TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
PHÂN TÍCH THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
NĂM 2008 - DIỄN BIẾN THỊ TRƢỜNG VÀ NGUYÊN NHÂN
CỦA SỰ SỤT GIẢM. DỰ BÁO XU HƢỚNG TRONG NĂM 2009 Sinh viên thực hiện : Lê Thị Ánh Hằng
Lớp : Trung 3
Khóa : 44H
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Dƣơng Thị Hồng Vân
THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 15
1.2. CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH VÀ GIÁM SÁT THỊ TRƢỜNG CHỨNG
KHOÁN 16
2. HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 17
2.1. CÁC NGHIỆP VỤ TRỰC TIẾP CỦA THỊ TRƢỜNG CHỨNG
KHOÁN 18
2.2. CÁC NGHIỆP VỤ LIÊN QUAN 19
3. CÁC NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN CỦA THỊ
TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 20
3.1. NGUYÊN TẮC TRUNG GIAN MUA BÁN CHỨNG KHOÁN 20
3.2. NGUYÊN TẮC ĐỊNH GIÁ CỦA MUA BÁN CHỨNG KHOÁN 21
3.3. NGUYÊN TẮC CÔNG KHAI CỦA THỊ TRƢỜNG CHỨNG
KHOÁN 21
4. GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 21
III. CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 22 1
1. CHỨC NĂNG CỦA THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 22
1.1. HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƢ CHO NỀN KINH TẾ 22
1.2. ĐIỀU TIẾT CÁC NGUỒN VỐN 23
1.3. CHỨC NĂNG TẠO TÍNH THANH KHOẢN CHO CÁC CHỨNG
KHOÁN 23
1.4. THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ PHONG VŨ BIỂU CỦA NỀN
KIMH TẾ 24
1.5. TẠO MÔI TRƢỜNG GIÚP CHÍNH PHỦ THỰC HIỆN CÁC CHÍNH
SÁCH KINH TẾ VĨ MÔ 25 2. VAI TRÒ CỦA THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 25
3.1.2. GIAI ĐOẠN THÁNG 07 VÀ THÁNG 08: THỊ TRƢỜNG PHỤC
HỒI 50
3.1.3. GIAI ĐOẠN 4 THÁNG CUỐI NĂM: THỊ TRƢỜNG TRỞ LẠI
VỚI XU THẾ GIẢM 53
3.2. THỊ TRƢỜNG TRÁI PHIẾU 57
3.3. GIAO DỊCH CỦA NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI 58
III. NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ SỤT GIẢM 60 1
1. NGUYÊN NHÂN TỪ SỰ KHỦNG HOẢNG TTCK THẾ GIỚI
VÀ KHU VỰC 60
2. NGUYÊN NHÂN XUẤT PHÁT TỪ NỀN KINH TẾ VĨ MÔ 62
3. NGUYÊN NHÂN TỪ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THỊ TRƢỜNG 63
4. NGUYÊN NHÂN TỪ CHÍNH SÁCH CỦA NGÂN HÀNG NHÀ
NƢỚC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
64
5. NGUYÊN NHÂN TỪ PHÍA CUNG 65
5.1. KHẢ NĂNG KẾT QUẢ KINH DOANH KHÔNG THUẬN LỢI
