Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Báo cáo tiến độ dự án CARD
004/04VIE: Nghiên cứu xây dựng mô hình sản xuất rau an
toàn dạng công nghệ cao và tăng cường năng lực về kiểm
tra chất lượng, quản lý sau thu hoạch cho ngành sản xuất
rau ở Việt Nam
MS6: BÁO CÁO 6 THÁNG LẦN THỨ 3
Tháng 3 năm 2007
1
1. Thông tin về các đơn vị tham gia dự án
Tên dự án Nghiên cứu xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn
dạng công nghệ cao và tăng cường năng lực về kiểm
tra chất lượng, quản lý sau thu hoạch cho ngành sản
xuất Rau của Việt Nam
Chuyên gia nghiên cứu rau hoa
quả
Fax:
+61 2 4348 1910
Cơ quan:
NSW DPI
Email: Phía Australia: Cơ quan hành chính
Tên:
Graham Denney
Telephone:
02 4348 1927
Chức vụ:
Cán bộ quản lý hành chính
Fax:
02 4348 1910
Cơ quan:
NSW DPI
Email:
Phía Việt Nam
Tên PGS.TS. Trần Khắc Thi Điện
thoại
84 4 8276 316
Chức vụ Phó viện trưởng Fax: 84 4 8276 148
Cơ quan Viện Nghiên cứu Rau quả - Trâu
quỳ - Gia Lâm - Hà Nội
Email
ự phối hợp thực hiện của Trường Đại học Nông Lâm Huế và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông
nghiệp miền Nam. NSW DPI là cơ quan chủ trì phía Australia .
3. Báo cáo tóm tắt
2. Trích lược dự án
• Tổ chức thành công 1 lớp tập huấn về hệ thống nhà lưới, quản lý sau thu hoạch và
đảm bảo chất lượng cho 3 cán bộ dự án: Bà Nguyễn Thị An (FAVRI, trước đây gọi là
RIFAV), Ông Ngô Minh Dũng (IAS) và Ông Nguyễn Đình Thi (HUAF). Họ đã được
học trên lớp, đi thực địa và thực hành trong phòng thí nghiệm. Họ cũng được đi thă
m
quan các trang trại, các trạm nghiên cứu, các chợ và các công ty xuất khẩu để hiểu
thêm về những kỹ thuật hiện đang được áp dụng ở Australia với mong muốn xem
xem những gì họ học được ở Australia có áp dụng được vào kỹ thuật nông nghiệp
Việt Nam không. Đi cùng họ trong chuyến thăm quan này có Ông Nguyễn Hồng
Phong – nông dân và là nhà sản xuất cây con giống lớn nhất ở Đức Trọng – Lâm
Đồng. Ông Phong đã giúp các học viên xem xét xem làm thế
nào công nghệ hoặc kỹ
thuật canh tác có thể được điều chỉnh và áp dụng được ở Việt Nam.
• Các khâu chuẩn bị để tổ chức 02 hội thảoở Đà Lạt và Cần Thơ đang được thực hiện.
Chương trình hội thảo bao gồm các báo cáo trình bày của các đơn vị tham gia dự án
phía Việt Nam và Australia về trồng cây trong nhà lưới, quản lý sau thu hoạch và
GAP (Good Agricultural Practice). 02 hội thảo này sẽ
được tổ chức vào ngày 27-28
tháng 4 và 3-4 tháng 5. Dự kiến 2 hội thảo này có nhiều nông dân và thành viên dây
chuyền cung ứng khác tham gia hơn và sẽ có các hoạt động tập huấn không chính
thức bên lề hội thảo này.
• Tiếp tục thực hiện thành công các thử nghiệm trình diễn nghiên cứu ở Hà Nội , Huế
và Lâm Đồng về đánh giá ảnh hưởng của các giá thể khác nhau lên sinh trưởng và
phát triển của cà chua và dưa chuột.
2
lưới, nhà kính) với công nghệ từ thấp đến trung sử dụng thuốc có sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật ít hơnthông qua mục tiêu nghiên cứu và hoạt động khuyến nông;
Thay đổi chủ dự án
5.1 Những điểm đáng chú ý
5. Tiến độ cho đến thời điểm báo cáo
TS. Suzie Newman đã đi thăm TP Hồ Chí Minh và Đà Lạt vào tháng 10 năm 2006 nhằm điều
tra/nghiên cứu dây chuyền cung ứng và tìm kiếm cơ hội hợp tác với Metro. TS. Newman đã
ở Việt Nam từ 1-5 tháng 10, sau đó tiếp tục chuyến công tác của dự án ACIAR ở Campuchia.
