BỘ CÔNG THƯƠNG
TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 8464
HÀ NỘI - 2010
Nghiên cứu thiết kế chế tạo thiết bị hút, dập bụi cho các khu vực đào lò
VIỆN CƠ KHÍ NĂNG LƯỢNG VÀ MỎ - VINACOMIN
2
BỘ CÔNG THƯƠNG
TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
VIỆN CƠ KHÍ NĂNG LƯỢNG VÀ MỎ - VINACOMIN
***** BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ CHẾ TẠO THIẾT BỊ HÚT,
DẬP BỤI CHO CÁC KHU VỰC ĐÀO LÒ
NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN
TT Họ và tên
Chức danh,
nghề ngiệp
Cơ quan
1
Hoàng Văn Vĩ
Chủ nhiệm đề tài Viện CK NL & Mỏ - Vinacomin
2
Trần Đức Thọ
ThS. Cơ khí Viện CK NL & Mỏ - Vinacomin
3
Nguyễn Quốc Tính
KS. Cơ khí Viện CK NL & Mỏ - Vinacomin
4
Nguyễn Đức Minh
KS. Cơ khí Viện CK NL & Mỏ - Vinacomin
5
Trần Ngọc Minh
KS. Máy mỏ Viện CK NL & Mỏ - Vinacomin
6
Hà Thị Thúy Vân
Kỹ sư Kinh tế Viện CK NL & Mỏ - Vinacomin
7
Nguyễn Xuân Trường
KS. Cơ điện Công ty Than Khe Chàm - Vinacomin
8
á vẫn không được trừ tuyệt đối. Ở
nhiều vị trí khi combai cắt đất đá lượng bụi phát sinh ra rất nhiều. Hậu quả của nó
là rất lớn có thể thấy rõ:
- Ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người lao động trong gương.
- Giảm tầm quan sát của thợ vận hành, làm giảm độ chính xác trong điều khiển.
- Khó khăn di chuyển và phối hợp trong đội thợ.
- Nguy c
ơ nổ bụi cao (đặc biệt khi cắt than).
- Giảm độ bền của thiết bị trong gương.
Nội dung của đề tài:
- Tổng quan chiến lược phát triển ngành Than Việt Nam và định hướng
khai thác than hầm lò.
- Đề tài đánh giá sơ lược công tác đào lò Việt Nam và trên thế giới và đưa
ra hiện trạng ô nhiễm bụi tại các khu vực đào lò Việt Nam, khái quát tình hình
dập bụi sau máy combai đào lò trên thế giới.
- Đ
ánh giá tác hại của bụi đối với con người và tác hại khác.
- Đề tài đã phân tích các công nghệ dập bụi và lựa chọn công nghệ dập bụi
sau máy combai đào lò AM-50Z theo sơ đồ công nghệ đào lò.
- Phân tích lựa chọn thiết bị theo mẫu, mô tả kết cấu và tiến hành lập thiết
kế chi tiết sản phẩm.
- Tính toán kiểm nghiệm một số thông số của thiết bị (lưu lượng gió hút;
l
ượng nước tiêu hao; vận tốc dòng nước; vận tốc luồng gió).
- Lập thuyết minh hướng dẫn sử dụng (đóng quyển riêng).
Kết quả đạt được của đề tài là 01 báo cáo tổng kết; 01 bộ bản vẽ thiết kế
thiết bị hút dập bụi HDB.260 và Quạt xoay gió QXG.700; 01 bộ thuyết minh
hướng dẫn sử dụng của thiết bị.
