệt độ, nước cũng tác động nhiều tới khả năng hấp thu của da.
- Tá dược: tá dược nền, cốt phân tán
1.4 Tổng quan về hai chế phẩm dùng trong nghiên cứu thự
c nghiệm
1.4.1 Chế phẩm tác dụng kéo dài có chứa gliclazid
Gliclazid là một thuốc chống đái tháo đường nhóm sulfonylure, thuốc tác dụ
ng do
kích thích tế bào tuyến tụy giải phóng insulin. Do vậy, thuốc chỉ có tác dụng khi
tuyến tụy còn hoạt động. Gliclazid dễ hấp thu qua đường tiêu hóa. Thời gian đạt đến
nồng độ thuốc tối đa sau khi uống thuốc: khoảng 2-4 giờ với các thuốc qui ước và
khoảng 7 giờ với các thuốc giải phóng chậm. Thời gian bán thải khoảng 10-14 giờ.
Thuốc thải trừ chủ yếu qua đường thận và mộ
t phần qua phân.
Liều thường dùng hàng ngày ở người lớn là 40 – 320mg/ ngày (1 - 4 viên 30mg),
chia 1 - 2 lần. Liều có thể điều chỉnh tăng tùy theo đáp ứng của bệnh. Liều tối đa
320mg/ngày, chia làm 2 lần [2].
14
Hiện nay, gliclazid thường được dùng trong điều trị dưới cả dạng thuốc
phóng thích ngay (viên nén 80mg) và dạng tác dụng kéo dài (viên nén 30mg). Chế
phẩm Diamicron MR 30mg là dạng viên tác dụng kéo dài đầu tiên được phép lưu
hành (thuốc phát minh). Liều dùng cho dạng thuốc tác dụng kéo dài là 1 - 4 viên,
một lần/ ngày. Hiện nay một số nhà sản xuất đang nghiên cứu dạng tác dụng kéo dài
60mg, dùng 1-2 viên / lần/ ngày.
1.4.2 Chế phẩm Ketoprofen hệ điều trị qua da
Ketoprofen là chất rắn dưới dạng bột kết tinh trắng, hầu như không tan trong
nước, tan trong benzen, dễ tan trong ethanol, chlorofor, aceton và ether. Ketoprofen
là một acid yếu (pKa = 5,94). Công thức hóa học và công thức phân tử như dưới
đây [36].
- Công thức phân tử : C
16
H
14
O
3
Gliclazide controlled release tablets 60mg.
Số lô: 06031; Hạn dùng: 11/08
Nơi sản xuất: Công ty TNHH Dược phẩm A, Việt Nam
Thuốc được dự kiến dùng 1 -2 viên, một lần/ ngày
Thuốc đối chứng (mã hóa: R):
Gliclazide Modified release 30mg, nhập khẩu
Số lô: 797982; Ngày sản xuất: 08/2007; Hạn dùng: 08/2010
Nơi sản xuất: Nhà phát minh, Pháp
Thuốc được chỉ định dùng 1 -4 viên, một lần/ ngày
Chất chuẩn:
- Chất chuẩn Gliclazid: SKS: 0105187 của Viện Kiểm nghiệm thuốc TW, hàm
lượng: 100,6% (tính theo khan), độ ẩm: 0,15%.
- Chuẩn nội Glibenclamid: SKS: 0103129 của Viện Kiểm nghiệm thuốc TW,
hàm lượng 99,7% (tính theo khan), độ ẩm: 0,09%.
Dung môi, hoá chất:
- Acetonitril, methanol, dicloromethan loại dùng cho HPLC - Merck.
- Isopropanol, n - hexan và các hoá chất, dung môi khác đạt tiêu chuẩn tinh
khiết phân tích (P.A.) dùng trong chi
ết tách và sắc ký.
Huyết tương: dùng huyết tương trắng của người, mua tại Viện Huyết học và Truyền
máu Trung ương.
Thiết bị: đã được hiệu chuẩn theo qui định, đáp ứng yêu cầu ISO 17025 và GLP.
16
- Hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC SHIMADZU detector UV.
- Các thiết bị: máy ly tâm lạnh, máy lắc, tủ bảo quản mẫu ở - 40
o
C và các loại
dụng cụ thuỷ tinh có độ chính xác thích hợp.
- Cột sắc ký: RP18 (250mm x 4mm, 5µm)
- Tiêu chuẩn chung: nam giới khoẻ mạnh, tuổi 18 – 40. Chỉ số BMI về cân
nặng và chiều cao phải trong khoảng từ 18 – 25kg/m
2
;
- Đánh giá chung về tình hình sức khoẻ, khám tổng quát về tim mạch, tiêu
hoá, thần kinh, chiều cao, cân nặng, huyết áp, nhịp thở, tất cả phải trong giới hạn
bình thường;
- Các chỉ số xét nghiệm máu đều phải trong giới hạn bình thường. Xét
nghiệm bao gồm: hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, hemoglobin, hematocrit; Sinh hoá
lâm sàng: AST(GOT), ALT(GPT), creatinine, glucose;
- Xét nghiệm (bằng test thử nhanh) kháng thể HIV và kháng nguyên viêm
gan B phải âm tính.
Tiêu chuẩn loại trừ:
- NTN nghiện ma tuý, rượu ho
ặc thuốc lá;
- Người đang có những rối loạn về tim mạch, hô hấp, thận, tiêu hóa, miễn dịch,
huyết học, nội tiết, hệ thần kinh hoặc bệnh tâm thần ;
- Người có các giá trị xét nghiệm nằm ngoài khoảng bình thường ;
- Người nghi ngờ có nhiễm HIV và HbsAg (dương tính với phép thử nhanh)
- Người có tiền sử dị ứng với thuốc nghiên cứu hoặc các thuốc cùng nhóm;
- Người mới bị ốm trong vòng 2 tuần trước khi uống thuốc giai đoạn I;
- Người đã dùng bất kỳ một loại thuốc nào gây cảm ứng hoặc ức chế chuyển hoá
thuốc ở gan trong vòng 28 ngày trước khi uống thuốc giai đoạn I;
Qui trình kiểm tra NTN khi tuyển chọn:
Tuyển chọn và kiểm tra NTN theo các chỉ
tiêu trên trong vòng 2 tuần trước khi bắt đầu uống thuốc giai đoạn 1. 2.1.5. Phương pháp cho uống thuốc và lấy mẫu
Liều dùng và cách dùng: