Lời nói đầu
Thời đại ngày nay là thời đại của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và
công nghệ thông tin với xu hớng quốc tế hoá đời sống kinh tế xã hội, kết quả
của quá trình phân công lao động xã hội, mở rộng phạm vi toàn thế giới đã lôi
kéo tất cả các nớc và các vùng lãnh thổ từng bớc hoà nhập vào nền kinh tế thế
giới. Trong xu thế đó, chính sách biệt lập đóng cửa không thể tồn tại vì chính
sách đó đã làm kìm hãm quá trình phát triển kinh tế xã hội. Một quốc gia hay
vùng lãnh thổ muốn phát triển kinh tế xã hội buộc họ phải mở cửa với bên
ngoài.
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển ngoài những đặc điểm chung là
thiếu vốn đầu t, cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật và công nghệ yếu kém lạc hậu
Việt Nam còn có những đặc điểm riên là một n ớc vừa phải trải qua nhiều
năm chiến tranh ác liệt. Nền kinh tế sau chiến tranh bị tàn phá nặng nề, nghiêm
trọng, đời sống của đại đa số nhân dân khó khăn thiếu thốn là gánh nặng không
dễ vợt qua đợc. Trong hoàn cảnh nh vậy nguồn vốn từ bên ngoài sẽ có ý nghĩa
quan trọng đối với bớc phát triển ban đầu của ta. Đặc biệt là trong xu thế quốc tế
hoá đời sống kinh tế thế giới hiện nay các nớc đang phát triển bị đặt trong tình
huống phải tạo tốc độ phát triển nhanh đuổi kịp và từng bớc hội nhập nền kinh tế
thế giới. Do vậy, đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) là nhân tố hết sức quan trọng là
xu hớng tất yếu khách quan đối với tất cả các nớc trong đó có Việt Nam.
Trên cơ sở phân tích lý luận và thực trạng em xin trình bày đề tài: Lý
luận xuất khẩu t bản và thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài của Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay". Mặc dù có nhiều cố gắng nhng vì khả năng có hạn
nên không thể tránh khỏi những sai sót. Em rất mong sự chỉ bảo của các thầy cô
và ý kiến đóng góp của bạn đọc.
Em xin chân thành cảm ơn thầy đã giúp em thực hiện đề tài này.
Hà Nội ngày 8/5/2002
Chơng I
Xuất khẩu t bản và tầm quan trọng của vấn đề thu
hút đầu t trực tiếp nớc ngoài ở Việt Nam trong giai
đoạn phát triển kinh tế hiện nay
Theo Lênin thì xuất khẩu t bản là một trong năm đặc điểm kinh tế của
chủ nghĩa đế quốc, thông qua xuất khẩu t bản, các nớc t bản phát triển thực hiện
bóc lột đối với nớc lạc hậu và thờng là thuộc địa của nó. Nhng cũng chính Lênin
khi đa ra chính sách kinh tế mới đã nói rằng những ngời Cộng sản phải biết
lợi dụng những thành tựu kinh tế và khoa học kỹ thuật của chủ nghĩa t bản thông
qua hình thức Chủ nghĩa t bản Nhà nớc. Theo quan niệm này nhiều nớc chấp
nhận phần nào sự bóc lột của chủ nghĩa t bản để phát triển kinh tế nh thế nhanh
hơn là sự tự thân vận động hay đi vay vốn để mua kỹ thuật của các nớc công
nghiệp phát triển.
Mặt khác mức độ bóc lột của các nớc còn tuỳ thuộc vào điều kiện kinh
tế chính trị của các nớc tiếp nhận đầu t t bản. Nếu nh trớc đây hoạt động xuất
khẩu t bản của các nớc đế quốc chỉ phải tuân theo pháp luật của chính họ, thì
ngày nay các nớc nhận đầu t đã là các quốc gia độc lập có chủ quyền, hoạt động
đầu t nớc ngoài phải tuân theo pháp luật sự quản lý của chính phủ sở tại và
thông lệ quốc tế. Nếu chính phủ của nớc nhà không phạm sai lầm trong về quản
lý vĩ mô thì có thể hạn chế đợc những thiệt hại của hoạt động đầu t trực tiếp nớc
ngoài.
1.2. Khái niệm vốn đầu t
Vốn đầu t là các khoản tiền tệ đợc tích luỹ của Nhà nớc của các tổ chức
kinh tế, các công dân và các khoản tiền tệ huy động từ các nguồn khác đợc đa
vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất mở rộng nền kinh tế quốc dân.
Quá trình sử dụng vốn đầu t, xét về bản chất là quá trình thực hiện
chuyển vốn bằng tiền mặt (vốn đầu t) thành vốn sản xuất (hiện vật) để tạo nên
những yếu tố cơ bản của sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt.