Từ khóa:
Hút - dập bụi
II.1.1. Các phương pháp công nghệ và thiết bị dập xử lý bụi 18
II.1.2. Lựa chọn công nghệ dập bụi cho các khu vực đào lò 24
II.2. LỰA CHỌN THIẾT BỊ THEO MẪU 30
II.2.1. Lựa chọn thiết bị theo sơ đồ công nghệ đào lò 30
II.2.2. Lựa chọn thông số kỹ thuật 32
Chương III: THIẾT KẾ SẢN PHẨM THEO MẪU 34
III.1. MÔ TẢ KẾT CẤU SẢN PHẨM 34
III.2. THIẾT KẾ CHI TIẾT SẢN PHẨM VÀ LẬP THUYẾT MINH HƯỚNG DẪN SỬ
DỤNG 35
III.2.1. Thiết kế chi tiết 35
III.2.2. Lựa chọn vật liệu chế tạo 38
III.2.3. Lập thuyết minh hướng dẫn sử dụng 38
III.3. KHẢ NĂNG CHẾ TẠO SẢN PHẨM TRONG NƯỚC 38
Chương IV: TÍNH TOÁN KIỂM NGHIỆM MỘT SỐ THÔNG SỐ CỦA
THIẾT BỊ 39
IV.1. TÍNH KIỂM NGHIỆM SO SÁNH LƯU LƯỢNG GIÓ HÚT 39
IV.2. TÍNH KIỂM NGHIỆM MỘT SỐ THÔNG SỐ CỦA QUẠT HÚT 40
IV.3. TÍNH TOÁN KIỂM NGHIỆM LƯỢNG NƯỚC TIÊU HAO 41
IV.4. TÍNH ĐƯỜNG KÍNH LỖ VÒI PHUN VÀ VẬN TỐC NƯỚC 41
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
KẾT LUẬN 43
KIẾN NGHỊ 44
Nghiên cứu thiết kế chế tạo thiết bị hút, dập bụi cho các khu vực đào lò
VIỆN CƠ KHÍ NĂNG LƯỢNG VÀ MỎ - VINACOMIN
6
kém đi rất nhiều, nguy cơ hỏng hóc thiết bị do bụi bám vào cao. Đó là còn chưa
kể đến việc mất an toàn khi nguy cơ nổ bụi cao hơn. Trên cơ sở đó Viện Cơ khí
Năng lượng và Mỏ - TKV đã đăng ký thự
c hiện đề tài “Nghiên cứu thiết kế chế
tạo thiết bị hút, dập bụi cho các khu vực đào lò” với Bộ Công Thương và đã
được phê duyệt theo Quyết định giao nhiệm vụ số 6228/QĐ-BCT ngày 10 tháng
12 năm 2009.
* Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Xây dựng bộ bản vẽ thiết kế phục vụ công tác sửa chữa và chế tạo mới hệ
thống hút dập bụ
i trong nước.
- Nâng cao năng lực thiết kế sản phẩm cơ khí.
Nghiên cứu thiết kế chế tạo thiết bị hút, dập bụi cho các khu vực đào lò
VIỆN CƠ KHÍ NĂNG LƯỢNG VÀ MỎ - VINACOMIN
7
- Tiến tới chế tạo hoàn thiện các sản phẩm hệ thống hút dập bụi trong nước,
phục vụ sản xuất than trong Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam.
Tạo môi trường làm việc trong sạch và an toàn hơn cho người lao động.
* Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thiết bị hút dập bụi DCU-600/260-320
do Ba Lan chế tạo, xử lý bụi tại gương đào lò cho dây chuyề
n đào lò bằng máy
combai AM-50Z.
- Đi sâu nghiên cứu, nguyên lý hoạt động, kết cấu của thiết bị hút dập bụi
theo dây chuyền công nghệ và tính toán thiết kế sản phẩm.
* Phạm vi nghiên cứu và công việc của đề tài:
- Thu thập số liệu, điều kiện kỹ thuật, khảo sát và đánh giá lượng bụi tại các
khu vực đào lò hiện nay. Tìm hiểu một số công nghệ và công tác dập bụi của m
ột
tổ
n thất tài nguyên, an toàn lao động, bảo vệ môi trường sinh thái, đáp ứng tối đa
nhu cầu than cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thị trường hoá ngành
than để thu hút nguồn lực của mọi thành phần kinh tế vào đầu tư phát triển
ngành; đặc biệt là thu hút đầu tư nước ngoài vào thăm dò, khai thác than ở vùng
đồng bằng sông Hồng với quy mô lớn sau năm 2020.
