Giáo án - Bài giảng học tập công nghệ thông tin: thiết kế mạng lan quy mô lớn - Pdf 13



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:
SVTH : LƯƠNG KHÔI NGUYÊN
MSSV : 45DT101
LỚP : 45TH – 1
GVHD : Th.s PHẠM VĂN NAM

thác và chia sẻ tài nguyên.
Trường Đại học Nha Trang là trường đào tạo đa ngành với thế mạnh là các chuyên
ngành thủy sản, đã sử dụng mạng máy tính để phục vụ cho việc quản lý và giảng dạy từ
nhiều năm nay. Trường có nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ
đại học và sau đại học thuộc đa lĩnh vực; tổ chức nghiên cứu khoa học, chuyển giao
công nghệ và cung cấp các dịch vụ chuyên môn cho nền kinh tế quốc dân, đặc biệt
trong lĩnh vực thủy sản.
Hiện nay, quy mô của trường ngày càng phát triển để phục vụ cho việc nghiên cứu,
giảng dạy và học tập đạt chất lượng cao. Để đáp ứng được việc phát triển này, mạng
máy tính hiện có của trường cần được mở rộng hơn nữa.
Từ những điều kiện đó, qua tìm hiểu và khảo sát mạng máy tính trường Đại học
Nha Trang, em quyết định chọn đề tài “Thiết kế mạng LAN quy mô lớn” với bài toán
cụ thể là khảo sát và thiết kế mở rộng mạng máy tính của trường Đại học Nha Trang.
Tuy đã rất cố gắng học hỏi dựa trên kiến thức đã học và thực tế nhưng do khả năng
chuyên môn có hạn nên luận văn của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất
mong nhận được sự phê bình, hướng dẫn và sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè.
Em xin trân trọng cảm ơn thầy PHẠM VĂN NAM cùng các thầy trong Tổ Quản trị
mạng của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Công Nghệ Phần Mềm đã hết lòng chỉ
bảo để em hoàn thành luận văn này.
Nha Trang, tháng 6 năm 2008
Sinh viên thực hiện
LƯƠNG KHÔI NGUYÊN
Thiết kế mạng LAN quy mô lớn

Lương Khôi Nguyên – 45DT101 2

CHƯƠNG I

(files) khi có những người không đủ quyền hạn truy xuất các tệp tin và thư mục đó.
I.2. Phân loại mạng máy tính.
Mạng máy tính có thể phân bổ trên một vùng lãnh thổ nhất định và có thể phân bổ
trong phạm vi một quốc gia hay quốc tế.
Thiết kế mạng LAN quy mô lớn

Lương Khôi Nguyên – 45DT101 3
Dựa vào phạm vi phân bổ của mạng người ta có thể phân ra các loại mạng như sau:
• GAN (Global Area Network) kết nối máy tính từ các châu lục khác nhau. Thông
thường kết nối này được thực hiện thông qua mạng viễn thông và vệ tinh.
• WAN (Wide Area Network) - Mạng diện rộng, kết nối máy tính trong nội bộ các
quốc gia hay giữa các quốc gia trong cùng một châu lục. Thông thường kết nối này
được thực hiện thông qua mạng viễn thông. Các WAN có thể được kết nối với nhau
thành GAN hay tự nó đã là GAN.
• MAN (Metropolitan Area Network) kết nối các máy tính trong phạm vi một
thành phố. Kết nối này được thực hiện thông qua các môi trường truyền thông tốc độ
cao (50-100 Mbit/s).
• LAN (Local Area Network) - Mạng cục bộ, kết nối các máy tính trong một khu
vực bán kính hẹp thông thường khoảng vài trǎm mét. Kết nối được thực hiện thông qua
các môi trường truyền thông tốc độ cao ví dụ cáp đồng trục thay cáp quang. LAN
thường được sử dụng trong nội bộ một cơ quan/tổ chức Các LAN có thể được kết nối
với nhau thành WAN. Trong các khái niệm nói trên, WAN và LAN là hai khái niệm
hay được sử dụng nhất. Mạng cục bộ (LAN) là hệ truyền thông tốc độ cao được thiết kế
để kết nối các máy tính và các thiết bị xử lý dữ liệu khác cùng hoạt động với nhau
trong một khu vực địa lý nhỏ như ở một tầng của toà nhà, hoặc trong một toà nhà
Một số mạng LAN có thể kết nối lại với nhau trong một khu làm việc. Các mạng LAN
trở nên thông dụng vì nó cho phép những người sử dụng (users) dùng chung những tài
nguyên quan trọng như máy in mầu, ổ đĩa CD-ROM, các phần mềm ứng dụng và
những thông tin cần thiết khác. Trước khi phát triển công nghệ LAN các máy tính là
độc lập với nhau, bị hạn chế bởi số lượng các chương trình tiện ích, sau khi kết nối

