TRNG I HC NGOI THNG
KHOA KINH T V KINH DOANH QUC T
CHUYấN NGNH KINH T I NGOI
KHO LUN TT NGHIP TI:
KHNG HONG TI CHNH M V NHNG NH HNG N
HOT NG XUT NHP KHU TI VIT NAM
H v tờn sinh viờn
Lp
Khoỏ
Giỏo viờn hng dn
: Tạ Hải Hà
: Anh 7
: 44 B
: TS. Đỗ H-ơng Lan
1. Hậu quả của khủng hoảng tài chính đến nền kinh tế Mỹ 18
2. Hậu quả của khủng hoảng tài chính Mỹ đến nền kinh tế thế giới 21
CHƢƠNG II. TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ ĐẾN HOẠT
ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM 27
I. ẢNH HƢỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ ĐẾN NỀN KINH TẾ
VIỆT NAM 27
1. Tác động đến thị trường tài chính 28
2. Tác động đến thị trường bất động sản 30
3. Tác động đến thị trường chứng khoán 31
4. Tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài 33
5. Tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu 34
II. ẢNH HƢỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ ĐẾN HOẠT ĐỘNG
XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM 35
1. Tình hình xuất nhập khẩu Việt Nam trước khủng hoảng tài chính Mỹ 35
1.1. Tổng quan chung về hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam 35
1.2. Xuất nhập khẩu Việt Nam giai đoạn 2001 – 2007 38
2. Xuất nhập khẩu Việt Nam trong khủng hoảng tài chính Mỹ 43
2.1. Tình hình xuất khẩu 44
2.2. Tình hình nhập khẩu 48
3. Những ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến hoạt động thương mại hai
chiều Việt Nam – Mỹ 51
4. Đánh giá chung về những ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến hoạt
động xuất nhập khẩu Việt Nam 54
CHƢƠNG III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT
NHẬP KHẨU TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG TÀI
CHÍNH MỸ 63
i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADB: Ngân hàng phát triển Châu Á
BTA: Hợp đồng thương mại Việt – Mỹ
CDS: Hợp đồng bảo lãnh nợ khó đòi
CEMAC: Cộng đồng kinh tế và tiền tệ Châu Phi
CTCK: Công ty chứng khoán
EPA: Hiệp định hợp tác toàn diện song phương Việt – Nhật
FDI: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
FED: Cục dự trữ liên bang Mỹ
GCC: Các nước thuộc hợp đồng hợp tác vùng vịnh
GDCK: Giao dịch chứng khoán
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
IIF: Viện tài chính quốc tế
ILO: Tổ chức Lao động quốc tế
IMF: Tổ chức tiền tệ thế giới
MBS: Chứng khoán phái sinh
UAE: Tiểu vương quốc Arap thống nhất
USDA: Bộ Nông nghiệp Mỹ
WB: Ngân hàng thế giới
WTO: Tổ chức Thương mại thế giới
iii
Bảng 2.6: Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu sang một số thị trường lớn qua các năm (đơn
vị: %)
Bảng 2.7: Thu hút và thực hiện vốn FDI giai đoạn 2001 – 2008 (đơn vị: tỷ USD)
Bảng 3.1: Dự báo mức độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2009 (đơn vị: %)
Bảng 3.2: Kim ngạch xuất khẩu nhóm nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2009 – 2010 (đơn
vị: triệu USD, %)
Phụ lục: Danh sách một số tổ chức tài chính lớn bị phá sản hoặc bị sát nhập trong cuộc
khủng hoảng tài chính Mỹ
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ cuộc Đại suy thoái năm 1930, năm 2008, thế giới một lần nữa đang phải trải
qua một cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Bắt nguồn từ Mỹ và bùng nổ ở thị
trường bất động sản, khủng hoảng tài chính Mỹ đã được Charles Dallara, giám đốc điều
hành Viện Tài chính Quốc tế IIF - đại diện cho hơn 375 ngân hàng và định chế tài chính
chủ chốt của thế giới - gọi là “cuộc suy thoái xảy ra cùng lúc trên toàn thế giới và nghiêm
trọng nhất trong lịch sử kinh tế hiện đại”. Không mang tính khu vực như cuộc khủng
hoảng tài chính Châu Á 1997 hay cuộc khủng hoảng nợ ở Mỹ Latinh thập niên 1980;
cũng không xảy ra trong bối cảnh đối lập giữa hai phe phái, như Chiến tranh Lạnh, mà
trong đó nước nhỏ có thể được các nước lớn hơn trong phe hỗ trợ; cuộc khủng hoảng tài
chính Mỹ 2008 lần này là cuộc khủng hoảng toàn cầu, có khả năng lây lan từ khu vực này
sang khu vực khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác. Với mức thiệt hại khổng lồ vượt
ngoài mọi khuôn khổ đã có, nên không có bất cứ tổ chức quốc tế hay một quốc gia nào có
thể ra tay cứu giúp. Điều duy nhất các quốc gia có thể làm chính là tự cứu mình và hợp
Đối tương nghiên cứu: khủng hoảng tài chính Mỹ và những tác động cụ thể của
khủng hoảng vào hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: tập trung nghiên cứu và phân tích những tác động của khủng
hoảng vào hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt Nam trong năm 2008 và 2 tháng đầu năm
2009, đặc biệt là hoạt động xuất khẩu.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên lý luận cơ bản của kinh tế học hiện đại, phép biện chứng duy vật và
căn cứ vào đường lối chính sách định hướng phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta
trong thời kỳ hội nhập hiện nay.
