quản lý công tác xã hội hóa giáo dục trung học cơ sở tỉnh hoà bình nhằm khắc phục tình trạng học sinh bỏ học - Pdf 13

ĐẠI HỌC THÁI
NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ
PHẠM

NGUYỄN VĂN HIỂN
QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO
DỤC
TRUNG HỌC CƠ SỞ TỈNH HOÀ BÌNH
NHẰM
KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG HỌC SINH BỎ
HỌC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO
DỤC
Mã số: 60 14
05
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN BÁ
DƯƠNG
THÁI NGUYÊN -
2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt

p : //

www .

Lr c

- t


TỈNH HOÀ BÌNH
NHẰM
KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG HỌC SINH BỎ
HỌC
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN-
2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt

p : //

www .

Lr c

- t

nu . e

du . v

n
Luận văn được hoàn thành tại
Trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.NGUYỄN BÁ DƯƠNG
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ
Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2009

Super visor: Pr .Phd NGUYEN BA DUONG
THAI NGUYEN- 2009
1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt

p : //

www .

Lr c

- t

nu . e

du . v

n
LỜI CẢM ƠN
Với tất cả sự thành kính và tình cảm chân thành của người học trò, tác
giả xin bày tỏ sự kính trọng và biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo
trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên; trường Đại học Sư phạm Hà
Nội. Đặc biệt tác giả xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm chỉ dạy, sự giúp đỡ
tận tình, thân thiện của Phó Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Bá Dương, người thầy
đã tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành
luận văn này.
Tác giả xin được trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo UBND
tỉnh Hoà Bình, lãnh đạo Sở GD&ĐT tỉnh Hoà Bình, lãnh đạo, chuyên viên
phòng Giáo dục Trung học Sở GD&ĐT, phòng GD&ĐT các huyện, thành
phố; cán bộ, giáo viên các trường Trung học cơ sở tỉnh Hoà Bình cùng gia

1. Lý do chọn đề tài
Nhân loại đã
bƣớc
sang thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, thế kỷ trí tuệ
con
ngƣời
giữ vai trò quyết định sự phát triển, với những xu thế toàn cầu hoá,
phát triển kinh tế tri thức, công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin, hình
thành nền văn minh trí tuệ
Những xu thế này là cơ hội lớn cần nắm bắt để con
đ
ƣ
ờng
công nghiệp
hoá, hiện đại hoá (CMH, HĐH)
nƣớc
ta, bên cạnh những
bƣớc
tuần tự phải có
những
bƣớc
nhảy vọt bằng cách vận dụng sáng tạo nhiều ý
tƣởng,
tri thức và
công nghệ hiện đại, nâng cao nội lực, đi thẳng vào một số ngành công nghệ
cao, một số ngành kinh tế tri thức, với quy mô và tốc độ ngày càng lớn hơn,
nhanh hơn. Những xu thế này đồng thời là những thách thức lớn cần vƣợt
qua. Đại hội Đảng lần thứ IX đã nhấn mạnh,
nƣớc
ta vẫn còn là một nƣớc

vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội; giáo dục là quốc sách hàng
đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển bền vững.
3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt

p : //

www .

Lr c

- t

nu . e

du . v

n
Nội dung cơ bản của XHHGD bao gồm hai khía cạnh song hành quan
hệ mật thiết và tác động lẫn nhau một cách biện chứng, đó là:
Thứ nhất, mọi tổ chức, mọi tập thể, mọi cá nhân theo khả năng của
mình đều có thể cung ứng cơ hội học tập cho cộng đồng.
Thứ hai, mọi
ngƣời
dân trong cộng đồng đều có thể tận dụng cơ hội để
có cơ hội học tập và tham gia phát triển GD, học để lập thân, lập nghiệp, nâng
cao chất
lƣợng
cuộc sống.
Xã hội hoá giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng

nhiều hình thức
phong phú, cùng với cuộc vận động xã hội đóng góp nhân lực, tài lực, vật lực,
huy động các nguồn đầu

cho GD. Đặc biệt là cấp học THCS, thực hiện đa
dạng hoá các loại hình
tr
ƣ
ờng
lớp, gắn kết giáo dục nhà
tr
ƣ
ờng
với cộng đồng
xã hội. Do vậy, sự nghiệp giáo dục của tỉnh Hoà Bình đã thu đƣợc những
thành tựu đáng tự hào về sự phát triển quy mô, số lƣợng và chất lƣợng giáo
dục và Đào tạo (GD&ĐT).
Tuy nhiên, trong những thành tích đã đạt
đƣợc,
việc thực hiện XHHGD
bậc trung học cơ sở tỉnh Hoà Bình nói chung vẫn còn gặp không ít khó khăn,
4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt

p : //

www .