Để các gói dữ liệu có thể di chuyển từ nguồn đến đích trên một mạng, điều quan
trọng nhất là tất cả các thiết bị trên mạng phải nói chung một ngôn ngữ hay giao thức.
Một giao thức là một tập hợp các quy định giúp thực hiện hoạt động thông tin trên
mạng hiệu quả hơn.
Một định nghĩa mang tính kỹ thuật cho giao thức truyền số liệu là: Một tập quy
định, hay một sự thống nhất, xác định khuôn dạng và sự truyền dữ liệu. Lớp n trên một
máy tính thông tin với lớp n trên một máy tính khác. Các quy định và tiêu chuẩn được
dùng trong hoạt động thông tin này được tập hợp lại và được gọi là giao thức lớp n.

II.2. Mô hình OSI
Mô hình OSI (Open Systems Interconnection Reference Model, viết ngắn là OSI
Model hoặc OSI Reference Model) - tạm dịch là Mô hình tham chiếu kết nối các hệ
thống mở - là một thiết kế dựa vào nguyên lý tầng cấp, lý giải một cách trừu tượng kỹ
thuật kết nối truyền thông giữa các máy vi tính và thiết kế giao thức mạng giữa chúng.
Thiết kế mạng LAN quy mô lớn

Lương Khôi Nguyên – 45DT101 5
Mô hình này được phát triển thành một phần trong kế hoạch Kết nối các hệ thống mở
(Open Systems Interconnection) do ISO và IUT-T khởi xướng. Nó còn được gọi là Mô
hình bảy tầng của OSI.
Mục đích
Mô hình OSI phân chia chức năng của một giao thức ra thành một chuỗi các tầng
cấp. Mỗi một tầng cấp có một đặc tính là nó chỉ sử dụng chức năng của tầng dưới nó,
đồng thời chỉ cho phép tầng trên sử dụng các chức năng của mình. Một hệ thống cài đặt
các giao thức bao gồm một chuỗi các tầng nói trên được gọi là "chồng giao thức"
(protocol stack). Chồng giao thức có thể được cài đặt trên phần cứng, hoặc phần mềm,
hoặc là tổ hợp của cả hai. Thông thường thì chỉ có những tầng thấp hơn là được cài đặt
trong phần cứng, còn những tầng khác được cài đặt trong phần mềm.
Mô hình OSI này chỉ được ngành công nghiệp mạng và công nghệ thông tin tôn
trọng một cách tương đối. Tính năng chính của nó là quy định về giao diện giữa các

Lương Khôi Nguyên – 45DT101 6
Internet. (Xin xem thêm RFC 871 để biết được sự khác biệt chủ yếu giữa TCP/IP và
ARPANET.)
Hiện nay chỉ có một phần của mô hình OSI được sử dụng. Nhiều người tin rằng đại
bộ phận các đặc tả của OSI quá phức tạp và việc cài đặt đầy đủ các chức năng của nó
sẽ đòi hỏi một lượng thời gian quá dài, cho dù có nhiều người nhiệt tình ủng hộ mô
hình OSI đi chăng nữa.
Mặt khác, có nhiều người lại cho rằng, ưu điểm đáng kể nhất trong toàn bộ cố gắng
của công trình mạng truyền thông của ISO là nó đã thất bại trước khi gây ra quá nhiều
tổn thất.
Tường trình các tầng cấp của mẫu hình OSI

Tầng 7: Tầng ứng dụng (Application layer)
Tầng ứng dụng là tầng gần với người sử dụng nhất. Nó cung cấp phương tiện cho
người dùng truy nhập các thông tin và dữ liệu trên mạng thông qua chương trình ứng
dụng. Tầng này là giao diện chính để người dùng tương tác với chương trình ứng dụng,
và qua đó với mạng. Một số ví dụ về các ứng dụng trong tầng này bao gồm Telnet,
Giao thức truyền tập tin FTP và Giao thức truyền thư điện tử SMTP.
Tầng 6: Tầng trình diễn (Presentation layer)
Tầng trình diễn biến đổi dữ liệu để cung cấp một giao diện tiêu chuẩn cho tầng ứng
dụng. Nó thực hiện các tác vụ như mã hóa dữ liệu sang dạng MIME, nén dữ liệu, và
Thiết kế mạng LAN quy mô lớn