Khóa luận sử dụng các phương pháp điều tra, thống kê, so sánh, phân tích, tổng
hợp và đánh giá tài liệu.
3
5. Bố cục khóa luận
Ngoài lời mở đầu, phụ lục, kết luận, danh mục bảng biểu, chữ viết tắt, tài liệu
tham khảo; nội dung khóa luận gồm có 3 chương:
Chƣơng I: Tổng quan về khủng hoảng tài chính Mỹ
Chƣơng II: Tác động của khủng hoảng tài chính Mỹ đến hoạt động xuất nhập
khẩu Việt Nam
Chƣơng III: Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu
Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng tài chính Mỹ
đóng góp 20 đến 30% vào GDP của toàn thế giới. Theo bản danh sách 10 quốc gia có nền
kinh tế lớn nhất thế giới dựa trên số liệu GDP hàng năm do Ngân hàng Thế giới (World
Bank) công bố trong 3 năm liên tiếp, kể từ năm 2004, Mỹ cũng luôn là quốc gia đứng đầu
với GDP lớn nhất thế giới, cao hơn gấp 2 đến 3 lần nước đứng thứ hai – Nhật Bản.
Bảng 1.1: Giá trị GDP của Mỹ giai đoạn 2004 - 2008
Đơn vị: nghìn tỷ USD
Năm
2004
2005
2006
2007
2008
Giá trị GDP
11,66
12,36
13,13
13,80
14,26
Nguồn: Phòng thương mại Việt – Mỹ
5
0
2
4
6
8
10
12
và có vai trò lãnh đạo nền kinh tế toàn thế giới. Về thương mại, đây là thị trường xuất
khẩu chính của hơn 200 nước, đồng thời cũng là thị trường tiêu thụ và thu hút vốn đầu tư
nước ngoài hàng đầu. Thương mại Mỹ chiếm gần 50% sản lượng công nghiệp, gần 20%
trị giá xuất khẩu của thế giới [1]. Hàng năm Mỹ xuất khẩu gần 900 tỷ USD, nhập khẩu
gần 1300 tỷ USD. Về chính trị, Mỹ nắm giữ vai trò quyết định, chi phối hoạt động của
các định chế tài chính và thương mại quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Tổ chức tiền
tệ thế giới (IMF) hay Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng phát triển Châu Á
(ADB),…
Có thể nói, Mỹ là nền kinh tế giao thương của các nền kinh tế, là nơi tập trung sản
phẩm, công nghệ hàng đầu và luôn có tầm ảnh hưởng nhất định đến chính sách cũng như
kinh tế của các quốc gia khác trên thế giới, nhất là trong bối cảnh các quốc gia đều tự đặt
cho mình những mối quan hệ song phương, đa phương trên diện rộng. Sự đổ vỡ của bất
kỳ quốc gia nào cũng có nguy cơ tạo thành sự sụp đổ của cả "ván bài đomino" trên quy
mô lớn, đặc biệt khi sự đổ vỡ lại bắt nguồn từ quốc gia có vai trò chủ chốt như Mỹ. Bài
học từ cuộc khủng hoảng công nghệ giai đoạn 2000 – 2001 là một ví dụ điển hình. Bắt
nguồn tại Mỹ, nhưng hậu quả của nó đã ảnh hưởng đến hầu hết các quốc gia phát triển và
đang phát triển tại Châu Âu cũng như Châu Á, tạo ra một làn sóng phá sản của các công
ty công nghệ và tin học trên thế giới, dẫn đến sự suy giảm của tăng trưởng kinh tế thế
giới năm 2001. Qua gần một thập kỷ, năm 2008, thế giới một lần nữa phải trải qua một
cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng mà hậu quả của nó vẫn chưa lường hết được
cho đến thời điểm này. Đó là cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ sự đổ vỡ của thị
trường bất động sản tại Mỹ và đang trở thành một cuộc suy thoái toàn cầu.