Lr c


quan tâm đúng mức. Mặt khác, việc quản lý
nhà
nƣớc
về công tác XHHGD còn thiếu một số biện pháp phù hợp, hiệu quả.
Chính từ thực trạng trên, tác giả chọn đề tài: ''Quản lý công tác xã hội hóa
giáo dục trung học cơ sở tỉnh Hoà Bình nhằm khắc phục tình trạng học
sinh bỏ học''. Với đề tài này, mong muốn
đƣợc
góp phần đẩy mạnh sự phát
triển toàn diện giáo dục trung học cơ sở tại tỉnh Hoà Bình trong giai đoạn tiếp
theo.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở phân tích thực trạng và các biện pháp quản lý công tác xã
hội hoá sự nghiệp giáo dục trung học cơ sở ở tỉnh Hoà Bình, từ đó đề xuất
những biện pháp tăng
cƣờng
quản lý công tác XHHGD trung học cơ sở trên
địa bàn tỉnh nhằm khắc phục tình trạng học sinh bỏ học.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý giáo
d
ục,
xã hội hoá giáo
d
ục nói chung và xã hội hoá giáo
d
ục bậc trung học cơ
sở nói riêng.
- Phân tích thực trạng quản lý công tác xã hội hoá giáo dục bậc trung
học cơ sở từ năm 2004-2008.

và khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Các cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên và một
số khách thể khác tham gia công tác xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở tỉnh
Hoà Bình.
- Đối
tƣợng
nghiên cứu: Các biện pháp quản lý tăng
c
ƣ
ờng
công tác xã
hội hoá giáo dục bậc trung học cơ sở tỉnh Hoà Bình nhằm khắc phục tình
trạng học sinh bỏ học.
5. Giả thuyết khoa học
Việc quản lý công tác XHHGD tỉnh Hoà Bình nói chung và đối với
giáo dục trung học cơ sở tỉnh Hoà Bình nói riêng, trong thời gian qua tuy đã
đạt đƣợc những kết quả nhất định, song vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Nếu
đề xuất
đƣợc
những giải pháp quản lý phù hợp, khả thi hơn sẽ đẩy mạnh và
phát huy tốt hơn việc quản lý công tác XHHGD trung học cơ sở ở tỉnh, góp
phần nâng cao chất
lƣợng
GD&ĐT bậc THCS tỉnh Hoà Bình trong giai đoạn
tới, đồng thời khắc phục
đƣợc
tình trạng học sinh bỏ học hiện nay.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu vấn đề xã hội hoá giáo dục ở bậc trung
học cơ sở trên địa bàn tỉnh Hoà Bình giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2008.

-
Phƣơng
pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, khái quát hoá
những vấn đề lý luận cơ bản của đề tài, làm cơ sở cho nghiên cứu thực tiễn
các giải pháp nhằm tăng
c
ƣ
ờng
công tác XHHGD trung học cơ sở trong tỉnh.
- Vận dụng các
phƣơng
pháp xã hội học
nhƣ:
Điều tra, khảo sát, thâm
nhập thực tiễn, trao đổi với các khách thể nghiên cứu, tham khảo các văn bản
tổng kết của các điển hình tiên tiến trong GD&ĐT; xem xét, đánh giá các báo
cáo sơ kết, tổng kết về tình hình quản lý công tác XHHGD trung học cơ sở
trong tỉnh; từ đó phân tích, tổng hợp, rút ra đánh giá và những bài học kinh
nghiệm tạo tiền đề cho việc đề xuất các biện pháp quản lý tăng
c
ƣ
ờng
công
tác xã hội hoá giáo dục bậc trung học cơ sở tỉnh Hoà Bình nhằm khắc phục
tình trạng học sinh bỏ học trong giai đoạn tới.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục các tài liệu tham
khảo, luận văn
đƣợc
trình bày trong 3 chƣơng:


