Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại vietcombank thời kỳ khủng hoảng kinh tế - Pdf 13

1

Tr-ờng đại học ngoại th-ơng
khoa QUảN TRị KINH DOANH
chuyên ngành KINH DOANH QUốC Tế
*** KHóA LUậN TốT NGHIệP

Đề tài:
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị
rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại
Vietcombank thời kỳ khủng hoảng kinh tế Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thảo Quỳnh
Lớp : Anh 4
Khóa : 44A
Giáo viên h-ớng dẫn: TS. Đào Thị Thu Giang
1 Khái niệm rủi ro và rủi ro tín dụng ngân hàng 18
2 Phân loại rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa 20
3 Đặc điểm của rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa 21
4 Những căn cứ chủ yếu xác định mức độ rủi ro tín dụng DNNVV 21
5 Hậu quả của rủi ro tín dụng 24
6 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa 25
III. QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 26
1 Sự cần thiết của công tác quản trị rủi ro tín dụng DNNVV 26
2 Nhiệm vụ của công tác quản trị rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa 27
3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng DNNVV 27
4 Đo lường rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa 28
5 Nguyên tắc Basel về quản lý rủi ro tín dụng 31
6 Quản trị rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các ngân hàng thương mại
Việt Nam 34
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG DNNVV TẠI
NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM 38
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƢƠNG VIỆT
NAM VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA
NGÂN HÀNG 38
II. CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ - TÀI CHÍNH THẾ GIỚI TỪ NĂM 2008
ĐẾN NAY VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA NÓ ĐẾN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG DNNVV
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 40
1 Tóm tắt diễn biến của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới từ năm 2008
đến nay và những ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế thế giới 40
4

2 Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính đến hoạt động kinh doanh của
các ngân hàng thương mại ở Việt Nam 47
3 Một số chính sách tác động của Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước trong năm 2008
và đầu năm 2009 52

9 Một số kiến nghị khác 101
KẾT LUẬN 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
5

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, thị trường tín dụng dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang được
các ngân hàng thương mại tại Việt Nam hết sức quan tâm. Đây là một khu vực thị
trường có nhiều tiềm năng, vừa góp phần làm tăng doanh thu lại vừa góp phần phân
tán rủi ro cho các ngân hàng. Nhận thấy rõ vai trò của phân khúc thị trường tín dụng
doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tương lai, từ năm 2002 đến nay, Ngân hàng TMCP
Ngoại Thương Việt Nam đã hết sức chú trọng đầu tư cả về nhân lực và vật lực để phát
triển mảng thị trường này.
Do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới diễn ra từ nửa cuối
năm 2008 đến nay, hoạt động tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các ngân
hàng thương mại Việt Nam nói chung và tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt
Nam nói riêng đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, biểu hiện rõ nét nhất là tỷ lệ
nợ xấu tăng cao trong năm 2008, vượt quá tỷ lệ cho phép theo quy định của Ngân hàng
Nhà nước. “Làm thế nào để nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng cho các doanh
nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam trong thời kỳ khủng
hoảng kinh tế?” là một vấn đề hết sức cấp thiết đối với Vietcombank.
Cấp tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa là hoạt động mà tôi dành nhiều sự
quan tâm, cùng với những kinh nghiệm thực tế có được sau thời gian ba tháng thực tập
tại Phòng Tín dụng Doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc Sở giao dịch Ngân hàng TMCP
Ngoại Thương Việt Nam, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao
hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Vietcombank thời kỳ
khủng hoảng kinh tế” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu


Kí hiệu
Giải thích
CBTD
Cán bộ tín dụng
CIC
Credit information center (Trung tâm thông tin tín dụng)
CAR
Capital Adequacy Ratio (Hệ số an toàn vốn)
CDS
Credit default swaps (Hợp đồng hoán đổi tín dụng)
DNNVV
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
DNNN
Doanh nghiệp Nhà nước
FDI
Foreign Direct Investment (Vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài)
FED
Federal Reserve System (Cục dự trữ Liên bang Mỹ)
LSCB
Lãi suất cơ bản
LSHĐ
Lãi suất huy động
LSCV
Lãi suất cho vay
MBS

Mortgage-backed securities (chứng khoán được đảm bảo
bằng các khoản vay thế chấp)