Lương Khôi Nguyên – 45DT101 7
các thao tác tương tự đối với biểu diễn dữ liệu để trình diễn dữ liệu theo như cách mà
chuyên viên phát triển giao thức hoặc dịch vụ cho là thích hợp. Chẳng hạn: chuyển đổi
tệp văn bản từ mã EBCDIC sang mã ASCII, hoặc tuần tự hóa các đối tượng (object
serialization) hoặc các cấu trúc dữ liệu (data structure) khác sang dạng XML và ngược
lại.
Tầng 5: Tầng phiên (Session layer)

Tầng 2: Tầng liên kết dữ liệu (Data Link Layer)
Tầng liên kết dữ liệu cung cấp các phương tiện có tính chức năng và quy trình để
truyền dữ liệu giữa các thực thể mạng, phát hiện và có thể sửa chữa các lỗi trong tầng
vật lý nếu có. Cách đánh địa chỉ mang tính vật lý, nghĩa là địa chỉ (địa chỉ MAC) được
mã hóa cứng vào trong các thẻ mạng (network card) khi chúng được sản xuất. Hệ
Thiết kế mạng LAN quy mô lớn

Lương Khôi Nguyên – 45DT101 8
thống xác định địa chỉ này không có đẳng cấp (flat scheme). Chú ý: Ví dụ điển hình
nhất là Ethernet. Những ví dụ khác về các giao thức liên kết dữ liệu (data link protocol)
là các giao thức HDLC; ADCCP dành cho các mạng điểm-tới-điểm hoặc mạng chuyển
mạch gói (packet-switched networks) và giao thức Aloha cho các mạng cục bộ. Trong
các mạng cục bộ theo tiêu chuẩn IEEE 802, và một số mạng theo tiêu chuẩn khác,
chẳng hạn FDDI, tầng liên kết dữ liệu có thể được chia ra thành 2 tầng con: tầng MAC
(Media Access Control - Điều khiển Truy nhập Đường truyền) và tầng LLC (Logical
Link Control - Điều khiển Liên kết Lôgic) theo tiêu chuẩn IEEE 802.2.
Tầng liên kết dữ liệu chính là nơi các cầu nối (bridge) và các thiết bị chuyển mạch
(switches) hoạt động. Kết nối chỉ được cung cấp giữa các nút mạng được nối với nhau
trong nội bộ mạng. Tuy nhiên, có lập luận khá hợp lý cho rằng thực ra các thiết bị này
thuộc về tầng 2,5 chứ không hoàn toàn thuộc về tầng 2.
Tầng 1: Tầng vật lý (Physical Layer)
Tầng vật lý định nghĩa tất cả các đặc tả về điện và vật lý cho các thiết bị. Trong đó
bao gồm bố trí của các chân cắm (pin), các hiệu điện thế, và các đặc tả về cáp nối
(cable). Các thiết bị tầng vật lý bao gồm Hub, bộ lặp (repeater), thiết bị tiếp hợp mạng
(network adapter) và thiết bị tiếp hợp kênh máy chủ (Host Bus Adapter)- (HBA dùng
trong mạng lưu trữ (Storage Area Network)). Chức năng và dịch vụ căn bản được thực
hiện bởi tầng vật lý bao gồm:
Thiết lập hoặc ngắt mạch kết nối điện (electrical connection) với một phương tiện
truyền thông (transmission medium).
Tham gia vào quy trình mà trong đó các tài nguyên truyền thông được chia sẻ hiệu

Thiết kế mạng LAN quy mô lớn

Lương Khôi Nguyên – 45DT101 10
II.3. Mô hình TCP/IP (Transmission Control Protocol / Internet Protocol)