I.1.2. Mục tiêu phát triển sản lượng than của Vinacomin
Dự
kiến sản lượng than khai thác đạt khoảng 48 ÷ 50 triệu tấn vào năm
2010; khoảng 60 ÷ 65 triệu tấn vào năm 2015; khoảng 70 ÷ 75 triệu tấn vào năm
2020 và > 80 triệu tấn vào năm 2025; Tốc độ tăng sản lượng khai thác đạt 5 ÷
6%/năm trong giai đoạn 2010 ÷ 2015 và ∼3%/năm trong giai đoạn 2016 ÷ 2025.
Sản lượng than theo quy hoạch được thể hiện trong bảng 1.
Bảng 1: Sả
n lượng than theo quy hoạch
1
Sản lượng năm (Triệu tấn)
TT Tên gọi
2010 2015 2020 2025
1 Than nguyên khai
52,285 67,615 81, 315 100,482
1.1 Lộ thiên
24,980 16,341 12,515 9,832
1.2 Hầm lò
27,305 51,274 68,800 90,650
1
- Mở rộng, nâng công suất tối đa các mỏ hiện có, tích cực đầu tư các mỏ
hầm lò công suất lớn để đảm bảo sản lượng than khai thác hầm lò tăng trưởng với
t
ốc độ cao, bền vững trên cơ sở tài nguyên, trữ lượng và công nghệ khai thác.
- Đẩy mạnh việc ứng dụng cơ giới hóa trong công tác đào lò bằng các thiết
bị hiện đại: Xe khoan tự hành, máy bốc xúc có năng suất cao, máy đào lò liên
hợp, … đi đôi với công tác đào lò, công tác chống lò cũng được tăng cường tối đa
việc áp dụng các vật liệu và công nghệ chống giữ tiên tiến: Chống lò bằ
ng vì neo,
vì neo kết hợp bê tong phun tại các khu vực có điều kiện địa chất thích hợp.
Nghiên cứu thiết kế chế tạo thiết bị hút, dập bụi cho các khu vực đào lò
VIỆN CƠ KHÍ NĂNG LƯỢNG VÀ MỎ - VINACOMIN
10
- Hoàn thiện các thông số hệ thống khai thác lò chợ theo hướng tăng chiều
dài lò chợ, tăng chiều dầy lớp khấu hoặc khấu hết chiều dầy vỉa.
- Nghiên cứu và áp dụng cơ giới hóa đồng bộ cho các khu vực vỉa dốc và
cơ giới hóa hạ trần than để có lò chợ có sản lượng đến 2,0 triệu tấn/năm, thay thế
các lò chợ chống bằng gỗ, cột thủy l
ực đơn thân thiện với môi trường (không
dùng dầu nhữ hóa mà dùng 100% nước) để chống giữ cho các lò chợ có chiều
dầy vỉa đến 0,8m nhằm tiết kiệm triệt để tài nguyên.
…
Qua đó thì nhu cầu phải xuống sâu để nâng cao công suất của mỏ than hầm
lò thì khối lượng lò đào trong đá càng tăng lên một cách đáng kể. Do đó việc lựa
chọn combai đào lò trong đá rắn cứng đến rất c
ứng (UCS = 80 - 120MPa và lớn
hơn 120MPa) là một xu thế tất yếu.
Hiện nay, các mỏ than hầm lò Việt Nam áp dụng song song 2 công nghệ
đào lò là khoan nổ mìn hoặc sử dụng máy combai đào lò hạng nhẹ (AM-45 và
Ở tất cả các công đoạn sản xuất mỏ đều phát sinh bụi. Ở các mỏ hầm lò
lượng bụi phát sinh nhiều nhất là ở khâu khấu than hoặc đào lò than bằng máy
Combai không sử dụng hệ thống chống bụi, ở giai đoạn khoan nổ mìn ở lò chợ và
lò chuẩn bị, ở điểm chuyển tải than. Theo các số
liệu thống kê, khi khai thác 1000
tấn than ở mỏ hầm lò tạo ra 11-12 kg bụi. Với sản lượng khai thác hàng năm như
trên thì lượng bụi được tạo ra ở các mỏ hầm lò là rất lớn.