1.3. Khái niệm vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài
(Foreign dineet investment - FDI)
Đầu t nớc ngoài có biểu hiện là một hình thức của hoạt động kinh tế đối
ngoại, là một quá trình trong đó tiền vốn của một nớc này di chuyển sang nớc
khác nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận.
Về nguyên tắc, đầu t nớc ngoài nhằm thu đợc lợi nhuận cao hơn trong n-
- Lợi nhuận của các chủ đầu t nớc ngoài thu đợc phụ thuộc vào kết quả
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc tiếp nhận FDI không gây nên tình
trạng nợ cho nớc chủ nhà, mà trái lại họ có thể sử dụng nguồn vốn này để phát
triển tiềm năng trong nớc, tạo cơ sở cho xây dựng và phát triển kinh tế quốc dân.
- Quyền quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn.
2. Các nguồn hình thức vốn đầu t của Việt Nam.
Các nguồn vốn đầu t tại Việt Nam có thể hình thành từ nhiều nguồn vốn
khác nhau tuỳ theo tiêu thức phân loại. Theo nghị định số 177/CP ngày 20 - 10 -
1994 của Chính phủ Việt Nam về việc ban hành điều lệ quản lý đầu t xây dựng
thì tại Việt Nam có các nguồn vốn đầu t sau:
+ Vốn ngân sách Nhà nớc: sử dụng để đầu t theo kế hoạch của Nhà nớc
đối với những dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, các dự án trồng rừng đầu
nguồn, rừng phòng hộ, phúc lợi công cộng, quản lý Nhà nớc, khoa học, an ninh
quốc phòng và dự án trọng điểm của Nhà nớc do chính phủ quyết định mà
không có khả năng trực tiếp thu hồi vốn.
+ Vốn tín dụng u đãi: Thuộc ngân sách Nhà nớc dùng để đầu t cho các cơ
sở của Nhà nớc trong từng thời kỳ (điện, xi măng, sắt thép, cấp thoát nớc ) và
một số dự án khác của các ngành có khả năng thu hồi vốn đợc xác định trong cơ
cấu kế hoạch của Nhà nớc. Việc bố trí các dự án này do chính phủ quyết định cụ
thể do từng thời kỳ kế hoạch.
+ Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (offcial Developmen Assitance - ODA
của các tổ chức quốc tế và chính phủ hỗ trợ trực tiếp cho chính phủ Việt Nam).
+ Vốn tín dụng thơng mại: dùng để đầu t mới, cải tạo, mở rộng, đổi mới
kỹ tuật và công nghệ các dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ có hiệu quả, có khả
năng thu hồi vốn và có đủ điều kiện vay vốn theo quy định hiện hành.
+ Vốn tự huy động của các doanh nghiệp Nhà nớc: dùng để đầu t cho
phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lợng và khả năng cạnh tranh của
sản phẩm.
+ Vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) là những khoản đầu t do các tổ
chức và cá nhân liên doanh với tổ chức và cá nhân trong nớc theo quy định của
3. Mục đích của viêc thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài ở Việt Nam trong
giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay.
Là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thu hút FDI vào việc phát
triển kinh tế nớc ta. Trên cơ sở phân tích thực trạng thu hút FDI trong thời gian
qua, tình hình triển khai các dự án có vốn FDI và tác động của nó đến sự phát
triển kinh tế để đề xuất một số kiến nghị và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cờng
thu hút và triển khai các dự án FDI, đồng thời thực hiện tốt hơn việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
II. Vai trò của việc thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài ở Việt Nam trong giai
đoạn phát triển hiện nay.
Đầu t nớc ngoài là vấn đề phổ biến của mọi quốc gia trên thế giới và đặc
biệt quan trọng đối với Việt Nam - một nớc nghèo mới bớc vào thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đây là một hoạt động rất mới ở nớc ta, đang diễn ra
sôi động, có tác động tốt đến phát triển kinh tế, song cũng có nhiều khó khăn,
phức tạp cả trong nhận thức lý luận và thực tiễn quản lý, đang cần đợc tiếp tục
nghiên cứu và tìm kiếm giải pháp.
1. Vai trò
Đầu t trực tiếp nớc ngoài là mắc xích quan trọng nhất của dòng tiền tác
động lẫn nhau giữa vốn, kỹ thuật, tăng trởng. Trong đời sống kinh tế quốc tế
FDI có vai trò rất quan trọng đặc biệt là đối với những nớc có nền kinh tế kém
phát triển.
Trớc hết, FDI cung cấp vốn bổ sung cho nớc chủ nhà để bù đắp sự thiếu
hụt nguồn vốn trong nớc, mà hầu hết các nớc đang phát triển đều có nhu cầu rất
lớn về nguồn vốn, để thực hiện công nghiệp hoá. Thực tế ở nhiều nớc nổi bật là
các nớc ASEAN và Đông Nam á nhờ có FDI đã thực hiện thành công và trở
thành các nớc NIC (Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông ) hay Singapore.
