BỘ CÔNG THƯƠNG
VỤ KẾ HOẠCH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Đề tài:
NGHIÊN CỨU, XÂY DỰNG KHUNG THEO DÕI, ĐÁNH
GIÁ KẾ HOẠCH 5 NĂM 2011-2015 CỦA NGÀNH CÔNG THƯƠNG
CƠ QUAN CHỦ QUẢN
BỘ CÔNG THƯƠNG
54 HAI BÀ TRƯNG - HÀ NỘI
CƠ QUAN CHỦ TRÌ THỰC HIỆN
VỤ KẾ HOẠCH - BỘ CÔNG THƯƠNG
54 HAI BÀ TRƯNG - HÀ NỘI CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
ThS. NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT
HÀ NỘI, 12/2010
LỜI MỞ ĐẦU
Công tác kế hoạch (từ khâu lập kế hoạch, theo dõi, đánh giá thực hiện
kế hoạch và điều chỉnh) trong những năm vừa qua của ngành công thương tuy
đã có nhiều thay đổi để phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, nhưng vẫn còn gặp nhiều bất cập, đặc biệt trong việc thu thập
đây :
PHẦN 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ KHUNG THEO DÕI, ĐÁNH
GIÁ
PHẦN 2: XÂY DỰNG BỘ CHỈ SỐ THEO DÕI, Đ
ÁNH GIÁ KẾ
HOẠCH 2011-2015 NGÀNH CÔNG THƯƠNG
PHẦN 3: CÁC GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Đề tài được xây dựng trên cơ sở kết hợp các phương pháp sau đây:
- Phương pháp tổng hợp (tham khảo, phân tích, tổng hợp, kế thừa
những kết quả đã có).
- Phương pháp chuyên gia.
- Phương pháp xử lý thống kê, dự báo
Sau đây là nội dung Báo cáo đề tài.
PHẦN 1:
MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ KHUNG THEO DÕI, ĐÁNH GIÁ
I. KHÁI NIỆM VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG CHÍNH VỀ KHUNG THEO
DÕI, ĐÁNH GIÁ
1. Khái niệm về theo dõi
Theo dõi, theo khái niệm của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
(OECD) đã được chấp nhận rộng rãi là “thu thập dữ liệu một cách có hệ thống
về những chỉ số cụ thể liên quan đến một hoạt động phát triển đang được thực
hiện, để những người quản lý và các đối t
ượng liên quan có được thông tin về
tiến độ thực hiện các mục tiêu đề ra sử dụng nguồn vốn đã được phân bổ”.
Theo dõi thực hiện kế hoạch là quá trình thu thập liên tục các thông tin
về tình hình và tiến độ thực hiện các mục tiêu, chỉ số, chỉ tiêu và định hướng
mà kế hoạch đã đề ra.
thống từ khi lập kế hoạch, xây dựng các chính sách đến quá trình triển khai
thực hiện và kết quả thực hi
ện kế hoạch.
Đánh giá nhằm mục đích xác định tính phù hợp và mức độ đạt được
các mục tiêu, hiệu quả phát triển, hiệu suất sử dụng nguồn lực, hiệu quả, tác
động và tính bền vững. Đánh giá cũng nhằm cung cấp các thông tin và bài
học giúp cho các nhà hoạch định chính sách đưa ra các quyết định về các dự
án, chương trình hay các chính sách có hiệu quả.
Trên cơ sở phân tích một cách có hệ thống về
thực hiện một kế hoạch,
một chương trình, một chính sách để đưa ra đánh giá về tiến độ, sự liên quan
những thành công và những tồn tại hạn chế, hiệu quả chi phí…
Đánh giá là việc sử dụng thông tin có được từ quá trình theo dõi để
phân tích các kế hoạch, chương trình và các dự án để xác định liệu có cần sự
thay đổi hay điều chỉnh không. Trong bước thực thi kế hoạch, đánh giá
được
sử dụng để xác định các họat động có đáp ứng các mục tiêu kế hoạch một
cách có hiệu quả và hiệu lực hay không.