16
Hình 3-4
Quy trình của một Hợp đồng hoán đổi tổng thu nhập (TRS)
88
Bảng
Tên bảng

Bảng 2-1
Một số chỉ tiêu chủ yếu của Vietcombank từ năm 2003 – 2008
34
Bảng 2-2
Chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh tế năm 2008 của một số quốc gia
38
Bảng 2-3
Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam qua các năm từ 2003-2008
40
Bảng 2-4
Một số chỉ tiêu về kết quả hoạt động của các ngân hàng thương
mại Việt Nam năm 2008
45
Bảng 2-5
Số liệu dư nợ tín dụng cho các DNNVV giai đoạn 2005 - 2008
52
Bảng 2-6
Nợ quá hạn
56
Bảng 2-7
Tổng hợp phân loại nợ cho các DNNVV của Vietcombank
57
Bảng 2-8

đoạn 2005-2008
58
9

CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO
TÍN DỤNG DNNVV CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI

I. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG DNNVV CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1 Hoạt động cơ bản của ngân hàng thƣơng mại
1.1 Sự ra đời của ngân hàng
Ngân hàng ra đời vào khoảng năm 2000 trước công nguyên. Nhân tố quan trọng
nhất thúc đẩy sự hình thành các ngân hàng đầu tiên là việc sử dụng tiền vàng của
người nguyên thủy.
Khi hoạt động sản xuất trong xã hội nguyên thủy ngày càng phát triển và mọi
người bắt đầu có nhiều của cải dư thừa, họ đã biết dùng hàng hóa mình có được để
trao đổi với nhau. Tuy nhiên, một khó khăn nảy sinh là khi một người có gà và muốn
đổi lấy cừu thì phải tìm được đúng người có cừu và muốn đổi lấy gà. Hoạt động trao
đổi diễn ra dễ dàng hơn khi có sự xuất hiện của vàng làm vật ngang giá chung. Khi đó,
người ta có thể đổi gà lấy vàng và đem vàng đó đi đổi lấy cừu. Việc dùng vàng trong
xã hội nguyên thủy ngày càng phổ biến.
Vàng được đúc thành những đồng xu có khối lượng nhất định. Tuy vậy, vận
chuyển một khối lượng vàng lớn trên một quãng đường xa, phương tiện giao thông
chưa phát triển là một công việc khó khăn và chứa đựng nhiều rủi ro. Các chủ cửa hiệu
vàng đã nghĩ ra dịch vụ giúp người chủ sở hữu trông giữ vàng, các vật quý giá và nhận
một khoản tiền công. Thay vào đó, họ sẽ cấp cho những người chủ sở hữu vàng một
giấy chứng nhận để những người này mang đi giao dịch và có thể lấy vàng ra bất cứ
lúc nào họ muốn. Sau một thời gian, người chủ hiệu vàng nhận thấy khách hàng của
mình rất ít khi quay lại để rút vàng ra và họ đang ngồi trên một đống vàng nhàn rỗi.
Đầu óc kinh doanh của họ lại lóe lên ý tưởng sinh lời mới, đó là mang những món tiền
nhàn rỗi đó cho những người thiếu vốn vay lấy lãi. Lượng tiền trong tay họ không phải

tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và làm các dịch vụ tiền tệ cho chính phủ” [7];
“Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ
với nội dung cơ bản là nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi đó để cho vay và cung ứng các
dịch vụ thanh toán”.
11

Ngân hàng trung ương giữ vai trò quản lý các ngân hàng thương mại thể hiện qua
một số cách. Một, ngân hàng trung ương là trung tâm thanh toán, chuyển nhượng, bù
trừ của các ngân hàng thương mại. Vì các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính
trong nước đều phải mở tài khoản và kí quỹ tại ngân hàng trung ương nên hoàn toàn
thực hiện được vai trò điều tiết thanh toán giữa các ngân hàng giống như đối với
những thân chủ có quan hệ mua bán với nhau và cùng có một tài khoản ở một ngân
hàng. Hai, ngân hàng trung ương quản lý các khoản dự trữ bắt buộc của hệ thống ngân
hàng thương mại. Dự trữ bắt buộc là tiền mặt và tỉ lệ dự trữ bắt buộc tối thiểu là tỉ lệ %
tiền mặt trên tổng số tiền mặt do nhân dân gửi vào mà các ngân hàng thương mại phải
lưu lại trong kho tiền mặt của ngân hàng mình hay kí gửi tại ngân hàng trung ương,
không được cho vay hết. Bên cạnh đó, ngân hàng trung ương còn thực hiện vai trò
“cứu cánh cuối cùng” khi các ngân hàng thương mại rơi vào tình trạng bị rút tiền ồ ạt
và không thể huy động vốn vay từ nguồn nào khác.
1