TRONG NĂM 2008 CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT 65 5.2. CÚ “SỐC” CUNG TỪ GIẢI CHẤP 66
5.3. TÁC ĐỘNG IPO CỦA CÁC DOANH NGHIỆP LỚN 67
5.4. HÀNG HÓA TRÊN THỊ TRƢỜNG NGÀY CÀNG ĐA DẠNG 68
6. NGUYÊN NHÂN TỪ PHÍA CẦU 68
6.1. SỨC HẤP DẪN TỪ CÁC THỊ TRƢỜNG KHÁC 68
6.2. TÂM LÝ NHÀ ĐẦU TƢ 71
6.3. TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 71
6.4. LUỒNG VỐN NƢỚC NGOÀI CHUYỂN VÀO TTCK VIỆT NAM BỊ
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
BẢNG 01: CÁC CHỈ SỐ CƠ BẢN CỦA KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2007 –
2008 34
BẢNG 02: SO SÁNH TỶ LỆ ROE 3 QUÝ ĐẦU NĂM 2008 SO VỚI
CÙNG KỲ NĂM 2007 56
BẢNG 03: MỘT SỐ CP PHÁT HÀNH THÊM VÀ NIÊM YẾT LẦN ĐẦU VỚI
KHỐI LƢỢNG LỚN VÀO THÁNG 8, THÁNG 9 NĂM 2008 56
BẢNG 04: TOÀN CẢNH THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN THẾ GIỚI NĂM
2008 61
BẢNG 05: BIẾN ĐỘNG BIÊN ĐỘ GIAO DỊCH TRÊN SÀN HOSE, HASTC 64
BẢNG 06: IPO CÁC DOANH NGHIỆP LỚN NĂM 2008 67
BIỂU ĐỒ 01: TĂNG TRƢỞNG GDP QUA CÁC NĂM 37
BIỂU ĐỒ 02: GDP THEO NGÀNH NĂM 2008 (THEO GIÁ THỨC TẾ) 38
BIỂU ĐỒ 03: TỶ TRỌNG VỐN ĐẦU TƢ CÁC KHU VỰC KINH TẾ NĂM
2007 – 2008 39
BIỂU ĐỒ 04: BIẾN ĐỘNG VỐN FDI TRONG 10 NĂM QUA (TỪ NĂM 1999
- 2008) 40
BIỂU ĐỒ 05: DIỄN BIẾN LẠM PHÁT TOÀN CẢNH VIỆT NAM (TỪ NĂM
2000 - 2008) 42
BIỂU ĐỒ 06: DIỄN BIẾN TỶ GIÁ USD/VND NĂM 2008 44
BIỂU ĐỒ 07: CHỈ SỐ DOLLAR INDEX NĂM 2008 44
BIỂU ĐỒ 08: CƠ CẤU XUẤT KHẨU VIỆT NAM NĂM 2008 45
BIỂU ĐỒ 09: DIỄN BIẾN VN-INDEX, HASTC-INDEX NĂM 2008 45
BIỂU ĐỒ 10: GIÁ TRỊ GIAO DỊCH ĐẶT BÁN, ĐẶT MUA TẠI SÀN HOSE 48
BIỂU ĐỒ 11: GIÁ TRỊ GIAO DỊCH, ĐẶT MUA, ĐẶT BÁN PHÂN THEO
NGÀNH 49
u t giỏn tip nc ngoi
HoSE
Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
HaSTC
Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội
ICOR
T sut u t cho tng trng
IPO
Phỏt hnh ln u ra cụng chỳng
M2
Cung tin rng (broad money)
MPI
B K hoch v u t
NHNN
Ngõn hng Nh nc Vit Nam
NHTM
Ngõn hng thng mi
ODA
Vn h tr phỏt trin chớnh thc
P/E
H s gia th giỏ c phiu v thu nhp m nú mang li
SGDCK
S giao dch chng khoỏn
TTGDCK
Trung tõm giao dch chng khoỏn
TTCK
Th trng chng khoỏn
UBCKNN
U ban Chng khoỏn Nh nc
cận kề khi mà bối cảnh đen tối của thời kỳ Đại Suy thoái 1929 - cuôc khủng hoảng
kinh tế lớn nhất trong lịch sử phát triển của Chủ nghĩa tƣ bản - vẫn còn ám ảnh.