Trong thời gian ở
Việt Nam, TS. Suzie đã đến tỉnh Lâm Đồng để phỏng vấn ông Nguyễn
Hồng Phong (nhà sản xuất cây con giống cà chua) về vườn ươm cây giống và các hoạt động
Chuyến thăm và làm việc của chủ dự án phía Australia, tháng 10 năm 2006
3. Tăng cường năng lực nghiên cứu và phát triển của người Việt Nam trong lĩnh vực hệ thống
sản rau trong nhà lưới, quản lý sau thu hoạch và hệ thống bảo đảm chất lượng;
2. Nghiên cứu những hạn chế của các dây chuyền cung ứng hiện nay và sử dụng nguyên tắc
quản lý chất lượng để tiến hành cải thiện các h
ệ thống này;
4. Thiết lập mối liên kết giữa các nhà nghiên cứu, nhà bán buôn, nhà kinh doanh và người
sản xuất để nâng cao năng suất và tính cạnh tranh của ngành nông nghiệp sản xuất nhỏ của
Việt Nam và các doanh nghiệp nông thôn có liên quan.
3
Các khâu chuẩn bị đang được tiến hành cho 2 hội thảo sẽ tổ chức
ở Cần Thơ (27-28/4) và Đà
Lạt (3-4/5). Các hội thảo này sẽ có nội dung tương tự như các hội thảo đã tổ chức tại Hà Nội
và TP HCM. Tuy nhiên, năm nay chúng tôi hy vọng rằng sẽ có 50% học viên là nông dân
hoặc thành viên của dây chuyền cung ứng . Chúng tôi cũng đã chuyển một trong hai hội thảo
từ Huế vào Đà Lạt theo gợi ý của một chuyên gia đánh giá trong báo cáo 6 tháng lần trước
lục 1. Bản copy báo cáo chuyến đi cũng có thể lấy từ TS. Suzie Newman hoặc PGS.TS.Trần
Kh
ắc Thi. Khoá tập huấn này tập trung vào cả sản xuất rau trên ruộng và trong nhà lưới,
quản lý dây chuyền cung ứng và sau thu hoạch và kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến (GAP). Các
chuyến đi thực địa thăm các trang trại và nhà lưới công nghệ thấp (Sydney Basin) và công
nghệ cao (Yanco, Gosford) cũng khuyến khích các học viên xem xét xem họ có thể áp dụng
những công nghệ như vậy trong điều kiện ở Việt Nam như thế nào. Ngoài đi thăm nhiều
trang trại, các h
ọc viên còn được đi thăm các chợ bán buôn ở Sydney, và một cơ sở xuất nhập
khẩu để giúp các học viên hiểu thêm về các dây chuyền cung ứng và các yêu cầu về chất
lượng ở Australia. Các chuyến thăm các trạm nghiên cứu ở Gosford và Yanco giúp cho các
học viên có một cái nhìn về các loại dự án nghiên cứu và khuyến nông do NSW DPI chủ trì
và cách ma các chương trình nghiên cứu & phát triển được quản lý ở Australia. Trong suốt
chuyến đi, các học viên được Ông Nguyễn H
ồng Phong - một nông dân và là nhà sản xuất
cây con rau lớn nhất ở Đức Trọng – Lâm Đồng đi cùng. Ông Phong đã giúp các học viên
xem xét xem làm thế nào công nghệ hoặc kỹ thuật canh tác có thể được điều chỉnh và áp
dụng được ở Việt Nam.
Chuẩn bị tổ chức các hội thảo ở Đà Lạt và Cần Thơ
Các thử nghiệm trình diễn nghiên cứu
4
chuẩn bị như là một phần của báo cáo 6 tháng lần tới. Trong chuyến thăm của chuyên gia
Australia dự kiến vào tháng 4/tháng 5, kế hoạch sẽ thông qua các kết quả thử nghiệm cùng
với các đồng nghiệp Việt Nam và sẽ thảo luận chuẩn bị xuất bản các ấn phẩm.