- t

nu . e

du . v

n
Ch
ƣ
ơng

1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Khái quát lịch sử vấn đề nghiên cứu
GD là sản phẩm của xã hội, đồng thời là một trong những nhân tố đánh
dấu nấc thang trình độ văn minh của các thời đại trong lịch sử. Sự tồn tại và
phát triển của GD chịu sự chi phối của sự phát triển kinh tế - xã hội, và
ngƣợc lại với chức năng của mình, GD có vai trò hết sức to lớn trong việc
tái sản xuất sức lao động cho xã hội; khơi dậy, thức tỉnh và phát huy tiềm
năng sáng tạo của mỗi con
ng
ƣ
ời,
tạo ra môi
tr
ƣ
ờng
cho sự phát triển kinh
tế xã hội. Chính vì điều đó mối quan hệ biện chứng giữa GD và cộng đồng

phát triển của một chủ
tr
ƣ
ơng
phát triển GD
đƣợc
thực hiện từ
nhiều năm qua. Với

t
ƣ
ởng
''lấy dân làm gốc'', ''Sự nghiệp cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng'' đã
đƣợc
Đảng ta vận dụng sáng tạo, là sức mạnh tiềm
tàng cho sự phát triển nền GD
nƣớc
nhà.
Dƣới
thời phong kiến và Pháp thuộc, giai cấp thống trị và thực dân chỉ
mở rất ít
tr
ƣ
ờng
học, chủ yếu
tr
ƣ
ờng
học đƣợc mở ra cho con em quý tộc


n
các thầy đồ tự mở lớp hoặc do dân tự tổ chức nên hầu hết phải chịu cảnh mù
chữ. Cách mạng tháng tám thành công là tiền đề tiên quyết để Đảng ta thực
hiện các quan điểm ''giáo dục là sự nghiệp của quần chúng''. Ngay từ những
ngày đầu của
nƣớc
Việt Nam độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra ''Lời kêu
gọi chống nạn thất học''. Trong lời kêu gọi, Ngƣời đã nêu rõ
ph
ƣ
ơng
châm,
nhiệm vụ chống nạn thất học, chống nạn mù chữ ''Những
ngƣời
đã biết chữ
hãy dạy cho những ngƣời
chƣa
biết chữ những ngƣời
chƣa
biết chữ hãy
gắng sức mà học cho biết, vợ
chƣa
biết chữ thì chồng bảo, em
chƣa
biết chữ
thì anh bảo, cha mẹ chƣa biết thì con cái bảo,
ngƣời
ăn
ngƣời

đƣợc
học hành'' của Hồ Chí Minh đã thực sự đi vào cuộc sống.
Đất nƣớc hoàn toàn thống nhất, cả hai miền Nam, Bắc cùng thực hiện
một hệ thống giáo dục và đã đạt
đƣợc
những thành quả nhất định. Song do cơ
chế tập trung, quan liêu bao cấp, nền giáo dục của chúng ta không khai thác
triệt để bài học phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để phát triển GD. Thay vì
thực hiện sự ''quản lý GD của nhà
nƣớc'',
chúng ta đã ''nhà
nƣớc
hoá GD'' làm
cho GD rơi vào thế bị động, không thu hút
đƣợc
các nguồn lực của toàn xã
hội tham gia vào các hoạt động GD. Tình trạng cơ sở vật chất, thiết bị giáo
dục xuống cấp, lạc hậu, sự phát triển của giáo dục không đáp ứng
đƣợc
yêu
cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc,
chƣa
bắt kịp xu thế phát triển
chung của thời đại.
Sự định
hƣớng
mang tính cách mạng và năng động đối với nền kinh tế
quốc gia, tất yếu đặt ra những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển giáo
9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt

[4]. Đến Nghị quyết TW 6 khoá IX, Đảng ta khẳng định: ''Đẩy mạnh xã hội
hoá sự nghiệp giáo dục, xây dựng xã hội học tập, coi giáo dục là sự nghiệp
của toàn dân, là giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục'' [5]. Đặc
biệt, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (tháng 4-2006) đã chỉ rõ:
''Thực hiện xã hội hoá giáo dục. Huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã
hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục. Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo
dục với các ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề
nghiệp để mở mang giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong
xã hội'' [6].
Để thực hiện chủ
tr
ƣ
ơng
XHH, Chính phủ ban hành Nghị quyết số
90/CP ngày 21/8/1997 về
Ph
ƣ
ơng