Năm 2003 khi công ty than Mông Dương đưa chiếc combai đầu tiên và áp
dụng để đào lò, ngoài những ưu điểm vượt trội thì người ta cũng nhận ra rằng
việc đào lò bằng combai luôn gặp khó khăn về khâu thông gió - xử lý bụ
i. Theo
số liệu khảo sát thực tế của Viện Khoa học Công nghệ mỏ - Vinacomin đã đo
đạc, xử lý và đưa ra con số về nồng độ bụi tại khu vực cách gương đào lò trong
lúc đang thi công là 196mg/m
3
không khí (gấp nhiều lần so với quy phạm kỹ
thuật an toàn trong các hầm lò than và diệp thạch TCN-14-06-2006 cho phép là
10mg/m
3
). Lượng bụi này sinh ra khi máy combai AM-50Z đang đào tại một
gương lò có diện tích 9,6m
2
, trong điều kiện đường lò thi công chỉ sử dụng một
hệ thống thông gió đẩy bằng quạt BM-6M. Điều này cũng xảy ra tương tự đối
với các đường lò than áp dụng đào bằng máy combai AM-50Z khác trong
Vinacomin. Một số công ty đã nỗ lực trong việc khắc phục vấn đề trên bằng
nhiều cách khác nhau như: Tăng công suất quạt gió đẩy, bổ sung thông gió hút,…
Tuy nhiên, hiệu quả đem lại h
ầu như không đáng kể.
Nghiên cứu thiết kế chế tạo thiết bị hút, dập bụi cho các khu vực đào lò
quả của sự kết hợp trên vẫn không có hiệu quả, vì hệ thống phun nước chỉ dập
được 1 phần bụi quanh khu vực đầu đào (đầu khấ
u) còn khi bụi phát tán rộng ra
thì hệ thống phun nước không còn hiệu quả. Chính vì vậy, năm 2008 Công ty
Than Khe Chàm - Vinacomin đã nhập thiết bị hút dập bụi DCU-600C/260-320
của Ba Lan để dập bụi tại các khu vực đào lò khi sử dụng máy combai.
Ngoài ra, để ngăn ngừa bụi hít vào phổi thì các công nhân lao động trực
tiếp tại các khu vực đào lò cũng được trang bị khẩu trang. Tuy nhiên, việc sử
Nghiên cứu thiết kế chế tạo thiết bị hút, dập bụi cho các khu vực đào lò
VIỆN CƠ KHÍ NĂNG LƯỢNG VÀ MỎ - VINACOMIN
13
dụng khẩu trang có mặt trái là làm giảm nhanh chóng sức khỏe người lao động do
giảm lượng không khí được hít thở và phải hít thở mạnh hơn.
I.3.2.2. Các mỏ hầm lò trên thế giới
Công nghệ đào lò của các mỏ than trên thế giới, đã phát triển ở mức cao,
phần lớn là sử dụng các loại máy combai đào lò hiện đại. Trên các máy combai
đào lò đều có trang bị hệ thống phun nước áp lực cao, phun trên diện rộng, các
hạt nước nhỏ cho hiệu quả dập bụi tương đối cao.
Tuy nhiên, việc sử dụng hệ thống phun nước dạng sương mù trên diện rộng
lắp trên các máy combai đào lò làm giảm tầm quan sát của người điều khiển máy mà
hiệu quả dập bụi vẫn chưa được triệt để khi bụi phát tán ra ngoài vùng có hạt nước.
Dưới đây là một số hình ảnh (hình 1) phun nước dập bụ
i của các máy
combai đào lò trong phòng thí nghiệm.