Hà Nội
Một thử nghiệm đã được thực hiện tại Viện Nghiên cứu Rau quả (RIFAV), so sánh năng suất
của 8 giống dưa chuột (Q9, Q16, Q19, Tohoku, Khassib, Status III, Deena and Ajax) trồng
trên giá thể
mụn xơ dừa của Việt Nam. Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn
Thử nghiệm được thực hiện tại GHI để so sánh việc sử dụng nước cho các giá thể khác nhau
(gồm cả xơ dừa) cho sản xuất dưa chuột và hoa flannel.
Hệ thống công nghệ thấp đang
được sử dụng để xác định yêu cầu về nước hàng ngày của cây
trồng trong nhà lưới. Nước được dẫn lên giá thể từ đáy của túi bầu, nước này được dẫn vào từ
những cái thùng chứa riêng rẽ. Mức độ sử dụng nước của mỗi cây trồng có thể đo được từ
các thùng. Những bầu không có cây cho phép ước tính mức độ thoát hơi nước của mỗi mẫu
thí nghiệ
m.
Hai giá thể được trộn, một bao gồm xơ dừa sẽ được so sánh:
Hỗn hợp 1: 25% cát + 25% perlite + 25% mùn cưa + 25% mụn xơ dừa
5Hỗn hợp 2: 25% cát + 25% perlite + 50% mùn cưa
Hỗn hợp có mụn xơ dừa làm tăng khả năng dẫn nước của hỗn hợp 1. Hiệu quả của hai hỗn
hợp này với sinh trưởng của cây và sử dụng nước sẽ được xác định.
Các chỉ tiêu theo dõi:
- Đặc tính lý hoá học của hỗn hợp trước và sau khi thí nghiệm.
- Sử dụng nước hàng này.
- Diện tích lá (tại tuầ
n thứ 3, 6, 9 và 12)
- Số hoa Flannel
- Số quả dưa chuột/ khối lượng
- Trọng lượng chất khô của cây
- Nhiệt độ và bức xạ nhiệt sẽ được theo dõi bằng máy - những chỉ tiêu này có liên quan
đến việc sử dụng nước.
Linear (Mix 1)
Linear (Mix 2)
Hình 1: Trọng lượng khô thân cây dưa chuột với tổng lượng nước cây sử dụng
ở hỗn hợp 1 hoặc hỗn hợp 2.
6
Autopot là một dụng cụ rất đơn giản và hữu ích để đo lượng nước cây dưa chuột sử dụng và
có thể được người sản xuất sử dụng để kiểm tra việc sử dụng nước hàng ngày của cây. Chúng
có thể cũng được sử dụ
ng hiệuq ủa cho các mục đích trình diễn ở Việt Nam để minh hoạ
việc sử dụng nước cho nông dân, cán bộ nghiên cứu và khuyến nông. Hai giá thể khác nhau
về thành phần không làm ảnh hưởng đến lượng nước được sử dụng hoặc sinh trưởng của cây
dưa chuột.
Xây dựng năng lực là hoạt động chính của dự án trong 6 tháng qua. Các hoạt động anỳ bao
gồm: chuẩn bị các hội thảo tổ chức trong nước ở Đà Lạt và Cần Thơ và chuyển giao chương
trình đào tạo cho cán bộ Việt Nam tại Australia. Như đã báo cáo chi tiết ở trên, các hội thảo
tổ chức trong nước vào tháng 4/tháng 5 sẽ có nhiều nông dân và thành viên của dây chuyền
cung ứng tham gia hơn và chúng tôi hy vọng rằng đi
ều này sẽ giúp việc tiếp nhận các kết quả
dự án nhanh hơn .
Các hội thảo ở Đà Lạt và Cần Thơ và các cơ hội tập huấn phi chính quy sẽ giúp nông dân và
thành viên của dây chuyền cung ứng cơ hội được tập huấn về những nội dung liên quan đến
dự án. Các liên kết với những nông dân này sẽ được đẩy mạnh thông quá các hoạt động của
dự án để giúp việc Mối liên hệ với những nông dân này sẽ được tăng cường thông qua hoạt
động dự
án để tạo điều kiện cho việc áp dụng những kết quả của dự án nhanh hơn.
Lượng nước sử dụng quá thời gian làm tăng sinh trưởng cây và tương tự với cây trồng ở cả
hai loại hỗn hợp (Hình 2).