7
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH, NGUYÊN
NHÂN VÀ DIỄN BIẾN CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ
1. Một số vấn đề cơ bản về khủng hoảng tài chính
Khái niệm khủng hoảng tài chính
Năm 2008, thế giới phải trải qua một cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng.
lớn chưa có lời giải thống nhất của các nhà kinh tế học. Tuy nhiên, hiện nay, định nghĩa
về khủng hoảng tài chính sau vẫn được đa số quốc gia chấp nhận [5, tr5]
Khủng hoảng tài chính là sự thất bại của một hoặc một số nhân tố của nền kinh
tế trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình.
Hiểu đơn giản hơn, đó là tình huống trong đó có một bộ phận lớn các ngân hàng
của một quốc gia đột ngột mất khả năng thanh toán cũng như khả năng trả nợ; tức là khi
tình trạng tài chính (các dòng tiền vào/ ra; nhận/ thanh toán;… hình thành tài sản có, tài
sản nợ) mất cân đối nghiêm trọng có thể dẫn đến sụp đổ quỹ. Điều này bắt nguồn từ các
vụ phá sản, kinh doanh thua lỗ và các vấn đề chi tiêu của Chính phủ. Bản thân Chính phủ
cũng gặp khó khăn trong việc tìm tài trợ khi mất khả năng thanh toán do những kỳ vọng
không mấy sáng sủa, mặc dù trong điều kiện bình thường nền kinh tế hoàn toàn có khả
năng chi trả. Sự mất khả năng thanh toán này thường có tính chất lan truyền kéo theo sự
suy giảm của các thành phần kinh tế khác và hậu quả là cả nền kinh tế suy thoái nặng nề.
Các dấu hiệu của khủng hoảng tài chính
Khủng hoảng tài chính thực chất là khủng hoảng tiền tệ, là hậu quả của sự rối loạn
nặng nề của hai bộ phận quan trọng của thị trường tái chính là hệ thống ngân hàng và thị
trường chứng khoán. Khi một quốc gia đang rơi vào khủng hoảng, có thể nhận thấy các
biểu hiện sau thường xảy ra:
Sự mất giá nhanh chóng của đồng tiền so với các ngoại tệ mạnh (như USD,
EUR…) dẫn đến sự chao đảo của thị trường chứng khoán: giá chứng khoán sụt giảm, thu
hẹp thị trường phát hành;
Về phía ngân hàng:
9
- Ngân hàng thương mại không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người
gửi tiền;
- Các khách hàng vay vốn, gồm cả các khách hàng hạng A, cũng không thể
hoàn đủ các khoản vay cho ngân hàng;
Vay nợ nước ngoài tăng nhanh;
năng để đánh giá chính xác giá trị và độ rủi ro của các khoản đầu tư và tài sản nằm trên
sổ sách của các tổ chức tài chính – ngân hàng này. Sai lầm của Chính phủ Mỹ bắt đầu từ
việc để thị trường tự do quá tầm kiểm soát của mình, hệ thống giám sát tài chính tỏ ra
lỏng lẻo, bất lực và có quy mô quá hạn chế.
Bên cạnh đó, năm 2001, sau khi khủng hoảng bong bóng công nghệ (năm 2000)
và cuộc tấn công khủng bố 11/9 (năm 2001), Cục Dữ trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã liên tục
hạ thấp và duy trì lãi suất trong một thời gian dài để giúp nền kinh tế khỏi trì trệ. Vào
giữa năm 2000, lãi suất cơ bản của Fed là trên 6%, nhưng sau đó lãi suất này liên tục bị
cắt giảm, cho đến giữa năm 2003 thì còn 1% và giữ ở mức đó cho đến tháng 6/2004 [20].
Chính sự kết hợp của lãi suất thấp cùng với tình trạng thừa thanh khoản trên thị trường và
sự giám sát lỏng lẻo của Chính phủ đã tạo ra sự bùng nổ trong lĩnh vực vay tín dụng trên
thị trường bất động sản Mỹ năm 2008.