Hình 1: Phun nước áp lực cao trên combai của (Courtesy of REMAG)
Để dập tối đa lượng bụi phát sinh trong quá trình đào lò bằng máy combai
một số nước trên thế giới đã nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các thiết bị hút dập bụi
đi kèm máy combai đào lò nhằm hút và dập tối đa các lượng bụi sinh ra. Đã có
nhiều đơn vị quan tâm nghiên cứu, chế tạo các thiết bị này như: CFT (Đức),
Nghiên cứu thiết kế chế tạo thiết bị hút, dập bụi cho các khu vực đào lò
VIỆN CƠ KHÍ NĂNG LƯỢNG VÀ MỎ - VINACOMIN
15Hình 6: Thiết bị hút - dập bụi của Howden (Anh)
Ngoài ra, một điều quan trọng nữa là trang bị các khẩu trang phòng ngừa
hít phải bụi phát tán cho công nhân làm việc trong hầm lò. Các khẩu trang phải
đảm bảo các yêu cầu sau:
- Những công nhân làm việc trong hầm lò khi tiến hành công việc trong lò
phải thường xuyên đeo khẩu trang phòng bụi.
- Sử dụng khẩu trang phòng bụi đã đạt tiêu chuẩn kiểm định nhà nước
- Sử dụng khẩu trang phòng bụi ở trong môi tr
ường làm việc phải có nồng
độ ôxy trên 18%.
- Việc sử dụng khẩu trang phòng bụi, kiểm tra và sửa chữa phải tuân thủ
theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
Với sự thực hiện đồng thời các giải pháp trên chúng ta sẽ tạo ra được một
môi trường làm việc trong sạch, đảm bảo sức khoẻ cho người lao động.
I.4. TÁC HẠI CỦA BỤI
I.4.1. Khái niệm về bụi
Có rất nhiều khái niệm về bụi, dưới đây là một số khái niệm về bụi đang
được sử dụng.
- Người ta gọi bụi là những đám khói được tạo nên bởi những hạt nhỏ của
đất cát, khoáng vật và hơi kim loại.
- Bụi là những hạt vô cùng nhỏ, nó bay lượn trong không khí và không tự
rơi xuống.
- Bụi là những hạt nhỏ
Những hiện tượng trên sẽ tăng dần cùng sự tiến triển của bệnh dẫn đến
phổi bị sơ cứng.
Một điểm đáng lưu ý nữa là khi đã bị mắc bệnh bụi phổi thì thường có
những bệnh xẩy ra kèm theo như:
+ Bệnh lao phổi
+ Viêm niêm mạc phổi kéo dài
+ Viêm phế quản kéo dài
+ Chứng dãn phế
quản kéo dài
+ Tức ngực kéo dài
Nghiên cứu thiết kế chế tạo thiết bị hút, dập bụi cho các khu vực đào lò
VIỆN CƠ KHÍ NĂNG LƯỢNG VÀ MỎ - VINACOMIN
17
Như vậy bụi phổi là một bệnh rất nguy hiểm bởi trong gian đoạn đầu khi
các biểu hiện của bệnh thường không có và khi các biểu hiện của bệnh rõ ràng thì
lúc đó các bộ phận trong phổi đã bị sơ hoá và công tác chữa trị cũng khó có thể
đem lại sự phục hồi nguyên trạng của phổi bệnh nhân trước khi bị bệnh bụi phổi.
Để đảm bảo s
ức khoẻ cho người lao động, phòng tránh được bệnh bụi phổi
nhất là trong môi trường làm việc hầm lò, các công ty cần thiết phải lập những
đối sách thật cụ thể khắc phục bệnh bụi phổi. Do vậy, để bảo vệ sức khỏe cho
người lao động tránh được độc hại do nguyên nhân bụi gây ra cần phải nghiên
cứu và xây dựng các đối sách phòng bụi theo hướng sau:
- Khống chế không cho bụi phát tán.
- Lo
ại trừ bụi phát tán
- Xây dựng những đối sách phòng bụi như: Sử dụng các biện pháp cần
thiết để không hít phái bụi phát tán
Như chúng ta đã biết việc loại trừ bụi khi bụi đã phát tán vào không khí là
ta chọn phương pháp xử lý bụi phù h
ợp.