Thứ hai cùng với việc cấp vốn là công nghệ chuyển giao mà nớc chủ nhà
đã có và đợc cải tiến kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm quản lý, đội ngũ lao động
đợc đào tạo và bồi dỡng về nhiều mặt.
Thứ ba, do tác động của vốn và khoa học công nghệ, FDI có tác động
các nớc đang phát triển thờng có nguồn lao động và tài nguyên thiên nhiên cha
sử dụng hết hoặc không đợc sử dụng vì thiếu các điều kiện vật chất của quá trình
lao động sản xuất. Bản thân các nớc đang phát triển lại ít có khả năng tự tích luỹ
vì năng suất lao động thấp sản xuất hầu nh không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
trong nớc. Đặc biệt là trong xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới hiện
nay, các nớc đang phát triển bị đặt trong tình huống phải tạo đợc tốc độ phát
triển nhanh để đuổi kịp và từng bớc hội nhập vào nền kinh tế thế giới, nguy cơ
tụt hậu không cho phép các nớc đang phát triển đợc chậm chễ hay có cách lựa
chọn nào khác. Ngoài những đặc điểm chung của một quốc gia đang phát triển
Việt Nam còn có những nét đặc thù riêng của một đất nớc đã trải qua nhiều năm
chiến tranh ác liệt. Nền kinh tế sau chiến tranh bị tàn phá nặng nề lại vấp phải
những sai lầm nghiêm trọng trong quản lý và điều hành cả trên tầm vĩ mô và vi
mô nên đã rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Một nền kinh tế què quặt nghèo
nàn, lạc hậu đời sống của đại đa số nhân dân khó khăn thiếu thốn là gánh nặng
không thể vợt qua đợc.
Sau khi vợt qua đợc khủng hoảng nền kinh tế Việt Nam bớc vào giai đoạn
ổn định và phát triển (1991 - 1995) cũng là nhờ có nguồn lực bên ngoài, thông
qua vay nợ, viện trợ và hợp tác đầu t (trong thời kỳ 1991 - 1995 là 4,205 tỷ USD
so với 15,695 tỷ USD tổng vốn đầu t toàn bộ nền kinh tế vốn FDI chiếm 26,8%)
cùng với khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực trong nớc, chúng ta đã tạo
ra một bớc phát triển đầu tiên khá vững chắc. Tốc độ phát triển bình quân trong
giai đoạn này là 8,2% và nhờ có sự tăng trởng kinh tế mà tỷ lệ tích luỹ lên gần
20% GDP năm 1995. Thực tiễn trên đây là kết quả của những thay đổi trong
nhận thức và quan điểm của chúng ta về đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Quá trình thay đổi nhận thức ở Việt Nam về kinh tế đối ngoại chủ yếu
nảy sinh từ tình hình thực tiễn mới diễn ra từ những năm 80 gán liền với quá
trình đổi mới t duy kinh tế nói chung. Điểm mốc đánh dấu là năm 1986, năm
diễn ra Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI. Đại họi của đờng lối đổi
mới toàn diện đời sống kinh tế xã hội. Sau Đại hội ĐCSVN lần thứ VI với chính
sách đổi mới toàn diện đất nớc chúng ta đã đánh giá cao vai trò rất to lớn của
vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế. Chúng ta coi nguồn
lực trong nớc là quyết định, nguồn lực bên ngoài là quan trọng đối với sự phát
triển lâu dài của nền kinh tế. Chúng ta coi nguồn lực trong nớc là quyết định,
nguồn lực bên ngoài là quan trọng đối với sự phát triển lâu dài của nền kinh tế.
Chúng ta chủ trơng, đồng thời với việc tận dụg triệt để mọi thế mạnh và nguồn
lực trong nớc cũng cần phải biết tạo mọi điều kiện thuận lợi để khai thác có hiệu
quả nguồn lực bên ngoài.
2. Môi trờng đầu t ở Việt Nam.
2.1. ổn định môi trờng vĩ mô
Sự ổn định trong môi trờng vĩ mô là điều kiện tiên quyết của mọi ý định
và hành vi đầu t. Đối với vốn nớc ngoài điều này càng có ý nghĩa quan trọng
hơn bao giờ hết. Để thu hút đa dòng vốn đầu t nớc ngoài, nền kinh tế nội địa
phải là nơi an toàn cho sự vận động của tiền vốn đầu t, sau đó là nội lực sinh lợi
cao hơn những nơi khác. Sự an toàn của vốn đòi hỏi môi trờng vĩ mô ổn định
không gặp những rủi ro khó khăn do các yếu tố chính trị xã hội gây ra.