1.3 Các chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại
Ngân hàng là tổ chức chuyên nghiệp trong việc tạo lập và cung cấp các dịch vụ
quản lý tài chính cho các cá thể, hộ gia đình và các doanh nghiệp, đồng thời còn thực
hiện nhiều vai trò khác trong nền kinh tế (xem hình 1-1).

Hình 1 - 1: Những chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay 1

Cơ sở xác định vốn và lao động:
- Lao động trung bình hàng năm là số lao động bình quân mà doanh nghiệp đã
đăng kí với cơ quan quản lí lao động và có tham gia đóng bảo hiểm xã hội (không bao
gồm số lao động doanh nghiệp kí hợp đồng thời vụ, hợp đồng công việc).
13

- Vốn đăng kí: đối với DNNN là vốn điều lệ được nhà nước cấp, đối với các
doanh nghiệp còn lại là vốn ghi trên đăng kí kinh doanh, giấy phép đầu tư.
2.2 Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong
nền kinh tế thị trường
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa là một thành phần kinh tế năng động có vị trí và vai
trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia. Trong điều kiện nền kinh tế ở Việt
Nam hiện nay, khối doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm ưu thế trên nhiều phương diện.
 DNNVV chiếm tỷ lệ cao về số lượng doanh nghiệp, về thu hút lao động và về
đóng góp thu nhập quốc dân cho đất nước
Do có nhiều lợi thế như: chỉ cần một số vốn nhỏ cũng có thể thành lập được công
ty; có thể mở văn phòng, xưởng sản xuất tại gia đình với chi phí quản lý thấp, tính
năng động và tính linh hoạt cao; có khả năng thích ứng với nhu cầu thường xuyên thay
đổi của người tiêu dùng… nên số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong
những năm qua phát triển khá nhanh. Theo con số thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư, tính đến tháng 6/2008 nước ta có 349,305 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, trong
đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 93.96% trên tổng số doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa hàng năm đóng góp khoảng 40% GDP của cả nước,
thu hút khoảng 50.13% tổng số lao động trong doanh nghiệp, vốn chiếm 28.92%,
doanh thu chiếm 22.07%, lợi nhuận chiếm 11.78% và nộp ngân sách chiếm 17.46%.
Kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu là nửa cơ giới, lao động
sống chiếm tỷ lệ khá cao. Mặt khác phần lớn các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực thương mại, dịch vụ, sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến nông, lâm, hải sản, xây
dựng và giao thông vận tải nên có khả năng thu hút nhiều lao động, tạo nhiều việc
làm cho xã hội và tăng thu nhập bảo đảm đời sống cho người lao động. Trong khi đó

2.3 Khái niệm tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa
trong các NHTM
Tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa được hiểu đơn giản là hoạt động tín dụng hay
các khoản tín dụng mà các ngân hàng thương mại cấp cho khách hàng là các doanh
nghiệp nhỏ và vừa. Như vậy, tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa là một bộ phận trong
hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại, được phân chia dựa trên tiêu chí là
đối tượng khách hàng.
15

Khái niệm chung về tín dụng ngân hàng là: “Tín dụng là một giao dịch về tài sản
(tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và
bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển
giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên
đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến
hạn thanh toán” [14]. Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng ngân hàng là một giao
dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có một số đặc trưng sau:
Thứ nhất, tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng được chuyển giao
theo hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản, động sản). Thứ hai,
xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài sản cho
người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn. Thứ ba,
sự hoàn trả trong quan hệ tín dụng là bắt buộc và không kèm theo bất cứ một điều kiện
nào, đó là sự hoàn trả vô điều kiện. Thứ tư, giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn
giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn
gốc. Để thực hiện được nguyên tắc này phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỉ lệ
lạm phát, hay nói cách khác phải xác định lãi suất thực dương (Lãi suất thực = Lãi suất
danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát).