Các phương pháp xử lý bụi có thể chia thành các nhóm như bảng 2 dưới đây:
Bảng 2: Các phương pháp xử lý bụi
Lọc
Dập bằng
nước
Dập bằng tĩnh
điện
Khử bụi dựa
vào lực ly tâm
Khử bụi dựa
vào trọng lực
- Thùng lọc
gốm
- Lọc có vật
đệm
- Lọc túi (màng)
- Dàn mưa
- Sục khí
- Đĩa quay
- Lọc tầng kiểu
Venturi
- Lọc tĩnh điện - Thiết bị sử
dụng lực quán
tính
- Thiết bị sử
dụng lực ly tâm
(cyclon)
- Thiết bị quay
7 Lọc tĩnh điện 10 – 0,005 85 - 99 Hình 7: Hiệu suất tách bụi của một số kiểu thiết bị
Bảng 3 và hình 7 cho thấy rằng các thiết bị xử lý bụi bằng lực quán tính và
các cyclon rất tiện để tách các hạt bụi tương đối lớn. Loại cyclon tổ hợp có hiệu
suất lớn nhất. Dùng các thiết bị lọc điện, thiết bị lọc ống tay áo và các thiết bị lọc
bụi kiểu ướ
t có thể đạt được độ tinh khá cao.
Nghiên cứu thiết kế chế tạo thiết bị hút, dập bụi cho các khu vực đào lò
VIỆN CƠ KHÍ NĂNG LƯỢNG VÀ MỎ - VINACOMIN
20
Thiết bị lọc bụi kiểu ướt chỉ dùng khi chất khí cần xử lý chịu được nhiệt độ
thấp và ẩm. Trong trường hợp này các thiết bị lọc bụi loại ướt có nhiều ưu điểm
hơn so với thiết bị lọc điện ở chỗ thiết bị giản đơn và rẻ tiền. Ngoài ra, người ta
còn dùng các thiết bị lọc ướt để
lọc sạch khí khỏi bụi, khói và mù (tới 90%). Ứng
dụng thiết bị lọc bụi loại ướt trong nhà máy có nhiều khó khăn vì ở đây quá trình
tinh lọc có liên quan tới việc thu gom và thải một lượng lớn nước có tính axit.
Thiết bị lọc điện là một loại thiết bị lọc sạch bụi có hiệu suất cao; trong đó muốn
lọc các loại khí khô ta dùng loại thiết bị lọc đi
ện thanh bản, còn để lọc sạch các
loại bụi và hơi mù khó hấp thụ, cũng như để lọc sạch được tốt hơn, ta dùng loại
thiết bị lọc điện kiểu ống và khi cần lọc sạch một thể tích khí lớn thì dùng thiết bị
lọc điện tổ hợp, rẻ.
Tóm lại, muốn chọn được thiết bị để tách bụi và lọ
c sạch khí có hiệu quả,
phải xuất phát từ các yêu cầu chính sau:
1. Thành phần hạt bụi và kích thước hạt của nó.
các hạt bụi có khối lượng lớn hơn nhiều so với các phân tử khí sẽ chịu tác dụng
của lực ly tâm văng ra phía xa trục hơn, phần gần trục xoáy lượng bụi sẽ rất nhỏ.
Nếu ta giớ
i hạn dòng xoáy trong một vỏ hình trụ thì bụi sẽ va vào thành vỏ
và rơi xuống đáy. Khi ta đặt ở tâm dòng xoáy một ống dẫn khí ra, ta sẽ thu được
khí không có bụi hoặc lượng bụi đã giảm đi khá nhiều.
Hình 9: Sơ đồ xử lý bụi bằng cyclon
Nghiên cứu thiết kế chế tạo thiết bị hút, dập bụi cho các khu vực đào lò
VIỆN CƠ KHÍ NĂNG LƯỢNG VÀ MỎ - VINACOMIN
22
* Phương pháp xử lý bụi bằng màng lọc, lọc túi:
Dòng khí và bụi được chặn lại bởi màng hoặc túi lọc; túi (màng) này có
các khe (lỗ) nhỏ cho các phân tử khí đi qua dễ dàng nhưng giữ lại các hạt bụi.