Trong bối cảnh chung ấy, năm 2008 qua đi với đầy những biến động đối với
kinh tế vĩ mô cũng nhƣ TTCK Việt Nam. Trong những tháng đầu năm, Việt Nam đã 1
FED (Tiếng Anh: Federal Reserve System) Cục dự trữ liên bang Mỹ là Ngân hàng Trung ƣơng của Mỹ. Bắt
đầu hoạt động từ năm 1915 theo “Đạo luật Dự trữ Liên bang ”của Quốc hội Hoa Kỳ thông qua cuối năm
1913.
2
ECB (Tiếng Anh: European Central Bank) Ngân hàng Trung ƣơng về đồng tiền chung Châu Âu, đồng Euro.
Nhiệm vụ chính của Ngân hàng này là duy trì sức mua của đồng tiền Euro, qua đó sẽ giúp bình ổn giá cả
trong khu vực Châu Âu. ECB bao gồm 18 thành viên trong Hội đồng Quản trị. 2
bộc lộ những yếu điểm và hạn chế của một nền kinh tế phát triển nóng với những
biểu hiện: lạm phát cao, thâm hụt thƣơng mại kỷ lục, rủi ro thanh khoản ngân hàng,
thị trƣờng ngoại tệ biến động bất thƣờng Vốn FDI đạt mức kỷ lục trên 64 tỷ USD
và kết quả về tăng trƣởng xuất khẩu 30% là những điểm khá tích cực trong năm
2008. Mặc dầu vậy, nỗi lo lớn nhất của Việt Nam hiện nay lại là nguy cơ suy thoái
kinh tế. Cuộc khủng hoàng tài chính thế giới vẫn đang lan rộng và chƣa có dấu hiệu
dừng lại. Trong thời kỳ hội nhập, Việt Nam chắc chắn sẽ chịu nhiều ảnh hƣởng khi
tổng cầu thế giới sụt giảm. Xuất nhập khẩu những tháng cuối năm chững lại là dấu
hiệu bắt đầu của sự suy giảm kinh tế. Trƣớc tình hình đó, Chính phủ cũng đang có
những nỗ lực rất lớn trong việc chống lại đà suy thoái bằng việc sử dụng kết hợp cả
chính sách tài khóa và tài chính, cụ thể: nới lỏng chính sách tiền tệ, hạ lãi suất, giảm
thuế, tăng cƣờng chi tiêu công…
Đối với TTCK, năm 2008 cũng là một năm đáng ghi nhớ khi VN-Index giảm
2009 và giải pháp nhằm ổn định và phát triển thị trƣờng chứng khoán Việt
Nam.
Nội dung luận văn đƣợc triển khai từ những vấn đề khái quát đến cụ thể chi
tiết với những phân tích kỹ lƣỡng có kèm bảng biểu và biểu đồ minh họa, số liệu
cập nhật. Đầu tiên là cái nhìn khái quát nhất, chung nhất về hoàn cảnh ra đời, đặc
điểm và vai trò chức năng của một TTCK đối với nền kinh tế của một quốc gia.
Tiếp theo, khi phân tích nền kinh tế vĩ mô, luận văn chủ yếu tập trung vào những
vấn đề của nền kinh tế vĩ mô trong mối liên hệ chặt chẽ với TTCK. Trọng tâm luận
văn là phân tích diễn biến và xu hƣớng vận động của TTCK Việt Nam, bên cạnh đó
đã chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự sụt giảm của thị trƣờng trong 6
tháng đầu năm và 4 tháng cuối năm 2008. Cuối cùng sẽ phân tích những cơ hội và
thách thức đối với TTCK trong thời kỳ mới để từ đó làm cơ sở để dự báo thị trƣờng
trong năm 2009 và đƣa ra những giải pháp nhằm ổn định và phát triển TTCK trong
ngắn hạn và dài hạn.
Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn hạn hẹp, kinh nghiệm còn ít ỏi, những thông
tin thu đƣợc còn chƣa phong phú cộng với thời gian nghiên cứu có hạn nên luận văn
không tránh khỏi nhiều thiếu sót. Song em cũng đã cố gắng hết sức để hoàn thành
tốt nhất bài luận văn trong khả năng có thể. Vì vậy, em rất mong nhận đƣợc sự góp
ý và sửa chữa của quý thày cô và các bạn để luận văn của em đƣợc hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn ThS. Dƣơng Thị Hồng Vân - Giảng viên Khoa
Tài chính Ngân hàng đã tận tình hƣớng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình hoàn
thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2009
Lê Thị Ánh Hằng 4
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN
I. CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN
đảm đƣơng đƣợc yêu cầu của giao dịch, sụt giá chứng khoán mạnh, gây mất lòng tin
và phản ứng dây chuyền mà hậu quả của nó còn nặng hơn cuộc khủng hoảng 1929;
đến tháng 07/1997 TTCK ở các nƣớc Châu Á sụt giá, mất lòng tin bắt đầu từ Thái
Lan, có tính chất lây lan, tạo ra sự suy giảm ghê gớm chỉ số giá chứng khoán.
TTCK đã phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các nƣớc công nghiệp hàng đầu Mỹ,
Nhật, Anh, Đức, Pháp… Bên cạnh đó hơn 40 nƣớc phát triển đã thiết lập TTCK
cũng đã hình thành ở các nƣớc láng giềng Việt Nam nhƣ Singapore, Malaysia, Thái
Lan, Phillipine và Indonesia và Việt Nam cũng đã có trung tâm giao dịch TTCK
thành phố Hồ Chí Minh (tháng 07/2000). TTCK các nƣớc đang phát triển mạnh mẽ
về số lƣợng TTCK lên đến hàng trăm sở giao dịch, chất lƣợng hoạt động thị trƣờng
ngày càng đáp ứng cho số đông những nhà đầu tƣ trong và ngoài nƣớc, tiến tới một
TTCK hội nhập khu vực và quốc tế.
2. Các khái niệm
2.1. Chứng khoán
Chứng khoán là những giấy tờ có giá và có khả năng chuyển nhƣợng, xác
định số vốn đầu tƣ (tƣ bản đầu tƣ); chƣớng khoán xác định quyền sở hữu hoặc
quyền đòi nợ hợp pháp, bao gồm các điều kiện về thu nhập và tài sản trong một
thời hạn nào đó.
Chứng khoán là một tài sản tài chính có các đặc điểm cơ bản sau :
Tính thanh khoản (tính lỏng): Tính lỏng của tài sản là khả năng chuyển tài
sản đó thành tiền mặt. Khả năng này cao hay thấp phụ thuộc vào khoảng thời gian
và chi phí cần thiết cho việc chuyển đổi và rủi ro của việc giảm sút giá trị của tài
sản đó do chuyển đổi. Chứng khoán có tính lỏng cao hơn so với các tài sản khác,
thể hiện qua khả năng chuyển nhƣợng trên thị trƣờng và nói chung, các chứng
khoán khác nhau có khả năng chuyển nhƣợng khác nhau.
Tính rủi ro: Chứng khoán là tài sản tài chính mà giá trị của nó chịu tác động
lớn của rủi ro, bao gồm rủi ro có hệ thống và rủi ro không có hệ thống. Rủi ro có hệ
thống hay rủi ro thị trƣờng là loại rủi ro tác động tới toàn bộ hoặc hầu hết các tài sản.
Loại rủi ro này chịu tác động của các điều kiện kinh tế chung nhƣ: lạm phát, sự thay
đổi tỷ giá hối đoái, lãi suất vv… Rủi ro không có hệ thống là loại rủi ro chỉ tác động
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Cổ đông có thể đƣợc hƣởng lợi nhuận
nhiều hơn giá trị của cổ phiếu và cũng có thể bị mất trắng khi công ty làm ăn thua lỗ.