Hình 1 - 2: Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng
2.4 Quy trình tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa
Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong việc

khoa học và hợp lý trong hoạt động cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân
hàng là vô cùng cần thiết. Các ngân hàng đều cần đầu tư kĩ lưỡng cho việc thiết lập
quy trình tín dụng riêng của ngân hàng mình.
3 Phân loại tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tương tự như việc phân loại tín dụng ngân hàng nói chung, có nhiều căn cứ để
phân loại tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tùy theo mục đích phân loại.
 Căn cứ vào thời hạn tín dụng
- Tín dụng ngắn hạn.
17

- Tín dụng trung hạn.
- Tín dụng dài hạn.
 Căn cứ vào mục đích cấp tín dụng
- Tín dụng xuất khẩu.
- Tín dụng nhập khẩu.
Ngoài ra, tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa còn được phân loại theo phương pháp
hoàn trả và theo khả năng bao tín dụng.
4 Vai trò của tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Đối với các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa
tuy là một lĩnh vực khá mới mẻ nhưng lại chiếm giữ một vai trò quan trọng cho sự
phát triển của ngân hàng. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng ở Việt Nam, tín dụng
là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận chủ yếu. Mặc dù hiện nay đã có sự chuyển
dịch trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng, theo đó thu nhập từ hoạt động tín dụng có
xu hướng giảm xuống và thu nhập từ dịch vụ có xu hướng tăng lên nhưng thu nhập từ
tín dụng vẫn chiếm từ 1/2 đến 2/3 thu nhập ngân hàng. Bởi vậy, các ngân hàng luôn
muốn tìm mọi biện pháp nhằm tăng nguồn thu từ tín dụng đồng thời đảm bảo giảm
thiểu hóa rủi ro. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa là một lực lượng đông đảo trong nền
kinh tế, là một thành phần kinh tế năng động và đang phát triển với tốc độ rất nhanh
chóng. Do vậy, thị trường tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa là một thị trường tín dụng
giàu tiềm năng. Cấp tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ giúp cho các

chính nhất định. Trong các hoạt động ngân hàng, hoạt động tín dụng đem lại nhiều lợi
nhuận nhất nhưng cũng là hoạt động tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Các thống kê và nghiên
cứu cho thấy, rủi ro tín dụng chiếm đến 70% trong tổng rủi ro hoạt động ngân hàng.
Trong tài liệu “Measuring local government credit risk and improving
creditworthiness”, George E. Peterson định nghĩa rủi ro tín dụng là khi người đi vay
không thanh toán đủ và đúng hạn các khoản nợ. Mức độ rủi ro phụ thuộc vào quy mô
khoản nợ và thời gian chậm trả nợ. Theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Kinh tế (OECD) – tổ chức này hàng năm đều bỏ phiếu xếp hạng để phân hạng rủi ro
tín dụng của các nước – thì rủi ro tín dụng là rủi ro mà trong đó một bên của hợp đồng
tài chính không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện các điều khoản và bởi
vậy bên kia phải chịu thiệt hại. Các trung gian tài chính là nơi khách hàng gửi tiền
nên khách hàng đánh giá về năng lực tài chính của các trung gian này thông qua kết
quả giám sát rủi ro tín dụng của họ được thể hiện trên các thông số tài chính, ví dụ
như lấy các khoản cho vay không hiệu quả chia cho tổng các khoản cho vay. Còn tại
19

khoản 1 Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi
ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết
định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, rủi
ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín
dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của
mình theo cam kết.
Các định nghĩa khá đa dạng nhưng tựu trung lại chúng ta có thể rút ra các nội
dung cơ bản của rủi ro tín dụng như sau: Rủi ro tín dụng là khi người vay sai hẹn
(default) trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn và/ hoặc lãi. Sự
sai hẹn có thể là trễ hạn (delayed payment) hoặc không thanh toán (nonpayment); Rủi
ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị
trường của vốn, trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao
hơn có thể dẫn đến phá sản; Đối với các nước đang phát triển, các ngân hàng thiếu đa
dạng trong kinh doanh các dịch vụ tài chính, các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, vì

phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế)
và rủi ro tập trung (rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách
hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại
hình cho vay có rủi ro cao).