Mặc dù mô hình tham chiếu OSI được chấp nhận rộng rãi khắp nơi, nhưng chuẩn
mở về kỹ thuật mang tính lịch sử của Internet lại là TCP/IP. Mô hình tham chiếu
TCP/IP và chồng giao thức TCP/IP tạo khả năng truyền dữ liệu giữa hai máy tính bất
kỳ từ bất cứ nơi nào trên TG, với vận tốc gần bằng tốc độ của ánh sáng. Mô hình
TCP/IP có tầm quan trọng trong lịch sử, gần giống như các chuẩn đã cho phép điện
thoại, năng lượng điện, đường sắt, truyền hình và công nghệ băng hình phát triển cực
thịnh.
1- Gọi tên và mô tả các lớp của mô hình tham chiếu TCP/IP
BQP Mỹ gọi tắt là DoD (Department of Defense) đã tạo ra mô hình tham chiếu
TCP/IP vì muốn mạng có thể tồn tại trong bất cứ đ/k nào, ngay cả khi có chiến tranh
hạt nhân. DoD muốn các gói dữ liệu xuyên suốt mạng vào mọi lúc, dưới bất cứ đ/k nào,
từ bất kỳ một điểm tới một điểm khác. Đây là bài toán thiết kế cực kỳ khó khăn mà từ
đó đã làm nảy sinh ra mô hình TCP/IP, vì vậy đã trở thành chuẩn để Internet phát triển.
Khi bạn đã biết về mô hình phân lớp TCP/IP, luôn ghi nhớ rằng nó là nguồn gốc của
Internet, nó sẽ giúp bạn giải thích tại sao những điều nào đó lại như vậy. Mô hình
TCP/IP có bốn lớp:
- Lớp ứng dụng.
- Lớp vận chuyển
- Lớp Internet (liên kết mạng)
- Lớp truy xuất mạng.
Lưu ý: Điều quan trọng cần ghi nhớ là có vài lớp trong mô hình TCP/IP có tên trùng
với các lớp trong mô hình OSI nhưng không nên lẫn lộn các lớp giữa hai mô hình, vì

khác. Nó bao gồm các chi tiết kỹ thuật LAN và WAN, và tất cả các chi tiết trong lớp
liên kết dữ liệu cũng như lớp vật lý của mô hình OSI.

II.4. So sánh giữa mô hình OSI và mô hình TCP/IP

Nếu so sánh mô hình OSI và TCP/IP, bạn sẽ thấy chúng có những điểm giống và
cũng có những điểm khác nhau.
* Các điểm giống nhau:
- Cả hai đều là phân lớp.
- Cả hai đều có lớp ứng dụng, qua đó chúng có nhiều dịch vụ khác nhau.
- Cả hai có các lớp mạng và lớp vận chuyển có thể so sánh được.
Thiết kế mạng LAN quy mô lớn

Lương Khôi Nguyên – 45DT101 12
- Kỹ thuật chuyển mạch gói được chấp nhận
- Chuyên viên lập mạng cần phải biết cả hai.
*Các điểm khác nhau:
- TCP/IP tập hợp các lớp trình bày và lớp phiên vào trong lớp ứng dụng của nó.
- TCP/IP tập hợp lớp vật lý và lớp liên kết dữ liệu trong OSI thành một lớp.
- Các giao thức TCP/IP là các chuẩn cơ sở cho Internet phát triển, như vậy mô hình
TCP/IP chiếm được niềm tin chỉ vì các giao thức của nó. Ngược lại, các mạng thông
thường không được xây dựng dựa trên nền OSI, ngay cả khi mô hình OSI được dùng
như một hướng dẫn. Nói cách khác nó là một văn phạm nghèo và có thiếu sót.

III. Các mô hình mạng
Topology của mạng là cấu trúc hình học không gian mà thực chất là cách bố trí
phần tử của mạng cũng nh cách nối giữa chúng với nhau. Thông thờng mạng có 3 dạng
cấu trúc là: Mạng dạng hình sao (Star Topology), mạng dạng vòng (Ring Topology) và
mạng dạng tuyến (Linear Bus Topology). Ngoài 3 dạng cấu hình kể trên còn có một số
dạng khác biến tớng từ 3 dạng này nh mạng dạng cây, mạng dạng hình sao - vòng,