Cổ đông không đƣợc quyền đòi lại số vốn mà ngƣời đó đã góp vào công ty cổ phần,
họ chỉ có thể thu lại tiền bằng cách bán cổ phiếu đó ra trên TTCK theo quy định
pháp luật. 7
Trái phiếu, điển hình của chứng khoán nợ là một loại chứng khoán quy định
nghĩa vụ của ngƣời phát hành (ngƣời đi vay) phải trả cho ngƣời đứng tên sở hữu
chứng khoán (ngƣời cho vay) một khoản tiền nhất định bao gồm cả vốn lẫn lãi
trong những khoảng thời gian cụ thể.
Nhờ phát hành trái phiếu mà Chính phủ, các tổ chức công cộng (có tƣ cách
pháp nhân), các công ty cổ phần tạo ra đƣợc các nguồn vốn ổn định. Với loại chứng
khoán này, do rủi ro thấp hơn so với chứng khoán có thu nhập biến đổi nên sự thay
đổi về giá là thấp hơn, tỷ lệ lợi tức quyết định chủ yếu tới khả năng sinh lời của
chứng khoán. Bị ảnh hƣởng của rủi ro lãi suất, cả ngƣời mua và ngƣời bán đều quan
tâm tới tỷ lệ lợi tức ở từng thời điểm.
Ngoài ra trên TTCK còn có một số các loại chứng khoán khác nhƣ: Chứng
chỉ quỹ đầu tƣ, Chứng khoán có khả năng chuyển đổi và Chứng khoán phái sinh.
2.2. Thị trường chứng khoán
2.2.1. Định nghĩa
Thị trường chứng khoán (tiếng latinh là Bursa - nghĩa là cái ví tiền) là nơi
mà cung và cầu của các loại chứng khoán gặp nhau để xác định giá cả. Số lƣợng
của từng loại chứng khoán đƣợc giao dịch trên thị trƣờng.
Cụ thể hơn TTCK có thể đƣợc định nghĩa nhƣ là nơi tập trung các nguồn tiết
kiệm để phân phối lại cho ngƣời muốn sử dụng những nguồn tiết kiệm đó theo giá
mà ngƣời sử dụng sẵn sàng trả. Nói cách khác TTCK là nơi tập trung và phân phối
các nguồn đầu tƣ này, có thêm nhiều vốn hơn để đƣa vào sản xuất trong nền kinh tế
vì vậy có thể làm cho nền kinh tế tăng trƣởng và tạo nên sự thịnh vƣợng.
Thị trường thứ cấp (Secondary Market): là thị trƣờng giao dịch, mua
bán, trao đổi những chứng khoán đã đƣợc phát hành nhằm kiếm lời, di chuyển vốn
đầu tƣ hay di chuyển tài sản xã hội.
Quan hệ giữa thị trƣờng sơ cấp và thị trƣờng thứ cấp thể hiện trên các góc độ
sau:
Thứ nhất, thị trƣờng thứ cấp làm tăng tính lỏng của các chứng khoán đƣợc
phát hành. Việc này làm tăng sự ƣa chuộng của chứng khoán và làm giảm rủi ro cho
các nhà đầu tƣ. Các nhà đầu tƣ sẽ dễ dàng hơn trong việc sàng lọc, lựa chọn, thay
đổi kết cấu trong danh mục đầu tƣ, trên cơ sở đó làm giảm chi phí cho các nhà phát
hành trong việc huy động và sử dụng vốn. Việc tăng tính lỏng của tài sản sẽ tạo điều
kiện tách biệt giữa sở hữu và quản lý, làm tăng hiệu quả quản lý doanh nghiệp. Việc
tăng tính lỏng cho các chứng khoán tạo điều kiện cho việc chuyển đổi thời hạn vốn,
từ vốn ngắn hạn sang vốn trung hạn và dài hạn, đồng thời tạo điều kiện cho việc 9
phân phối vốn một cách có hiệu quả. Sự di chuyển vốn trong nền kinh tế đƣợc thực
hiện thông qua cơ chế “bàn tay vô hình”, cơ chế xác định giá chứng khoán và thông
qua hoạt động thâu tóm, sáp nhập doanh nghiệp trên thị trƣờng thứ cấp.