Nhiệm vụ của đánh giá là đi xa hơn theo dõi một bước, vì nó là quy
trình phản ánh về những gì đã và đang xảy ra. Thực hiện công tác đánh giá để
đánh giá chung về thực hiện kế hoạch và để đánh giá những thành công và
chưa đủ của chủ tr
ương, chính sách hoặc một chương trình, một kế hoạch. Nó
không chỉ ra giá trị thực của những gì đã thực hiện mà còn đưa ra những lựa
chọn trong tương lai về chiến lược và những ưu tiên cho việc tiếp tục quá
trình phát triển.
3. Mối quan hệ giữa theo dõi và đánh giá
Đánh giá và theo dõi có quan hệ mật thiết với nhau, theo dõi đưa ra các
thông tin về tiến độ thực hiện của một kế hoạ
ch, một chính sách, chương trình
hỏi mà đánh giá sẽ trả lời hoặc ngược lại thông tin đánh giá có thể nay sinh
các lĩnh vực mới cần theo dõi. Sự bổ trợ về thông tin, tứ
c là cả cả hai quá
trình theo dõi và đánh giá cùng sử dụng một thông tin nhưng đặt ra các câu
hỏi khác nhau và phân tích khác nhau. Sự bổ trợ tương tác là các nhà quản lý
sử dụng song song theo dõi và đánh giá để hỗ trợ các hoạt động quản lý của
họ.
Trong khi theo dõi báo cáo tiến độ thực hiện kế hoạch, chương trình,
dự án đang triển khai thì công tác đánh giá là phân tích tại sao đạt được hoặc
không đạt được các kết quả dự tính. Theo dõi sự gắ
n kết các hoạt động và
nguồn lực với các mục tiêu thì đánh giá những đóng góp từ các hoạt động vào
kết quả đạt được…
Bảng 1: Tác động hỗ trợ lẫn nhau giữa công tác theo dõi đánh giá
Theo Dõi Đánh Giá
- Báo cáo tiến độ thực hiện kế hoạch
đang triển khai về sự thay đổi các
mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch.
- Phân tích nguyên nhân tại sao các kết
quả đạt được hay không đạt được như
các kết quả đã dự tính.
- Sự gắn kết các hoạt động và nguồn
lực với mục tiêu đặt ra
- Đánh giá những đóng góp từ các hoạt
động vào kết quả đạt được.
- Xác định các chỉ số, chỉ tiêu có liên
quan đến các chỉ tiêu đặt ra
- Phân tích và nghiên cứu các kết quả
4. Khái niệm về chỉ số, chỉ tiêu
Chỉ số là một thước đo để đo lường các tiến bộ đạt được trong quá trình
phát triển kinh tế xã hội. Chỉ số là biến số định tính hoặc định lượng, cho ta
các phương tiện đơn giản để đo lường kết quả hoạt động, phản ánh được các
thay đổi liên quan tới một biện pháp can thiệp và hỗ trợ
cho công tác theo dõi
và đánh giá. Chỉ số bao gồm: Chỉ số đầu vào, chỉ số đầu ra, chỉ số kết quả.
Chỉ số là nhân tố hoặc biến số định lượng hoặc định tính đóng vai trò là
phương tiên đơn giản và tin cậy để đo lường thành quả, phản ánh những thay
đổi liên quan đến một can thiệp phát triển hoặc giúp đánh giá tình hình phát
triển.
Chỉ tiêu là lượng hoá của chỉ
số, thể hiện các mục tiêu cụ thể cần đạt
được trong khoảng thời gian nhất định. Chỉ tiêu là “… một mục tiêu cụ thể
được biểu hiện bằng con số, thời điểm và địa điểm mà con số đó được thực
hiện”. Về bản chất chỉ tiêu là giá trị định lượng của một chỉ số mà tổ chức,
quốc gia hay xã hội mu
ốn đạt tới trong một khoảng thời gian nhất định. Chỉ
tiêu được đo lường mỗi năm hoặc vào thời điểm cuối của một kế hoạch.