Thứ hai, đó là sự phát triển của thị trường tài chính dẫn đến sự hình thành
"siêu bong bóng" trong lĩnh vực tài chính và bất dộng sản. Có hai nguyên nhân hình
thành nên bong bóng trên thị trường tài chính và bất động sản: đó là giá bất động sản tăng
quá nhanh và sự ra đời của nghiệp vụ chứng khoán hóa.
Giá bất động sản tăng quá nhanh
Từ lâu nay, đa số người Mỹ vay tiền từ các ngân hàng để mua nhà, và đến thời hạn
hợp đồng từ 10 đến 30 năm sẽ phải trả cả lãi lẫn vốn. Chính vì vậy, có một mối liên hệ
chặt chẽ giữa tình hình lãi suất với thị trường bất động sản. Khi lãi suất thấp và dễ vay
mượn thì người dân đổ xô mua nhà, đẩy giá nhà lên cao; khi lãi suất cao thì giá nhà
xuống thấp. Do đó quyết định hạ lãi suất xuống còn 1% của Fed vào năm 2001 đã khiến
thị trường bất động sản của Mỹ bùng nổ. Lãi suất giảm dẫn đến việc các ngân hàng cũng
hạ lãi suất cho vay tiền mua bất động sản và tiền vay rẻ đã sinh ra bong bóng địa ốc. Nhu
11
cầu nhà ở lên cao đỉnh điểm trong những năm 2001 – 2005. Giá nhà bình quân tăng đến
54% chỉ trong vòng 4 năm. Cùng giai đoạn này, theo thống kê, giá thị trường của những
căn nhà có sẵn đã tăng hơn 50%. Năm 2005, 40% nhà mua vào không phải để làm nơi ở
tin là sẽ giúp giảm rủi ro thông qua phân hạng rủi ro và đa dạng hóa trên cơ sở vị trí địa
lý. Nhưng trên thực tế biện pháp này lại làm gia tăng rủi ro do chúng đã chuyển quyền sở
hữu của những khoản vay thế chấp từ những ngân hàng biết rõ khách hàng của mình sang
những nhà đầu tư không rõ nguồn gốc.
Nợ dưới chuẩn (Subprime) là các khoản cho vay với các đối tượng có mức tín
nhiệm thấp. Theo cẩm nang hướng dẫn của Bộ tài chính Mỹ năm 2001, những đối tượng
đi thuộc nhóm nợ dưới chuẩn thường là người nghèo, không có công ăn việc làm ổn định,
vị thế xã hội thấp hoặc có quá khứ tín dụng yếu kém như thường có những khoản thanh
toán quá hạn, và có thể có những vấn đề nghiêm trọng như phải ra tòa, phá sản. Những
đối tượng này cũng có thể có khả năng thanh toán thấp xét trên những chỉ số như điểm tín
dụng, tỷ lệ nợ trên thu nhập hoặc một số tiêu chí khác…[19]. Do đó họ rất khó khăn trong
việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng truyền thống chỉ dành cho những đối tượng trên chuẩn.
Không có một tài liệu chính xác nào quy định cụ thể về người đi vay dưới chuẩn nhưng ở
Mỹ hầu hết những người vay này có điểm tín dụng thấp hơn 620, chiếm gần 25% dân số
Mỹ. Chính vì vậy, nợ dưới chuẩn có mức độ rủi ro tín dụng rất cao song bù lại có mức lãi
suất rất hấp dẫn. Như đã đề cập ở trên, kể từ khi lãi suất cơ bản được điều chỉnh xuống
rất thấp, các điều kiện cho vay để mua nhà ngày càng được nới lỏng, chính sách chung
của chính phủ Mỹ lúc bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo và các
nhóm dân da màu, dân nhập cư vào Mỹ được vay tiền để mua nhà. Đây chính là nhóm
người thuộc vào thành phần được cho vay với loại lãi suất dưới chuẩn.
Khủng hoảng nợ dưới chuẩn bắt nguồn từ sự bất cân đối về nguồn vốn tín dụng
toàn cầu. Trong khi nguồn vốn tín dụng gia tăng từ các chính sách tiền tệ mở thì nhu cầu
huy động vốn của các doanh nghiệp sau các bê bối tài chính Mỹ và khủng hoảng các
công ty công nghệ thông tin từ năm 2001 lại suy giảm. Các chính phủ cũng ngày càng
kiểm soát thâm hụt ngân sách để tránh việc vay nguồn vốn bên ngoài. Sự bất cân đối
cung cầu về vốn dẫn đến việc thừa các nguồn vốn mà thị trường không sử dụng hiệu quả.