Thứ hai, thị trƣờng thứ cấp xác định giá của chứng khoán đã đƣợc phát hành
trên thị trƣờng sơ cấp. Thị trƣờng thứ cấp đƣợc xem là thị trƣờng định giá các công ty.
Thứ ba, thông qua việc xác định giá, thị trƣờng thứ cấp cung cấp một danh
mục chi phí vốn tƣơng ứng cho các mức độ rủi ro khác nhau của từng phƣơng án
đầu tƣ, tạo cơ sở tham chiếu cho các nhà phát hành cũng nhƣ các nhà đầu tƣ trên thị
trƣờng sơ cấp.
Điểm khác nhau căn bản giữa thị trƣờng sơ cấp và thị trƣờng thứ cấp không
phải là sự khác nhau về hình thức mà là sự khác nhau về nội dung, về mục đích của
từng loại thị trƣờng. Bởi lẽ, việc phát hành cổ phiếu hay trái phiếu ở thị trƣờng sơ
cấp là nhằm thu hút mọi nguồn vốn đầu tƣ và tiết kiệm vào công cuộc phát triển
kinh tế. Còn ở thị trƣờng thứ cấp, dù việc giao dịch rất nhộn nhịp có hàng chục,
phƣơng tiện thông tin đại chúng và các tờ nhật báo lớn ở các nƣớc. Chỉ số chứng
khoán phản ánh tình hình hoạt động của các công ty trên thị trƣờng. Nếu các công
ty làm ăn có lãi, giá chứng khoán của các công ty đó sẽ tăng và làm tăng theo chỉ số
chứng khoán. Ngƣợc lại, chỉ số chứng khoán sẽ giảm. Dựa vào chỉ số chứng khoán,
các nhà đầu tƣ có thể xác định đƣợc hiệu quả của một cổ phiếu hoặc một danh mục
các chứng khoán để đầu tƣ vào.
Bất kỳ một TTCK nào cũng có một chỉ số chứng khoán của riêng nó. Ví dụ
TTCK New York có chỉ số Dow Jones, TTCK Tokyo áp dụng chỉ số Nikkei, Hong
Kong áp dụng chỉ số Hang - xieng, Singapore áp dụng chỉ số "Strai taime"
Một loại chỉ số chứng khoán đƣợc nhiều ngƣời biết đến nhất là chỉ số Dow
Jones ra đời vào năm 896. Chỉ số này đƣợc coi nhƣ một cột mốc của TTCK thế giới.
Chỉ số này do hai nhà kinh tế Mỹ Edward David Jones và Charles Hery Dow đề xuất
đo lƣờng mức độ biến động của thị giá cổ phiếu trên TTCK New York. Chỉ số Dow
Jones bao gồm 65 loại cổ phiếu đƣợc chia thành 3 nhóm chỉ số bình quân nhỏ nhƣ
sau:
- Chỉ số Dow Jones công nghiệp bao gồm giá cổ phiếu của 30 công ty hàng
đầu ngành công nghiệp công lại rồi chia cho 1504 (con số này có khi giảm).
- Chỉ số Dow Jones vận tải bao gồm giá cổ phiếu của 20 công ty hàng đầu
ngành giao thông vận tải cộng lại chia cho 2785 (con số này có khi tăng).
- Chỉ số Dow Jones dịch vụ công cộng bao gồm giá cổ phiếu của 15 công
ty hàng đầu ngành dịch vụ công cộng.
3. Chủ thể tham gia vào thị trƣờng chứng khoán 11
3.1. Nhà phát hành
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK. Nhà
phát hành là ngƣời cung cấp các chứng khoán - hàng hóa của TTCK.