5. Khung theo dõi và đánh giá
Khung theo dõi và đánh giá là một công cụ quản lý ma trận được sử
dụng để phân loại trật tự logic của một chuỗi các sự kiện theo thứ tự và là
công cụ phân tích trong thực hiện kế hoạch.
Khung theo dõi và đánh giá tóm tắt hệ thống theo dõi và đánh giá được
lập trong giai đoạn xây dựng kế hoạch. Về bản chất, khung theo dõi, đánh giá
được xây dựng trên cơ sở khung logic
1
gắn kết giữa các chỉ tiêu, chỉ số đầu
1
Khung theo dõi đánh giá phải được xây dựng một cách hệ thống, các
tiêu chí và nội dung theo dõi phải đo lường được và phải dễ hiểu và các bên
có liên quan nhất trí tán thành. Khung theo dõi và đánh giá cần phải xác định
được tối thiểu những nội dung sau:
- Lĩnh vực ưu tiên và khu vực kết quả then chốt
- Chương trình can thiệp đối với khu vực kết quả then chốt
- Kết quả mong muốn của ch
ương trình
- Chỉ số thực hiện then chốt đối với kết quả
- Cơ sở dữ liệu ban đầu cho chỉ số then chốt
- Chỉ số then chốt cho từng giai đoạn, từng năm
- Chủ thể chính sẽ chỉ đạo/điều phối chương trình
- Sự đóng góp của các tiểu ngành vào kết quả chung của kế hoạch.
II. Ý NGHĨA, VAI TRÒ CỦA VIỆC THEO DÕI VÀ ĐÁNH GIÁ
Công tác theo dõi và đánh giá kế hoạch có ý nghĩa hết sức quan trọng
đối với các nhà quản lý, các cơ quan tổ chức, cung cấp các thông tin phản hồi,
đo lường việc thực hiện đang diễn ra và đánh giá định kỳ sự tiến bộ đạt được
của kế hoạch đ
ã định ra công cụ chính xuyên suốt trong quy trình này. Đo
lường việc thực hiện và đánh giá giúp hiểu rõ hơn những gì đã đạt được, từ đó
kịp thời điều chỉnh các mục tiêu, các hoạt động để đạt được các kết quả đã
định.
Việc xây dựng hệ thống theo dõi và đánh giá sẽ giúp cho các nhà hoạch
định kế hoạch tiến thêm một bước nữa trên con đường đánh giá
đó là các mục
tiêu đạt ra đã đạt được chưa và làm sao, làm thế nào có thể thực hiện kế hoạch
định mức độ phù hợp, hiệu quả, hiệu lực, tác động và khả năng duy trì nó. Từ
việc đánh giá này chúng ta sẽ rút ra bài học để phục vụ cho quá trình quy
ết
định các kế hoạch, chính sách, chương trình mới.
Các thông tin được theo dõi chỉ cung cấp các tình hình số liệu, không
phản ánh được nguyên nhân, kết quả, các tồn tại cũng như điểm mạnh, điểm
yếu trong việc lập kế hoạch, chương trình, dự án. Do vậy, từ các thông tin đã
có, việc đánh giá các thông tin có được là hết sức cần thiết.
Theo dõi và đánh giá là thước đo về các tiến bộ nhằm đạt được mục
tiêu đã được đề
ra trong kế hoạch. Hệ thống theo dõi và đánh giá dựa trên kết
quả sẽ cung cấp những thông tin phản hồi về các kết quả.
Hoạt động theo dõi, đánh giá sẽ cung cấp cho các nhà quản lý và các tổ
chức những cách thức để nắm được kết quả thực hiện và kinh nghiệm trong
việc thực hiện kế hoạch nhằm cải thiện việc cung cấp dịch vụ công, phân bổ
nguồ
n lực hiệu quả hơn và báo cáo các kết quả đạt được như là một phần
trong trách nhiệm giải trình trước các đối tượng có liên quan.