hƣớng
và chủ
tr
ƣ
ơng
xã hội hoá các hoạt
động giáo dục, y tế, văn hoá; Nghị định số 73/1999/NĐ-CP về chính sách
XHH, nhằm khuyến khích, huy động các nguồn lực trong nhân dân, trong
các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế để phát triển các hoạt động XHH
lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao. Ngày 18/4/2005 Chính phủ ban
hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo

nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục (QLGD) đã họp bàn và nghiên cứu về
vấn đề XHHGD. Nguyên Bộ
tr
ƣ
ởng
Phạm Minh Hạc đã khẳng định: ''Xã
hội hoá công tác giáo dục là một

t
ƣ
ởng
chiến lƣợc, một bộ phận của
đƣờng
lối giáo dục, một con
đ
ƣ
ờng
phát triển giáo dục
nƣớc
ta''[35;16]; tác
giả Phạm Tất Dong cũng nhấn mạnh: Phát triển giáo dục theo tinh thần xã
hội hoá và đề cao việc huy động toàn dân vào sự nghiệp cách mạng, coi đó


t
ƣ
ởng
chiến lƣợc của Đảng.

t

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt

p : //

www .

Lr c

- t

nu . e

du . v

n
tranh với thiên nhiên, để sinh tồn và phát triển con ngƣời cần phải hợp sức
nhau lại để tự vệ và lao động kiếm sống. Những hoạt động tổ chức, phối hợp,
điều khiển hoạt động của mọi
ngƣời
nhằm thực hiện những mục tiêu chung
là những dấu ấn đầu tiên của hoạt động quản lý.
Quản lý là một dạng lao động xã hội gắn liền và phát triển cùng với
lịch sử phát triển của loài
ng
ƣ
ời.
Quản lý là một dạng lao động đặc biệt, nó có
tính khoa học và nghệ thuật cao,
nh
ƣ

cho nó hoạt động và phát triển tối
ƣu
theo mục đích đặt ra'' [28].
''Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái
đó
nhƣ
thế nào bằng
phƣơng
pháp tốt nhất, rẻ nhất'' . (Wiliam - Taylor).
12
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt

p : //

www .

Lr c

- t

nu . e

du . v

n
Theo giáo trình quản lý của học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
thì ''Quản lý là sự tác động của cơ quan quản lý vào đối
t
ƣ
ợng

Đức đều đã khẳng định: Quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc
đẩy sự phát triển xã hội.
Có thể xét theo quan điểm: Quản lý = quản + lý, trong đó quản là coi
sóc, cai quản, chăm lo, còn lý là xử lý, biện lý. Quản mà không có lý thì sẽ
dẫn đến sự trì trệ, lý mà không có quản thì sẽ dẫn đến sự rối ren. Nhƣ vậy,
trong quản có lý, trong lý có quản nhằm tạo cho sự việc, hệ thống tổ chức nào
đó luôn ở trong tình trạng: ổn định, thích ứng, tăng
tr
ƣ
ởng,
phát triển.
Từ những điểm chung của các định nghĩa trên ta có thể hiểu quản lý
bao gồm các yếu tố nhƣ:
13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt

p : //

www .

Lr c

- t

nu . e

du . v

n
+ Phải có chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động ''quản lý'' (chủ

nhiên và xã hội nhân văn khác nhau
nhƣ
toán học, thống kê, kinh tế, tâm
lý, xã hội học
1.2.2. Khái niệm về quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện
t
ƣ
ợng
đặc biệt của xã hội loài
ngƣời;
bản chất của
giáo dục là truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài
ngƣời
từ
thế hệ này qua thế hệ khác. Vai trò của giáo dục ngày càng tăng lên cùng với
sự phát triển của xã hội loài ngƣời.
Vì thế ngay từ thời cổ đại các nhà triết học, giáo dục học, sử gia đã sớm
nhận thức
đƣợc
tầm quan trọng của nó.
14
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt

p : //

www .