- Chính phủ và chính quyền địa phƣơng là ngƣời phát hành các trái phiếu
Chính phủ và trái phiếu địa phƣơng.
Công ty chứng khoán: CTCK là những công ty hoạt động trong lĩnh vực
chứng khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là bảo
lãnh phát hành, môi giới, tự doanh, quản lý quỹ đầu tƣ và tƣ vấn đầu tƣ chứng
khoán. Để có thể đƣợc thực hiện mỗi nghiệp vụ, các CTCK phải đảm bảo đƣợc một
số vốn nhất định và phải đƣợc phép của cơ quan có thẩm quyền.
Ngân hàng thương mại: Tại một số nƣớc, các NHTM có thể sử dụng
vốn tự có để tăng và đa dạng hóa lợi nhuận thông qua đầu tƣ vào các chứng khoán.
Tuy nhiên các ngân hàng chỉ đƣợc đầu tƣ vào chứng khoán trong những giới hạn
nhất định để bảo vệ ngân hàng trƣớc những biến động của giá chứng khoán. Một số
nƣớc cho phép các NHTM thành lập công ty con độc lập để kinh doanh chứng
khoán và thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành.
3.4. Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
Cơ quan quản lý Nhà nước
Đầu tiên, TTCK hành động một cách tự phát khi có sự xuất hiện của cổ
phiếu và trái phiếu và hầu nhƣ chƣa có sự quản lý. Nhƣng nhận thấy cần có sự bảo
vệ lợi ích cho các nhà đầu tƣ và đảm bảo sự hoạt động bình thƣờng, ổn định của
TTCK, bản thân các nhà kinh doanh chứng khoán và các quốc gia có TTCK hoạt
động cho rằng cần phải có cơ quan quản lý và giám sát về hoạt động phát hành và
kinh doanh chứng khoán. Chính vì vậy, cơ quan quản lý, giám sát TTCK ra đời.
Cơ quan quản lý, giám sát TTCK đƣợc hình thành dƣới nhiều mô hình hoạt
động khác nhau, có nƣớc do các tổ chức tự quản thành lập, có nƣớc cơ quan này
trực thuộc Chính phủ, nhƣng có nƣớc lại có sự kết hợp quản lý giữa các tổ chức tự
quản và Nhà nƣớc. Nhƣng nhìn chung cơ quan này do Chính phủ (Nhà nƣớc) của
các nƣớc thành lập, nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của ngƣời đầu tƣ và bảo đảm cho
TTCK hoạt động lành mạnh, suôn sẻ và phát triển vững chắc. Cơ quan này có thể
có những tên gọi khác nhau, tùy thuộc từng nƣớc và nó đƣợc thành lập để thực hiện
chức năng quản lý Nhà nƣớc đối với TTCK.
Tại Trung Quốc, ban đầu Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc thực hiện chức
năng quản lý Nhà nƣớc đối với các hoạt động của TTCK. Cùng phối hợp thực hiện
chức năng quản lý với Ngân hàng còn có cơ quan Hội đồng Nhà nƣớc trong lĩnh vực
TTCK Việt Nam. Đó là Uỷ ban chứng khoán Nhà nƣớc, thành lập theo nghị định số
75/CP ngày 28/11/1996 của Chính phủ. UBCKNN là một cơ quan thuộc Chính phủ
thực hiện chức năng quản lý Nhà nƣớc đối với TTCK Việt Nam.
Sở giao dịch chứng khoán 14
Sở giao dịch chứng khoán thực hiện vận hành TTCK thông qua bộ máy
tổ chức bao gồm nhiều bộ phận khác nhau phục vụ các hoạt động trên sở giao dịch.
Ngoài ra, sở giao dịch cũng ban hành những quy định điều chỉnh các giao dịch chứng
khoán trên sở phù hợp với các quy định của luật pháp và Uỷ ban chứng khoán.