Cấu hình mạng dạng này kết hợp các mạng hình sao lại với nhau bằng cách kết nối
các HUB hay Switch Lợi điểm của cấu hình mạng dạng này là có thể mở rộng đợc
khong cách cũng nh độ lớn của mạng hình sao. III.3. Mạng hình tuyến:
Theo cách bố trí hành lang các đờng nh hình vẽ thì máy chủ (host) cũng nh tất c các
máy tính khác (workstation) hoặc các nút (node) đều đợc nối về với nhau trên một trục
đờng dây cáp chính để chuyển ti tín hiệu.
Tất c các nút đều sử dụng chung đờng dây cáp chính này. Phía hai đầu dây cáp đợc
bịt bởi một thiết bị gọi là terminator. Các tín hiệu và gói dữ liệu (packet) khi di chuyển
lên hoặc xuống trong dây cáp đều mang theo điạ chỉ của ni đến.
Loại hình mạng này dùng dây cáp ít nhất, dễ lắp đặt. Tuy vậy cũng có những bất lợi
đó là sẽ có sự ùn tắc giao thông khi di chuyển dữ liệu với lu lợng lớn và khi có sự hỏng
hóc ở đoạn nào đó thì rất khó phát hiện, một sự ngừng trên đờng dây để sửa chữa sẽ
ngừng toàn bộ hệ thống.

Thiết kế mạng LAN quy mô lớn

Lương Khôi Nguyên – 45DT101 14
III.4. Mạng vòng:
Mạng dạng này, bố trí theo dạng xoay vòng, đờng dây cáp đợc thiết kế làm thành
một vòng khép kín, tín hiệu chạy quanh theo một chiều nào đó. Các nút truyền tín hiệu
cho nhau mỗi thời điểm chỉ đợc một nút mà thôi. Dữ liệu truyền đi phi có kèm theo địa
chỉ cụ thể của mỗi trạm tiếp nhận.
Mạng dạng vòng có thuận lợi là có thể nới rộng ra xa, tổng đờng dây cần thiết ít hn
so với hai kiểu trên. Nhợc điểm là đờng dây phi khép kín, nếu bị ngắt ở một ni nào đó

Có ba loại hub:
• Hub đơn (stand alone hub)
• Hub phân tầng (stackable hub, có tài liệu gọi là HUB sắp xếp)
• Hub modun (modular hub)
Modular hub rất phổ biến cho các hệ thống mạng vì nó có thể dễ dàng mở rộng và
luôn có chức nǎng quản lý, modular có từ 4 đến 14 khe cắm, có thể lắp thêm các
modun Ethernet 10BASET. Stackable hub là lý tưởng cho những cơ quan muốn đầu tư
tối thiểu ban đầu nhưng lại có kế hoạch phát triển LAN sau này.
IV.2. Bridge:
Là cầu nối hai hoặc nhiều đoạn (segment) của một mạng. Theo mô hình OSI thì
bridge thuộc mức 2. Bridge sẽ lọc những gói dữ liệu để gửi đi (hay không gửi) cho
đoạn nối, hoặc gửi trả lại nơi xuất phát. Các bridge cũng thường được dùng để phân
chia một mạng lớn thành hai mạng nhỏ nhằm làm tǎng tốc độ. Mặc dầu ít chức nǎng
hơn router, nhưng bridge cũng được dùng phổ biến.
IV.3. Router:
Chức nǎng cơ bản của router là gửi đi các gói dữ liệu dựa trên địa chỉ phân lớp của
mạng và cung cấp các dịch vụ như bảo mật, quản lý lưu thông
Giống như bridge, router là một thiết bị siêu thông minh đối với các mạng thực sự
lớn, router biết địa chỉ của tất cả các máy tính ở từng phía và có thể chuyển các thông
điệp cho phù hợp. Chúng còn phân đường - định tuyến để gửi từng thông điệp có hiệu
quả. Theo mô hình OSI thì chức nǎng của router thuộc mức 3, cung cấp thiết bị với
thông tin chứa trong các header của giao thức, giúp cho việc xử lý các gói dữ liệu
thông minh.
Dựa trên những giao thức, router cung cấp dịch vụ mà trong đó mỗi packet dữ liệu
được đọc và chuyển đến đích một cách độc lập.Khi số kết nối tǎng thêm, mạng theo
dạng router trở nên kém hiệu quả và cần suy nghĩ đến sự thay đổi.
IV.4. Switch:
Chức nǎng chính của switch là cùng một lúc duy trì nhiều cầu nối giữa các thiết bị
mạng bằng cách dựa vào một loại đường truyền xương sống (backbone) nội tại tốc độ
Thiết kế mạng LAN quy mô lớn