Lr c


ngƣời.
GD là sản phẩm của xã hội, đồng thời là một trong những
nhân tố đánh dấu nấc thang trình độ văn minh của các thời đại trong lịch sử.
Trong sách ''Giáo dục học'' của A.Ilinna, nhà giáo dục học Xô Viết cho
rằng: Giáo dục là một quá trình truyền thụ kinh nghiệm lịch sử - xã hội cho
các thế hệ mới, nhằm chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống xã hội và bước vào
lao động sản xuất .
Ở Việt Nam, Giáo

Hà Thế Ngữ cũng
đƣa
ra khái niệm về giáo dục
tƣơng tự. Ông viết: Giáo dục là quá trình đào tạo con người có mục đích,
nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động
sản xuất bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm
lịch sử - xã hội của loài người .
Giáo dục
đƣợc
hiểu là hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch,
có hệ thống, nhằm tạo ra sức mạnh có tính đa dạng về thể chất và tinh thần
của con
ng
ƣ
ời,
đáp ứng
đƣợc
những nhu cầu phát triển kinh tế xã hội. Giáo
dục còn là quá trình hình thành cho con
ngƣời
những tri thức khoa học về thế

sẽ hiện diện trong môi
tr
ƣ
ờng
sống không chỉ bằng kiến thức, trí nhớ mà cả sự
lựa chọn về đạo đức và hệ thống giá trị. Nhƣ vậy, theo nghĩa chung nhất
Giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
và những kinh nghiệm nhằm chuẩn bị cho con người bước vào lao động và
sinh hoạt xã hội; là một nhu cầu tất yếu của xã hội loài người, đảm bảo cho
sự tồn tại và phát triển của con người trong xã hội.
Trong thời đại ngày nay các quốc gia trên thế giới cũng
nhƣ
Việt Nam,
đều ghi nhận và thừa nhận vị trí, vai trò to lớn của GD đối với sự phát triển
của xã hội loài ngƣời, đối với việc hình thành phát triển nhân cách và phẩm
giá con ngƣời. Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam
khẳng định: Giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh
tế-xã hội; giáo dục là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho
phát triển bền vững. Do đó QLGD đã trở thành chƣơng trình nghị sự, trở
thành mối quan tâm
th
ƣ
ờng
xuyên của Đảng và Nhà
nƣớc
ta.
Quản lý GD là một bộ phận của quản lý xã hội, cùng với sự đi lên của
tổ chức xã hội, khoa học quản lý ngày càng phát triển mạnh mẽ và có ý nghĩa
quyết định trong mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội. Khoa học QLGD đã
hình thành phát triển khá sớm, trở thành yếu tố quan trọng, góp phần nâng

tất cả các mắt xích của hệ thống, nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành
chung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, sự phát triển
thể lực và tâm lý trẻ em .
Trong cuốn sách Quản lý nhà
nƣớc
về giáo dục lý luận và thực tiễn do
Phó Giáo
s
ƣ
-Tiến
sĩ Đặng Bá Lãm chủ biên: Quản lý nhà nước về giáo dục là
quản lý theo ngành do một cơ quan trung ương đại diện cho Nhà nước là Bộ
GD&ĐT thực hiện. Đó là việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ
chế và chính sách phát triển giáo dục và đào tạo của đất nước, phù hợp với
sự phát triển kinh tế - xã hội nước nhà và của thời đại cũng như tổ chức thực
hiện thành công các vấn đề đó, nhằm không ngừng nâng cao trình độ dân trí
của dân và tạo cho đất nước một đội ngũ nhân lực có trình độ cao, bảo đảm
thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá .
QLGD là quá trình tác động của chủ thể quản lý vào toàn bộ hoạt động
GD nhằm thúc đẩy GD phát triển theo mục tiêu mà Đảng và Nhà
nƣớc
đã xác
định. QLGD
đƣợc
thể hiện thông qua quản lý mục tiêu,
ch
ƣ
ơng
trình đào tạo,
quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học, quản lý đội ngũ cán

nhƣ
tr
ƣ
ờng
học, trung
tâm giáo dục
thƣờng
xuyên
Quản lý giáo dục là: Hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch, hợp với qui luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo
nguyên lý và đường lối giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của
nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy
học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng
thái mới về chất.
Quản lý giáo dục thực chất là quản lý Nhà nƣớc trong giáo dục, đó là
sự sử dụng công quyền trong việc quản lý các hoạt động thuộc lĩnh vực giáo
dục. Luật Giáo dục tại điều 14 đã quy định: ''Nhà
nƣớc
thống nhất quản lý hệ
thống giáo dục quốc dân về mục tiêu,
chƣơng
trình, nội dung, kế hoạch giáo
dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập
trung quản lý chất lƣợng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản lý
giáo dục, tăng
c
ƣ
ờng
quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục.
[38; 4].

p : //

www .