13
Cho vay nợ dưới chuẩn là một giải pháp hữu hiệu để giải quyết bài toán thừa vốn nhằm
(2)
(1)
14
Hình 1.3: Mô hình chứng khoán hóa OTD
(1): Khoản tiền mà người vay đi mua nhà phải hoàn trả lại cho ngân hàng (cả gốc
lẫn lãi).
(2): Tài sản thế chấp do người đi vay thế chấp cho ngân hàng
(3): Các ngân hàng bán lại các khoản vay cho các công ty trung gian
(4): Các công ty trung gian đóng gói các khoản vay, chứng khoán hóa chúng, tạo
thành các MBS và bán lại cho các nhà đầu tư.
Fannie Mae và Freddie Mac – hai công ty được sự bảo trợ của chính phủ đã đóng
vai trò là các công ty đặc biệt trong quá trình này. Bằng cách mua lại các khoản vay của
Ngân hàng thương mại, biến chúng thành các khoản cho vay thế chấp rồi bán lại cho các
nhà đầu tư phố Wall; hai công ty này đã giúp đổ vốn vào thị trường bất động sản. Các
loại chứng từ này được gọi là Mortgage backed securities – MBS (tạm gọi là các trái
phiếu) – một sản phẩm tài chính phái sinh được bảo đảm bằng các hợp đồng cho vay bất
động sản có thế chấp. Trái phiếu được phân ra thành nhiều gói được định mức tín nhiệm
khác nhau, có mức độ rủi ro khác nhau và cuống lãi suất khác nhau, ví dụ gói A, gói B …
gói Z. Những gói được xếp hạng cao nhất (chiếm đến 80% các trái phiếu) có các nguồn
tiền chảy vào khá chắc chắn nên được bán với mức xếp hạng AAA. Những trái phiếu
được xếp hạng thấp hơn là trái phiếu phải chịu rủi ro trước nếu có gì xảy ra nhưng phân
lời lại cao hơn. Như vậy, các nhà đầu tư có rất nhiều sự lựa chọn gói trái phiếu hình thành
từ chứng khoán hóa tùy theo sở thích rủi ro của mình. Vấn đề ở đây là, các khoản nợ của
cá nhân khác nhau sẽ có mức độ rủi ro khác nhau. Nhưng sau khi đóng thành một gói,
mức độ rủi ro lại được tính bằng nhau; tức là trong một gói cho vay, có những khoản nợ
sang cả các hình thức tín dụng khác. Sự khác nhau về rủi ro của các loại MBS đã kéo các
công ty bảo hiểm và thẩm định rủi ro vào cuộc. Trên thị trường xuất hiện một công cụ tài
chính mới là Credit Default Swap (CDS) – hợp đồng bảo lãnh nợ khó đòi hay còn gọi là
hợp đồng hoán đổi vỡ nợ tín dụng. Công cụ tài chính này được phát minh tại Châu Âu
vào những năm 1990. Những CDS đầu tiên là những hợp đồng thỏa thuận lập riêng giữa
các ngân hàng. Theo đó, ngân hàng A (bên mua sự bảo vệ), đồng ý trả một khoản phí
hàng năm trong một giai đoạn cụ thể (thường là 3 đến 4 năm) cho ngân hàng B (bên bán
sự bảo vệ) cho một danh mục các khoản nợ chuyên biệt. Ngân hàng B sẽ cam kết bù lại
những mất mát mà ngân hàng A phải chịu nếu trên danh mục nợ có những vụ vỡ nợ trong
suốt thời gian hiệu lực của hợp đồng. Cũng với mục đích tương tự như vậy, các CDS xuất
hiện trong giai đoạn này do các tổ chức tài chính và các công ty bảo hiểm quốc tế bán ra
cho các nhà đầu tư mua MBS, theo đó bên mua CDS được bên bán bảo đảm sẽ hoàn trả
đầy đủ số nợ cho vay nếu bên vay không trả được nợ. Cho tới thời điểm năm 2006, thị
trường bất động sản vẫn chưa có dấu hiệu nổ bong bóng, nhu cầu mua MBS của các nhà
16
đầu tư là rất cao, cùng với niềm tin vào một thị trường không thể xuống dốc, có rất ít các
vụ đổ vỡ tín dụng, nên các nhà bảo hiểm cho rằng việc tung những CDS ra thị trường là
rất khôn ngoan nhằm thu được lợi nhuận tối đa. Theo ước tính của Hiệp hội International
Swap and Derivatives Association – Hiệp hội hoán đổi chứng khoán phái sinh, trong thời
gian này, trên toàn thế giới, tổng giá trị của các hợp đồng bảo lãnh nợ khó đòi CDS
khoảng 54.600 tỷ USD CDS và 12.000 tỷ USD với trái phiếu phái sinh MBS [15].