7
7.1 Những khó khăn và trở ngại
Cấu trúc của dự án này là có nhiều lần báo cáo và thanh toán kinh phí đã được thực
hiện trong 8 tháng trước của dự án. Điều này là rất khó vì 2 lý do:
7. Các vấn đề về thực hiện và tính bền vững
6.1 Môi trường
Đào tạo cán bộ dự án về GAP là một trong những điểm nhấn chính của chương trình
tập huấn mà dự án này tổ chức. Vào tháng 7, cán bộ dự án của Việt Nam đã tham gia
tập huấn về các hệ thống đảm bảo chất lượng và GAP. Chuyến thăm của họ vừa đúng
dịp FreshCare hoàn thành module môi trường của họ. Joseph Ekman (cán bộ dự án và
là cán bộ khuyến nông về kiểm tra ch
ất lượng) là một trong những người chính xây
dựng module này và do vậy ông này có thể trình bày/giới thiệu những thông tin mới
nhất với các đối tác Việt Nam. Do vậy họ cũng có thể thấy các hệ thống kiểm tra chất
lượng đang hoạt động thông qua các chuyến thăm quan của họ đến các trang trại đã
thực hiện FreshCare. Các học viên cũng đã xem xét xem liệu các hệ thống như vậy có
thể được th
ực hiện như thế nào ở Việt Nam. Với việc ban hành hướng dẫn ASEAN
GAP, có thể Việt Nam sẽ phát triển được một hệ thống GAP cho mình và các chuyên
gia khuyến nông đã được đào tạo sẽ là người xây dựng và thực thi hệ thống này. Hiện
tại, ngành rau của Việt nam đang thiếu các yêu cầu về môi trường dưới nhiều hệ thống
GAP sử dụng phân chuồng không trộn, hoá chất không đăng ký và thờ
i gian cách ly
không đủ. Cung cấp cho các cán bộ bảo vệ thực vật và khuyến nông kiến thức về các
hệ thống GAP và cách thực hiện chúng sẽ giúp Việt Nam tiếp nhận các hệ thống này
trong vài năm tới.
6. Báo cáo các vấn đề đan chéo
Tháng 9 năm 2006, đã có sự thay trưởng nhóm dự án phía Australia, vì TS. Nguyễn Quốc
• Đi lại hạn chế (một chuyến đi) cho chuyên gia dự án Australia ở năm thứ 2
của dự án làm cho việc điều phối các hoạt động của dự án và việc đảm bảo dự
án vẫn đang được triển khai gặp khó khăn .
• Quản lý kinh phí – có nhiều lần báo cáo và số lần chuyển tiền tương ứng vào
6 tháng cuối năm thứ 2 của dự án làm cho việ
c quản lý kinh phí khó khăn cho
NSW DPI với việc các tổ chức nghiên cứu Australia phải mang theo một
khoản tiền lớn để đảm bảo các đối tác dự án phía Việt Nam nhận được kinh
phí mà họ yêu cầu để thực hiện các hoạt động dự án.
7.2 Giải pháp
Trong chuyến công tác Việt Nam vào tháng 4/tháng 5, chúng tôi sẽ tham từng đối tác
tham gia d
ự án của chúng tôi để đảm bảo rằng dự án vẫn đang được thực hiện đáp ứng
được các mốc báo cáo của dự án. Một phần của chuyến công tác sẽ dành để hoàn thiện
tất cả các số liệu thử nghiệm và chuẩn bị xuất bản các ấn phẩm cần có. Tuy nhiên,
cũng vẫn phải thẳng thắn nói rằng cần phải có chuyện công tác bổ sung và có thể là
giám
đốc dự án và một chuyên gia về nhà lưới của Australia sẽ trở lại Việt Nam vào
tháng 9 để hoàn thiện các hoạt động dự án. Có thể cố gắng và sử dụng khoản kinh phí
tiết kiệm được từ nguồn kinh phí của Australia cho chuyến công tác này.
Cần xây dựng lại các chỉ số thực hiện thực tiễn hơn cho dự án này.
Giám đốc mới của dự án phía Australia (TS. Newman) tin rằng một vài chỉ số thực
hiện là quá tham vọng trong một khoảng thời gian ngắn (2 năm) của dự án và với
khoảng cách/sự dàn trải địa lý của các đối tác tham gia dự án. Dự án này sẽ đạt được
các kết quả đáng kể, tuy nhiên, dự án chủ yếu tập trung vào xây dựng năng lực chứ
không phải là sự can thiệp trực tiếp, có thể các chỉ số thực hiện sẽ mất nhiều thời gian
hơn mới đạt được.