Một sự ổn định vững chắc nhng không phải và không thể là sự ổn định
bất động. Một sự ổn định đợc coi là vững chắc nhng bất động chỉ có thể tồn tại
trong ngắn hạn. Trong dài hạn loại ổn định này tiềm chứa trong nó khả năng gây
bất ổn định. Bởi vì rằng ổn định không đồng nhất với sự trì trệ, mà bản chất của
sự ổn định kinh tế gắn liền với năng lực tăng trởng, nhất là nỗ lực tăng trởng
nhanh gây trạng thái quá sáng của đầu t và hậu quả đi liền với nó là lạm phát.
Tạo ra và duy trì triển vọng tăng trởng nhanh lâu bền là một công việc đòi
hỏi sự nỗ lực rất lớn của chính phủ trong việc điều hành kinh tế vĩ mô. Tình hình
kinh tế Việt Nam trong những năm qua cho thấy, ở một chừng mực đáng kể vấn
đề này đã đợc giải quyết thành công. Bên cạnh việc thoát khỏi tình trạng rối loạn
khủng hoảng, tạo thế ổn định vững chắc nền kinh tế còn đạt tốc độ tăng trởng
cao liên tục bình quân tăng trởng GDP hàng năm trong thời kỳ 1991 - 1995 là
8,2%. Đặc biệt là xuất khẩu tăng nhanh năm 1995 tỷ lệ xuất khẩu/GDP đạt 25%
là mức cao trên thế giới phản ánh độ mở cửa ngày càng tăng của nền kinh tế
Việt Nam.
những cố gắng đó là đã giảm bớt đợc tình trạng căng thẳng về giao thông.
Hệ thống thông tin liên lạc trong vài năm gần đât bằng những nỗ lực
trong nớc và sự hợp tác với nớc ngoài, chúng ta đã tạo ra sự phát triển khá nhanh
trong lĩnh vực thông tin liên lạc. Các phơng tiện thông tin hiện đại nh telex,
facsimile và nối mạng Internet đã đa vào sử dụng.
Dịch vụ ngân hàng tài chính trong thời gian qua đã có nhiều chuyển biến
đáng kể. Hoạt động ngân hàng đã đợc cải cách một bớc quan trọng phù hợp với
sự phát triển của nền kinh tế.
Một mặt tăng cờng vai trò quản lý, kiểm soát tiền tệ của ngân hàng Nhà
nớc, đồng thời tăng tính độc lập tự chủ của các ngân hàng thơng mại trong việc
kinh doanh huy động vốn và cấp tín dụng.
3. Tình hình cấp giấy phép đầu t nớc ngoài từ 1988 đến nay
Đầu t trực tiếp nớc ngoài từ ngày 27/12/1987 đến nay 30/9/1997 Việt
Nam đã cấp giấy phép cho 2010 dự án với tổng số vốn đầu t đăng ký là
29.849.680.650 USD trong đó có 300 dự án đã bị giải thể với tổng số vốn đầu t
là 2.367.729.630 USD (chiếm 3% tổng số vốn đầu t). Một số dự án hết hạn hoạt
động là 76 dự án (chiếm 3,1% tổng số dự án). Do vậy tính đến hết ngày
30/9/1997 có 1634 dự án có giấy phép đầu t đang còn hiệu lực với tổng số vốn
27.185.174.972 USD đợc chia thành các năm ở bảng sau:
Bảng 1: Các dự án đã giải thể (tính đến ngày 30/9/1997)
Đơn vị tính: triệu USD
Năm Số dự án Vốn ĐT Vốn PĐ Lao động Doanh thu
1990 6 22.560 22.560 217 0,037
1991 36 9.260 9.260 23
1992 47 129.169 129.169 895 0,7
1993 34 50.135 50.135 574 11,747
1994 57 101.588 101.588 2.483 56.223
1995 58 272.744 272.744 1.577 29.537
1996 55 671.396 671.396 4.297 61.217
1997 7 16.440 5,699 133 0,375
Biểu đồ vốn đầu t các dự án đang hoạt động.
4. Tình hình thực hiện các dự án
4.1. Quy mô và nhịp độ đầu t
Nếu nh năm 1988 - năm đầu tiên thực hiện luật đầu t nớc ngoài chỉ có 37
dự án với tổng số vốn đầu t là 366 triệu USD thì đến hết năm 1999 Bộ kế hoạch
và đầu t đã cấp 1984 dự án với tổng số vốn đầu t hơn 28 tỷ USD cho hơn 900
Công ty, tập đoàn từ hơn 50 nớc và lãnh thổ thế giới, cho đến hết tháng 9 năm
1997 MPI đã cấp thêm 95 dự án với số vón 1070 triệu USD và tổng số vốn từ
1988 đến nay đã lên trên 29 tỷ USD với 1634 dự án đang hoạt động. Trong thời