Hệ thống theo dõi và đánh giá là một trong những công cụ quản lý
quan trọng để cải thiện các hoạt động của các cơ quan nhà nước và các bên
hữu quan biết được các cơ quan thực hiện đúng lời hứa của mình chưa. Các
thông tin do công tác đánh giá cung cấp các bằng chứng cho công chúng thấ
y
được tính minh bạch về cách sử dụng nguồn lực cho phát triển kinh tế xã hội
và sự nỗ lực trong việc cải cách có kết quả hay không, mức độ đạt được của
các chương trình, chính sách cũng như các chỉ tiêu đề ra trong bản kế hoạch
đến đâu.
III. CÁC BƯỚC XÂY DỰNG HỆ THỐNG THEO DÕI VÀ ĐÁNH GIÁ
KẾ HOẠCH DỰA TRÊN KẾT QUẢ
Một khía cạnh quan trọng trong việc thiết lập hệ thống theo dõi và đánh
giá là đầu tư xây dựng năng lực có sự tham gia của cộng đồng và các đố
i
tượng có liên quan khác, điều này là rất quan trọng đối với việc vận hành
thành công việc theo dõi và đánh giá dựa trên kết quả. Do vậy, cần có sự phối
hợp chặt chẽ với các đơn vị cơ sở và phải thu hút được sự quan tâm của đông
đảo công chúng đối với việc đo lường các hoạt động
Hơn nữa, phải đánh giá nhu cầu tài chính để thiết lập hệ th
ống theo dõi
và đánh giá. Nguồn lực cần thiết bao gồm nhân sự, nguồn lực để hỗ trợ hệ
thống quản lý thông tin, đào tạo…
2. Thiết kế bản kế hoạch để theo dõi và đánh giá lựa chọn mục tiêu,
kết quả, đầu ra và đầu vào
- Các mục tiêu trong bản kế hoạch phải được xây dựng rõ ràng và cụ
thể, từ đó định hướng được nhu cầu đầ
u tư và dự kiến kết quả đạt được, xác
định được mục tiêu cuối cùng muốn đạt tới là gì và khi đó công tác theo dõi
dõi và đánh giá được thuận lợi.
- Các mục tiêu trong kế hoạch phải được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên
- Các mục tiêu trong kế hoạch phải được sắp xếp theo một thứ bậc, đảm
bảo rằng các mục tiêu này được sắp xếp ư
u tiên ở mỗi cấp độ nhất định.
- Dùng khung logic để kết nối giữa các mục tiêu và các hoạt động: Sau
khi đã xác định các mục tiêu ưu tiên, việc kết nối các mục tiêu và các hoạt
động trong một bản kế hoạch là hết sức cần thiết. Bản kế hoạch cần phải có sự
liên kết giữa các vấn đề để thể hiện được tính logic. Sự kết nố
i giữa các mục
tiêu và các hoạt động trong một bản kế hoạch càn được xây dựng theo một
khung logic.
Khung logic xác định các yếu tố chiến lược (đầu vào, đầu ra, kết quả,
như xác định được các kết quả cuối cùng, bắt đầu xây dựng khung theo dõi và
đánh giá.
Quá trình thực hiện công tác theo dõi và đánh giá được bắt đầu cùng
với sự khởi động các chương trình hoặc các hoạt động và xác định các chỉ số
đo lường các kết quả và tác động. Theo cách đó, các cấp độ khác nhau sẽ mô
tả những gì diễn ra tại các thời điểm khác nhau trong suôt quá trình thực hiện
kế ho
ạch. Các hoạt động trong bản kế hoạch sẽ đưa ra được những đầu ra nhất
định, từ đó sẽ xác định được các kết quả mong muốn sau một thời gian nhất
định phù hợp với mục tiêu đề ra.