Lr c

- t

nu . e

du . v

n
Xét về mặt khoa học thì quản lý giáo dục là sự điều khiển toàn bộ
những hoạt động của cộng đồng, điều khiển quá trình dạy và học nhằm tạo ra
những con ngƣời Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức
khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý
t
ƣ
ởng
độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho sự phát triển của xã hội.
Xét về mặt bản chất, quản lý giáo dục là một hiện
t
ƣ
ợng
xã hội, thể
hiện ở các mặt:
+ Quản lý giáo dục là một loại hình hoạt động, tuy chuyên biệt nhƣng
có ảnh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên h tt

p : //

www .

Lr c

- t

nu . e

du . v

n
Sự phát triển của nền kinh tế thị
tr
ƣ
ờng
định
hƣớng
xã hội chủ nghĩa ở
nƣớc ta, một mặt tạo ra những nguồn lực mới cho sự phát triển kinh tế; mặt
khác cũng tạo ra điều kiện và nhu cầu mới về đa dạng hoá các hình thức
GD&ĐT của cộng đồng dân
cƣ,
các tầng lớp ngƣời dân và các thành phần
kinh tế trong xã hội. Do vậy các nhà QLGD phải có chủ
tr
ƣ

GD quốc dân, đồng thời nâng cao tính chủ động, tự chủ của các cơ sở
GD&ĐT. Để nâng cao chất
lƣợng,
năng lực của đội ngũ cán bộ QLGD, Đảng
và Nhà
nƣớc
ta đã hết sức quan tâm đến việc xây dựng cơ sở vật chất, phát
triển cơ sở giáo dục làm nhiệm vụ đào tạo, bồi
dƣỡng
đội ngũ cán bộ QLGD
các cấp, các ngành học. Hiện nay, chúng ta đã có Học viện quản lý giáo dục,
tr
ƣ
ờng
Cán bộ quản lý giáo dục, nhiều
tr
ƣ
ờng
đại học, cao đẳng và một số
loại hình cơ sở GD khác trên cả nƣớc đã có các khoa, các lớp đào tạo, bồi
dƣỡng
cán bộ QLGD.
Chƣơng
trình đào tạo - bồi
d
ƣ
ỡng

đƣợc
cụ thể hoá, hiện


bản, vv ). Trong
tr
ƣ
ờng
hợp này, xã hội trùng hợp với hình thái kinh tế
xã hội.
- Theo nghĩa rộng, là toàn bộ các hình thức hoạt động chung của con
ngƣời, đã hình thành trong lịch sử. Theo T. Makiguchi: Xã hội không chỉ là
một quần thể gồm những con người mà còn là sự hoà hợp tinh thần và tâm
linh nữa. Khái niệm xã hội ít nhất cũng bao gồm:
+ Xã hội gồm nhiều cá nhân khác nhau,
tƣơng
tự
nhƣ
một cơ thể sống
bao gồm nhiều tế bào riêng biệt;
+ Một mục đích chung, dù có
đƣợc
các thành viên ý thức hay không,
mà mọi
ngƣời
đều biết tới;
+ Các thành viên chia sẻ mối liên đới hay
t
ƣ
ơng
tác trong một thời
gian nào đó,
t

p : //

www .

Lr c

- t

nu . e

du . v

n
* Xã hội hoá giáo dục
Tr
ƣ
ớc
khi đi vào phân tích khái niệm ''Xã hội hoá giáo dục'', chúng ta
cần làm rõ thuật ngữ xã hội hoá (XHH). XHH - là thuật ngữ đã
đƣợc
các nhà
kinh tế học, xã hội học, giáo dục học từ những năm cuối thế kỷ XIX và những
năm đầu của thể kỷ XX sử dụng, nhằm biểu đạt một số vấn đề thuộc các lĩnh
vực nghiên cứu của mình.
Xã hội hoá là một khái niệm của nhân loại học và xã hội học,
đƣợc
hiểu
theo hai nghĩa:
- Là sự tham gia rộng rãi của cộng đồng xã hội vào một số hoạt động


cung ứng các nguồn lực và dịch vụ và để tăng cường sự tham gia của cộng
đồng một cách tự lực và bền vững .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status