Khi lớp bụi đủ dày ngăn cản lượng khí đi qua thì người ta tiến hành rung hoặc
thổi ngược đê thu hồi bụi và làm sạch màng. Màng lọc là những tấm vải (nỉ) được
đặt trên một giá đỡ là nh
ững tấm cứng đan hoặc tấm cứng liền có đục lỗ. Túi lọc
bằng vải, nỉ có dạng ống một đầu hở để khí đi vào còn đầu kia khâu kín. Để túi
được bền hơn người ta thường đặt trong một khung cứng bằng lưới kim loại hoặc
nhựa. Năng suất lọc của thiết bị phụ thuộc vào bề mặt lọc, loại bụi và bả
n chất,
tính năng của vật liệu làm túi (màng).
* Thu bụi bằng phương pháp ướt:
Các phương pháp ướt thường được sử dụng cho những nơi bụi mang độ ẩm
cao hoặc không khí tại nơi làm việc không đồng đều về nhiệt độ và độ ẩm.
Nguyên tắc của phương pháp này là dòng không khí chứa bụi phải được đi qua
một môi trường lỏng hoặc màng hơi nước để tă
ng khả năng lắng xuống của hạt
Nguyên lý: Dòng khí được dẫ
n qua một ống thắt, tại đây tốc độ dòng khí
tăng lên cao (50 - 150 m/s) và phía sau có đặt bộ phận thu giọt. Nguyên tắc thu
bụi theo phương pháp khí động, đó là tạo ra sự thấm ướt các hạt bụi trong dòng
khí chuyển động ở trạng thái chảy rối bằng nước trong ống Venturi. Thấm ướt
các hạt bụi ở trạng thái chảy rối tạo nên sự kết tụ các hạt bụi cùng với giọ
t nước.
Các hạt bụi kết tụ đã được tăng lên về kích thước và các giọt nước được thu lại
trong bộ phận thu giọt.
5- Rửa khí kiểu dòng xoáy:
Nguyên 1ý: Dòng khí có tốc độ lớn thổi trực tiếp vào bề mặt chất lỏng theo
một góc xiên; dưới áp lực của dòng khí, chất lỏng sẽ bị tung lên, khí và chất lỏng
tiếp xúc với nhau; bụi bị thấm ướt sẽ giữ
lại trong chất lỏng và khí sạch đi ra ngoài.
6- Rửa khí kiểu đĩa quay:
Nguyên lý: Bụi trong dòng khí đi qua hệ thống khử bụi gồm nhiều tấm đục
lỗ hay lưới bằng kim loại. Những tấm lưới này luôn luôn được thấm ướt bằng
một chất lỏng thích hợp và quay tròn đều trong một không gian hình trụ. Những
hạt bụi trong dòng khí gặp bề mặt chất lỏng sẽ bị làm ướt và b
ị giữ lại rồi trôi
theo những giọt nước rơi xuống đáy.
* Khử bụi bằng tĩnh điện:
Nguyên lý: Trong một điện trường đều, có sự phóng điện của các điện tử
từ cực âm sang cực dương. Trên đường đi, nó có thể va phải các phân tử khí và
ion hóa chúng hoặc có thể gặp phải các hạt bụi làm cho chúng tích điện âm và
chúng sẽ chuyển
động về phía cực dương. Tại đây chúng được trung hòa về điện
tích và nằm lại ở đó. Lợi dụng nguyên lý này người ta sẽ thu được bụi từ các tấm
điện cực dương và khí đi ra là khí sạch bụi.
Nghiên cứu thiết kế chế tạo thiết bị hút, dập bụi cho các khu vực đào lò
- Kích thước chung:
+ Chiều dài của máy: 7470 mm.
+ Chiều cao máy: 1645 mm.
+ Chiều rộng máy: 2000 mm.
+ Tổng công suất toàn máy: 169 kW.
+ Trọng lượng máy: 27 Tấn.
+ Sức áp nén vào đường lò: 0,14 MPa.
+ Hiệu điện thế của máy: 660 V, 50 Hz.
+ Diện tích mặt cắt đào: 16,4m
2
- Máy khấu:
+ Đường kính (kể cả dao): 770 mm.
+ Chiều ngang: 1230 mm.
+ Vận tốc khấu: 2,51 m/s.
+ Số lượng dao trên 2 đầu khấu: 2 x 48 chiếc.
+ Máy động cơ loại 2SGKf225L-4 (giảm nhiệt bằng nước).