Các hoạt động thường diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn trong
khi các mục tiêu lại chỉ có thể đạt được sau một quãng thời gian dài. Việc
theo dõi và đánh giá sẽ được th
ực hiện trong suốt thời gian thực hiện kế hoạch
Hình 1: Khái niềm về mục tiên, kết quả, đầu ra, đầu vào
3. Lựa chọn các chỉ số then chốt để theo dõi và đánh giá kết quả và
tác động
Như đã nêu ở trên, chỉ số là một thước đo để đo lường các tiến bộ đã
đạt được. Chỉ số là biến số định tính hoặc định lượng, cho ta các phương tiện
đơn giản để đo lường kết quả hoạt động, phản ánh được các thay đổi liên quan
tới một biện pháp can thiệp và hỗ trợ cho công tác theo dõi và đánh giá.
ụ
: “
s
ố
nôn
g
dân đư
ợ
c đào t
ạ
o v
ề
s
ự
d
ụ
n
g
côn
g
n
g
h
ệ
mới”
Đầu vào
¾ Nguồn lực được đưa vào
Ví dụ: Với mục tiêu giảm nghèo nông thôn, sẽ thực hiện chính sách “tăng chi
cho chương trình đào tạo cho nông dân”
quả hoạt động và quá trình cải thiện chúng.
Như vậy, có thể thấy việc xác định chỉ số không chỉ tìm ra các chỉ số
theo yêu cầu của các bên hữu quan. Việc lựa chọn chỉ số là một quá trình
phức tạp hài hòa giữa quyền lợi của tất cả các bên hữu quan. Tuy nhiên ở mức
tối thiểu, cần phải xác định được các chỉ số đo lường trực tiếp kết quả mong
muốn.
4. Kiểm tra xem các chỉ số có đáp ứng tiêu chuẩn SMART hoặc
CREAM
Để đảm bảo lựa chọn chính xác các chỉ
số tốt phản ánh kết quả hoạt
động, các nhà thực hành đã đưa ra một số các tiêu chuẩn có thể áp dụng. Các
tiêu chuẩn này được viết tắt thành cụm từ SMART hoặc CREAM, về ý nghĩa
cụm từ này là tương đối giống nhau. Bảng 3: Tiêu chuẩn SMART/CREAM trong lựa chọn các chỉ số
TIÊU CHUẨN SMART TIÊU CHUẨN CREAM
Specific (cụ thể) Không nên mơ hồ và
chung chung
Clear (rõ
ràng)
Chính xác và không mập
mờ
Measurable (có
thể đo đếm được)
Có thể đo đếm được,
Monitorable
(theo dõi
được)
Thuận tiện cho việc kiểm
chứng độc lập
Nếu một trong năm tiêu chuẩn trên mà không thỏa mãn thì các chỉ số
lựa chọn sẽ có tính khả thi không cao, khó thực hiện thành công việc theo dõi
và đánh giá dựa trên kết quả.
- Các chỉ số hoạt động tốt cần phải:
+ Rõ ràng, trực tiếp và không mập mờ tới mức cao nhất có thể được.
+ Đo đếm được hoặc ít nhất cũng quan sát được, các chỉ số có thể định
tính hoặc đị
nh lượng. Các chỉ số định lượng cần phải được báo cáo thành các
con số cụ thể (số lượng, giá trị trung bình, trung vị) dưới dạng giá trị tuyệt đối
hay số phần trăm, các chỉ số định tính hàm ý cách tính giá định tính
Các chỉ số định tính cho chúng ta biết về sự thay đổi trong quá trình
thực hiện thể chế, thái độ, chính kiến, động cơ và hành vi của các cá nhân.
Chỉ số định tính có thể đ
o sự nhận biết như mức độ hài hòa của dân chúng đối
với các chính sách Chính phủ đưa ra.
+ Có thể theo dõi được (tốt hơn nếu đã được theo dõi), và theo dõi
thường xuyên, không quá tốn kém về chi phí theo dõi. Cần đặc biệt chú trọng
bởi có quá nhiều chỉ số mà chi phí thu thập quá cao, sẽ dẫn đến không thể
theo dõi được.
+ Phù hợp - nghĩa là chỉ số đo lường các nhân tố phản ánh các mục
tiêu. Điều này nhằ
m đảm bảo mối gắn kết rõ rang giữa các mục tiêu và chỉ số.