độ truyền tin qua cáp đồng trục có thể đạt tới 35 Mbit/s.
• Dây cáp xoắn được chế tạo bằng hai sợi dây đồng (có vỏ bọc) xoắn vào nhau,
ngoài cùng có hoặc không có lớp vỏ bọc bảo vệ chống nhiễu. • Dây cáp quang làm bằng các sợi quang học, truyền dữ liệu xa, an toàn và không
bị nhiễu và chống được han rỉ. Tốc độ truyền tin qua cáp quang có thể đạt 100 Mbit/s.
Thiết kế mạng LAN quy mô lớn

Lương Khôi Nguyên – 45DT101 17

Nhìn chung, yếu tố quyết định sử dụng loại cáp nào là phụ thuộc vào yêu cầu tốc độ
truyền tin, khoảng cách đặt các thiết bị, yêu cầu an toàn thông tin và cấu hình của
mạng, Ví dụ mạng Ethernet 10 Base-T là mạng dùng kênh truyền giải tần cơ bản với
thông lượng 10 Mbit/s theo tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 8802.3 nối bằng đôi dây cáp
xoắn không bọc kim (UTP) trong Topology hình sao.
IV.6. NIC:

Việc kết nối các máy tính với một dây cáp được dùng như một phương tiện truyền
tin chung cho tất cả các máy tính. Công việc kết nối vật lý vào mạng được thực hiện
bằng cách cắm một card giao tiếp mạng NIC (Network Interface Card) vào trong máy
tính và nối nó với cáp mạng. Sau khi kết nối vật lý đã hoàn tất, quản lý việc truyền tin
giữa các trạm trên mạng tuỳ thuộc vào phần mềm mạng.
Đầu nối của NIC với dây cáp có nhiều loại (phụ thuộc vào cáp mạng), hiện nay có
một số NIC có hai hoặc ba loại đầu nối. Chuẩn dùng cho NIC là NE2000 do hãng
Novell và Eagle dùng để chế tạo các loại NIC của mình. Nếu một NIC tương thích với
chuẩn NE2000 thì ta có thể dùng nó cho nhiều loại mạng. NIC cũng có các loại khác
Thiết kế mạng LAN quy mô lớn

Lương Khôi Nguyên – 45DT101 18

hơn và ít có trở ngại khi mạng phát triển lớn hơn.
Một mạng LAN có thể trải rộng trong một phòng, trong một tòa nhà hay trên nhiều
tòa nhà. Một nhóm các tòa nhà thuộc về một tổ chức, một đơn vị thì được xem như là
một trường đại học vậy. Việc thiết kế mạng LAN quy mô lớn cần xác định các tầng như
sau:
· Tầng truy cập: Kết nối người dùng đầu cuối vào LAN. Thiết bị sử dụng ở tầng
này có thể là Swith hoặc Hub. Nếu sử dụng Hub thì băng thông sẽ bị chia sẻ. Nếu sử
dụng Swith thì băng thông sẽ được dành riêng cho mỗi port.
Thiết kế mạng LAN quy mô lớn

Lương Khôi Nguyên – 45DT101 19

Chức năng của tầng truy cập còn bao gồm cả lọc lớp MAC và thực hiện phân
đoạn cực nhỏ. Lọc lớp MAC có nghĩa là Switch chỉ chuyển frame ra đúng port kết
nối vào thiết bị đích mà thôi. Switch còn có thể tạo ra các segment lớp 2 rất nhỏ gọn
là microsegment. Mỗi segment như vậy chỉ có 2 thiết bị. Đây là kích thước nhỏ nhất
có thể được của một miền đụng độ. Các chức năng của tầng truy cập:
§ Chia sẻ băng thông.
§ Chuyển mạch băng thông.
§ Lọc lớp MAC.
§ Microsegment.
· Tầng phân phối: nằm giữa tầng truy cập và tầng trục chính giúp xác định và
phân biệt với hệ thông trục chính.

Mục tiêu của tầng phân phối là cung cấp giới hạn cho phép các gói dữ liệu được di
chuyển trong đó. Ở tầng này, hệ thống mạng được chia thành nhiều miền quảng bá,
Thiết kế mạng LAN quy mô lớn