Hình 1 - 3: Phân loại rủi ro tín dụng
Nếu phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro thì
rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân ra thành rủi ro khách quan và rủi
ro chủ quan. Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai,
địch họa, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất
21

thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách. Rủi ro
chủ quan do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và người cho vay vì vô
tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác.
3 Đặc điểm của rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa
Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa có hiệu quả,
nhận biết các đặc điểm của rủi ro tín dụng rất cần thiết và hữu ích. Rủi ro tín dụng có
những đặc điểm cơ bản sau:
Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển
giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng. Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng gặp
tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn; Hay nói cách khác những rủi ro trong
hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân chủ yếu gây nên rủi ro tín dụng
của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: đặc điểm này biểu hiện ở sự đa
dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tín dụng do đặc trưng
ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Do đó khi phòng ngừa và xử lý
rủi ro tín dụng phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân bản chất
và hậu quả do rủi ro tín dụng đem lại để có biện pháp phòng ngừa phù hợp.
Rủi ro tín dụng có tính tất yếu, tức luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng

- Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá có khả năng thu hồi đầy
đủ cả gốc và lãi đúng hạn;
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả
năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời
hạn còn lại;
- Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 1 theo quy định.
Nhóm 2 (nợ cần chú ý) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày;
- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn lần đầu có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả
năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu;
- Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 2 theo quy định.
Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh
kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2;
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng
thanh toán lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
23

- Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 3 theo quy định.
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời
hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ lần thứ hai;
- Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 4 theo quy định.
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên
theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

Rủi ro tín dụng nói chung và rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng có
thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế -
xã hội của mỗi quốc gia, thậm chí có thể lan rộng trên phạm vi toàn cầu.
Đối với ngân hàng bị rủi ro: Do không thu hồi được nợ (gốc, lãi và các loại phí)
làm cho nguồn vốn ngân hàng bị thất thoát, trong khi ngân hàng vẫn phải chi trả tiền
lãi cho nguồn vốn hoạt động, làm cho lợi nhuận bị giảm sút, thậm chí nếu trầm trọng
hơn thì có thể bị phá sản.
Đối với hệ thống ngân hàng: Hoạt động của một ngân hàng trong một quốc gia có
liên quan đến hệ thống ngân hàng và các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân trong nền
kinh tế. Do vậy nếu một ngân hàng có kết quả hoạt động xấu, thậm chí dẫn đến mất
khả năng thanh toán và phá sản thì sẽ có những tác động dây chuyền ảnh hưởng xấu
các ngân hàng và các bộ phận kinh tế khác. Nếu không có sự can thiệp kịp thời của
Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ thì tâm lý sợ mất tiền sẽ lây lan đến toàn bộ người
gửi tiền và họ sẽ đồng loạt rút tiền tại các ngân hàng thương mại làm cho các ngân
hàng khác vô hình chung cũng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
Đối với nền kinh tế: Ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, là kênh
thu hút và bơm tiền cho nền kinh tế, vì vậy rủi ro tín dụng gây nên sự phá sản một ngân
hàng sẽ làm cho nền kinh tế rối loạn, hoạt động kinh tế bị mất ổn định và ngưng trệ, mất
bình ổn về quan hệ cung cầu, lạm phát, thất nghiệp, tệ nạn xã hội gia tăng, tình hình an
ninh chính trị bất ổn.
Trong quan hệ kinh tế đối ngoại: Ảnh hưởng lớn của rủi ro có thể làm ảnh hưởng
đến vị thế và hình ảnh của hệ thống ngân hàng – tài chính quốc gia cũng như toàn bộ
nền kinh tế của quốc gia đó.
25

6 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa
Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro hay nói cách khác hoạt động ngân
hàng luôn phải đối diện với rủi ro. Vì vậy, nhận diện những nguyên nhân gây ra rủi ro
tín dụng giúp ngân hàng có biện pháp phòng ngừa hiệu quả, giảm thiệt hại. Có 3 nhóm
nguyên nhân cơ bản dẫn đến rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa sau đây:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status