5. Xác định các số liệu ban đầu
Phương
pháp
thu
thập số
liệu
Ai thu
thập
số liệu
Mức
độ
thường
xuyên
của
việc
thu
thập số
liệu
Chi
phí và
khó
khăn
khi thu
thập
Ai sẽ
phân
tích số
liệu
Ai sẽ
báo
cáo số
đầu ra như dự
kiến)
=
Kết quả hoạt
động theo chỉ
tiêu (Mức kết
quả hoạt đọng
mong muốn cần
đạt đến trong
một khoảng thời
gian nhất định)
Một phương pháp để thiết lập các chỉ tiêu là xem xét mức độ tình trạng
ban đầu và đưa vào các mức cải thiện mong muốn (trên cơ sở nguồn lực xác
định) để đạt tới các chỉ tiêu kết quả. Với quá trình này, chúng ta sẽ biết điểm
bắt đầu và nguồn lực sẵn có để thực hiện các chỉ tiêu trong khoảng thời gian
cụ thể. Điều này cho chúng ta viết chỉ tiêu v
ề kết quả hoạt động.
Hình 2 trên biểu thị quá trình tìm ra các chỉ tiêu về kết quả hoạt động.
7. Xác định nguồn dữ liệu phân công trách nhiệm thu thập, tần
suất thu thập dữ liệu
Việc thu thập các chỉ số kết quả sẽ cần trả lời câu hỏi dưới đây trước
khi lựa chọn nguồn dữ liệu cụ thể:
¾ Những nguồ
n dữ liệu nào là tốt nhất cho các loại chỉ số các nhau
¾ Cơ quan nào sẽ thu thập dữ liệu, phân tích và ai sẽ là người có thể
tiếp cận dữ liệu đó?
¾ Chúng ta có những kỹ năng về thu thập và phân tích dữ liệu chưa?
¾ Tần suất báo cáo và tần suất thu thập
¾ Chi phí thu thập, phân tích và phổ biến dữ liệu là bao nhiên
thời gian nhất định.
Có nhiều đối tượng sử dụng các báo cáo theo dõi và đánh giá từ hệ
thống thông tin này, chẳng hạn như, một bộ, các bộ khác, các tổ chức quốc tế,
các cán bộ nghiên cứu, nhân viên trong cơ quan, các tổ chức phi chính phủ và
các cộng đồng. M
ục tiêu chính của việc truyền đạt các thông tin phát hiện ra
là nhằm đảm bảo trách nhiệm giải trình và khuyến khích các đối tượng liên
quan hành động. Dự thảo báo cáo về những điều phát hiện phải được đưa ra
thảo luận với các đối tác và đối tượng có liên quan ở cơ sở nhằm thu hút ý
kiến phản hồi về tính chính xác của thông tin và thống nhất ý kiến về các kết
luận và các bước tiếp theo. Báo cáo cuối cùng về những điều phát hiện phải
được chuyển cho các tổ chức có liên quan để giải trình và có các hành động.
Bộ phận theo dõi và đánh giá phải lập kế hoạch cẩn thận về cách truyền
đạt các thông tin phát hiện ra. Nhiệm vụ truyền đạt chính là nhằm đảm bảo
các thông tin phát hiện ra là chính xác. Ngoài các ấn phẩm báo cáo thường kỳ,
các cuộc hội thảo, họp hành cũng là những biện pháp quan trọng để lấy ý ki
ến
phản hồi và lập kế hoạch hành động cho tương lai.