Sự mua đi bán lại các công cụ tài chính phát sinh (MBS và CDS), cũng như sự
biến đổi của các khoản vay thành các công cụ đầu tư, thị trường tín dụng đã kéo theo quá
nhiều các thành phần đầu tư vào cuộc, cả trong và ngoài nước. Mối quan hệ chằng chịt
giữa người vay và nhiều thành phần cho vay trực tiếp cũng như gián tiếp đã khiến cả thị
trường tài chính sụp đổ nhanh chóng hơn khi thị trường bất động sản tuột dốc vào năm
2006 – Cục Dữ trữ Liên Bang (Fed) bắt đầu tăng lãi suất cơ bản. Như đã trình bày ở trên,
lãi suất của Fed liên tục giữ ở mức 1% trong một thời gian dài, tuy nhiên, do lo lắng về
gây ra bởi các khoản vay dưới chuẩn. Ngày 10/8 và 13/8/2007, Ngân hàng này đã cấp
thêm 62 tỷ Euro cho các ngân hàng và 47,7 tỷ Euro vào thị trường tiền tệ [6, tr18-20].
Ngân hàng Trung ương ở các nước phát triển cũng có những bước đi tương tự. Ngày
17/8/2007, Cục Dự trữ liên bang Mỹ hạ tỉ suất chiết khấu từ 6,25% xuống 5,75% và tiếp
tục hạ xuống còn 4,5% vào tháng 10/2007 để giúp các ngân hàng đối phó với những khó
khăn tín dụng [20]. Tại Anh, Nothern Rock – ngân hàng cho vay thế chấp địa ốc lớn nhất
- tuyên bố phá sản và phải quốc hữu hóa sau khi gặp vấn đề nghiêm trọng về khả năng
thanh khoản liên quan đến các khoản vay dưới chuẩn. Tại Mỹ, Cục Dự trữ liên bang Fed
và Bộ tài chính Mỹ đoạt quyền kiểm soát hai tập đoàn chuyên cho vay tín dụng Fannie
Mae và Freddie Mac nhằm hỗ trợ thị trường tín dụng. Hàng loạt những nỗ lực của chính
phủ Mỹ bao gồm việc cho phép các ngân hàng đầu tư được trực tiếp vay tiền từ Fed hay
việc nới lỏng những hạn chế cho vay giữa công ty mẹ - con cũng không đủ giúp cho hệ
thống tài chính vốn đã tê liệt sau một năm chống chọi với khủng hoảng nhà đất.
Khủng hoảng bắt đầu với những dấu hiệu khá rõ ràng cùng với những biến động
trên thị trường tín dụng. Ngày 15/09/2008 được đánh dấu là ngày khủng hoảng chính
thức bùng nổ, khi Lehman Brother – một trong bốn ngân hàng đầu tư lớn nhất Hoa Kỳ
18
tuyên bố phá sản. Cùng với việc mất hàng chục tỷ đôla giá trị cổ phiếu chỉ trong vài ngày,
sự sụp đổ của Lehman Brother là vụ phá sản lớn nhất tại Mỹ, không chỉ chấn động và
làm đảo lộn thị trường tài chính Wall Street, mà nhanh chóng tạo nên cơn địa chấn toàn
cầu, đẩy cuộc khủng hoảng lên tới đỉnh điểm mới.
III. TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ ĐẾN NỀN KINH TẾ
THẾ GIỚI
1. Hậu quả của khủng hoảng tài chính đến nền kinh tế Mỹ
Cuộc khủng hoảng tài chính, bắt đầu từ sự đổ vỡ của thị trường tín dụng thứ cấp
của Mỹ, đã gây ra những thiệt hại lên đến hàng chục nghìn tỷ USD và tác động đến hầu
hết các nền kinh tế lớn của thế giới. Các chuyên gia kinh tế cho rằng, phải mất hàng năm