Lương Khôi Nguyên – 45DT101 20
đồng thời áp dụng các chính sách về truy cập, lọc gói dữ liệu tại đây. Tầng phân phối

phát triển lớn hơn nữa mà không cần những thay đổi cơ bản của toàn bộ thiết kế.
· Khả năng thích ứng: mạng phải được thiết kế với một cái nhìn về những kỹ thuật
phát triển trong tương lai. Mạng không nên có những thành phần làm giới hạn
việc triển khai các công nghệ kỹ thuật mới về sau này.
· Khả năng quản lý: mạng phải được thiết kế để dễ dàng quản lý và theo dõi nhằm
đảm bảo hoạt động ổn định của hệ thống.
II.2. Phương pháp thiết kế LAN:
Để có một mạng LAN hoạt động hiệu quả và đáp ứng được nhu cầu của người sử
dụng, LAN cần được thiết kế và triển khai theo một kế hoạch với đầy đủ hệ thống các
bước sau:
Thu thập các yêu cầu và mong đợi của người sử dụng mạng.
Phân tích dữ liệu và các yêu cầu thu thập được.
Thiết kế cấu trúc LAN Lớp 1, 2 và 3.
Ghi nhận lại các bước triển khai mạng vật lý và logic.
Quá trình thu thập thông tin sẽ giúp cho chúng ta xác định và làm sáng tỏ những vấn
đề hiện tại của hệ thống mạng. Sau đây là những câu chúng ta nên hỏi khi thu thập
thông tin:
Những ai sẽ sử dụng hệ thống mạng?
Kỹ năng của họ ở mức nào?
Có dữ liệu nào cần công bố trong phạm vi giới hạn không?
Có hoạt động nào cần giới hạn không?
Tài nguyên về nhân lực, phần cứng và phần mềm của tổ chức là gì?
Những nguồn tài nguyên này đang được thiết kế và chia sẻ như thế nào?
Nguồn tài chính mà tổ chức có thể dành cho mạng là bao nhiêu?
………………………
Ghi nhận lại toàn bộ các yêu cầu trên cho phép chúng ta ước lượng được chi phí và
khoảng thời gian để triển khai dự án thiết kế LAN. Một điểm rất quan trọng mà chúng
ta cần nắm bắt được là những vấn đề về hoạt động đang tồn tại trong hệ thống mạng đã
có.
Tính khả dụng đo lường mức độ hữu ích của hệ thống mạng. Mỗi khách hàng đều có

Chuẩn TIA/EIA-586-A quy định rằng mọi thiết bị trong mạng cần được kết nối vào
một vị trí trung tâm bằng cáp horizontal. Khoảng cách giới hạn của cáp CAT 5e UTP là
100m.
Trong cấu trúc hình sao đơn chỉ có một tủ nối dây là MDF (Main Distribution
Facilities). Từ hộp cắm dây của mỗi host ta kéo cáp horizontal về MDF rồi kết nối vào
các bộ tập trung dây HCC (Horizontal Cross Connect patch panel) đặt trong MDF.
Patch cord là những sợi cáp ngắn được sử dụng để kết nối cáp horizontal vào port của
Switch Lớp 2. Tùy theo phiên bản Switch, đường uplink sẽ kết nối từ Switch vào cổng
Ethernet của router Lớp 3 bằng cáp patch cord. Như vậy là host đầu cuối đã có kết nối
hoàn chỉnh vào router. Khi các hệ thống mạng lớn, có nhiều host nằm ngoài giới hạn 100m của cáp UTP
CAT 5e thì chúng ta cần có nhiều tủ nối dây. Bằng cách thiết lập nhiều tủ nối dây bạn
sẽ tạo ra nhiều vùng bao phủ. Tủ nối dây cấp 2 được gọi là trạm phân phối trung gian
(Intermedia Distribution Facilities). Chuẩn TIA/EIA-586-A quy định rằng IDF được
nối vào MDF bằng cáp vertical hay cáp trục chính (backbone). Cáp vertical được kéo từ
IDF đến MDF và được kết nối vào bộ tập trung cáp VCC (Vertical Cross Connection
patch panel) đặt trong MDF. Chúng ta thường sử dụng cáp quang cho đường cáp
vertical vì đường cáp này thường dài hơn giới hạn 100m của cáp UTP CAT 5e.
Thiết kế mạng LAN quy mô lớn

Lương Khôi Nguyên – 45DT101 24

Sơ đồ logic là sơ đồ cấu trúc mạng nhưng không mô tả chính xác các chi tiết lắp đặt
đường cáp. Sơ đồ logic chỉ là sơ đồ đường đi cơ bản của LAN bao gồm nhũng thành
phần sau:
· Xác định vị trí đặt MDF và IDF.
· Ghi lại loại cáp và số lượng sử dụng để kết nối các IDF về MDF.
· Ghi lại số lượng cáp để dành tăng băng thông giữa các tủ nối dây.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status