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức của các CTCK và một
số thành viên khác hoạt động trong ngành chứng khoán, đƣợc thành lập với mục
đích bảo vệ lợi ích cho các công ty thành viên nói riêng và cho toàn ngành chứng
khoán nói chung. Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán thƣờng là một tổ chức
tự quản, thực hiện một số chức năng chính nhƣ sau:
- Khuyến khích hoạt động đầu tƣ và kinh doanh chứng khoán;
- Ban hành và thực hiện các quy tắc tự điều hành trên cơ sở các quy định
pháp luật về chứng khoán;
- Điều tra và giải quyết tranh chấp giữa các thành viên;
- Tiêu chuẩn hóa các thông lệ và nguyên tắc trong ngành chứng khoán;
- Hợp tác với Chính phủ và các cơ quan khác để giải quyết các vấn đề có
tác động đến hoạt động kinh doanh chứng khoán.
Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
Là tổ chức nhận lƣu giữ các chứng khoán và tiến hành các nghiệp vụ thanh
toán bù trừ cho các giao dịch chứng khoán.
Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán
Là tổ chức phụ trợ, phục vụ cho các giao dịch chứng khoán. Công ty này
cung cấp hệ thống máy tính với các chƣơng trình để thông qua đó có thể thực hiện
thể có quyền lực nhất.
Giám sát thị trƣờng là việc tiến hành theo dõi kiểm tra các hoạt động diễn ra
trên thị trƣờng, nhằm phát hiện kịp thời và xử lý các vi phạm, đảm bảo tính công
bằng và hiệu quả của thị trƣờng.
TTCK luôn tồn tại tính hai mặt của nó, đó là mặt tích cực và mặt tiêu cực.
Những mặt tiêu cực của nó có thể gây ra những tác động xấu đến thị trƣờng và các
hoạt động kinh tế - xã hội. Đó chính là các hành vi gian lận, lừa đảo trong giao dịch
chứng khoán nhƣ đầu cơ, mua bán nội gián, thao túng giá cả… Vì vậy, cần phải có
một cơ chế điều hành và giám sát chặt chẽ mọi hoạt động của TTCK. 16
TTCK là thị trƣờng vốn dài hạn, tập trung các nguồn vốn cho đầu tƣ và phát
triển kinh tế, do đó có tác động rất lớn đến môi trƣờng đầu tƣ nói riêng và tới nền
kinh tế nói chung. Mặt khác, TTCK là thị trƣờng cao cấp, nơi tập trung nhiều đối
tƣợng tham gia với các mục đích, sự hiểu biết và lợi ích khác nhau; các giao dịch
các sản phẩm tài chính với giá trị rất lớn. Đặc tính đó khiến cho TTCK cũng là môi
trƣờng dễ xảy ra các hoạt động kiếm lời không chính đáng thông qua các hoạt động
gian lận, không công bằng gây tổn thất cho các nhà đầu tƣ, tổn thất cho thị trƣờng
và cho toàn bộ nền kinh tế.
Xuất phát từ vai trò quan trọng cũng nhƣ tính chất phức tạp nhƣ vậy của
TTCK, việc điều hành và giám sát là vô cùng cần thiết để đảm bảo đƣợc tính hiệu
quả, công bằng, lành mạnh trong hoạt động của thị trƣờng, bảo vệ quyền lợi chính
đáng của nhà đầu tƣ, dung hòa lợi ích của tất cả những ngƣời tham gia thị trƣờng,
tận dụng và duy trì đƣợc các nguồn vốn để phát triển kinh tế. Mỗi thị trƣờng có cơ
chế điều hành và giám sát thị trƣờng riêng phù hợp với các tính chất và đặc điểm
riêng của nó.
1.2. Cơ chế điều hành và giám sát thị trường chứng khoán
Tại mỗi nƣớc, việc điều hành và giám sát TTCK đƣợc tổ chức ở nhiều cấp độ
khác nhau. Nhìn chung các tổ chức tham gia quản lý và giám sát TTCK gồm 02