9. Đánh giá
Như đã nêu ở trên, theo dõi cung cấp cho chúng ta dữ liệu về việc thực
hiện các kế hoạch, chính sách hoặc chương trình. Tuy nhiên, số liệu theo dõi
không tạo cơ sở để tìm ra nguyên nhân của thay đổi. Các số liệu theo dõi cũng
không cung cấp thông tin về việc thay đổi có xảy ra hay không. Tương tự, số
liệu thu thập từ việc theo dõi không chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu trong thiết kế
c
ủa kế hoạch, chính sách hoặc chương trình/ dự án, chúng ta biết tại sao các
kế hoạch, chính sách hoặc chương trình, dự án lại không hoặc có được thực
hiện. Do vậy, để trả lời câu hỏi liệu kế hoạch, chính sách hoặc chương trình,
chính sách đã đi theo hướng đã định chưa, chúng ta cần phải thực hiện công
2. Giúp xây dựng và luận chứng các đề nghị cụ thể về ngân sách
3. Giúp đưa ra quyết định phân bổ nguồn l
ực hữu hiệu
4. Bắt đầu cho việc khảo sát sâu những vấn đề nảy sinh từ kết quả thu được,
cần có những giải pháp khắc phục như thế nào
5. Khuyến khích mọi người tiếp tục hoàn thiện mục tiêu của chương trình,
chính sách
6. Cung cấp dữ liệu cho việc đánh giá sâu và chuyên biệt về chương trình,
chính sách
7. Hỗ trợ lập kế hoạch hàng năm và kế hoạch dài hạn (thông qua việc cung
cấp các thông tin về tình trạng ban đầu và các tiến bộ về sau)
8.
Xây dựng lòng tin từ công chúng vào Chính phủ và hoạt động của Chính
phủ
IV. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC SỬ DỤNG PHƯƠNG
PHÁP QUẢN LÝ DỰA TRÊN KẾT QUẢ
1. Kinh nghiệm của Canada
Canada là một nước sớm áp dụng phương pháp quản lý dựa trên kết
quả. Năm 1996, Tổng thống ban hành quy chế quản lý dựa trên kết quả. Đến
năm 2007, Quốc hội đã phê chuẩn, ban hành Luật trách nhiệm và kết quả.
Trên cơ sở Luật trách nhiệm, cấp Trung ươ
ng, Bộ Ngân sách là cơ quan chịu
trách nhiệm chung về theo dõi đánh giá cấp quốc gia và phê duyệt khung
logic dựa trên kết quả của các bộ ngành.
Với hệ thống quản lý dựa trên kết quả của các Bộ, ngành ở Canada đã
hoàn thiện được báo cáo và theo dõi tình hình thực hiện theo kết quả từ dưới
lên, từ cấp dự án, đến cấp chương trình và cấp bộ từ đó xác định được các kết
quả
tin này được xây dựng rất công phu, có bước thử nghiệm trước khi đưa vào
vận hành chính thức và xây dựng chế độ báo cáo tình hình thực hiện hàng
năm tập trung vào các mục tiêu ưu tiên.
3. Kinh nghiệm của Malaysia
Định hướng phát triển kinh tế toàn diện của Malaysia
được tập trung
vào các mục tiêu sau đây:
- Tạo công ăn việc làm;
- Đa dạng hoá và mở rộng nền tảng kinh tế;
- Tạo đà tăng trưởng kinh tế thông qua chiến lược hướng xuất khẩu.
Trong hơn bốn thập kỷ qua, Malaysia đã trải qua hàng loạt quá trình
chuyển dịch cơ cấu, từ một nhà sản xuất các hàng hoá thứ cấp sang một nền
kinh tế đa dạng dựa trên nền tảng công nghiệp vững mạnh.
Mục tiêu
- Tỷ lệ biết đọc cao và đạt được về môn toán
- Trên 7% số học sinh lớp 6 đạt kết quả theo
chuẩn về đọc
Cải tiện sức
khoẻ
Việc làm và
thịnh vượng
- Lực lượng lao động có kỹ năng
Số lao động được đào tạo việc làm trong nền
kinh tế
- Dịch vụ công cộng hiện đại, hiệu quả
- Giảm thời gian chờ đợi khi khám sức
khoẻ
-
- Dễ dàng tiếp cận tới các dịch vụ sức khoẻ
Lập kế hoạch
ngân sách
hạng mục qui
tắc
tăng thêm
& Ki
ể
m soát
PPBS
(Thực hiện chương
trình hệ thống lập
ngân sách)
• Các hoạt
động của
chương trình
• Kết quả
hoạt động
chương trình
•Các chỉ số
thể hiện hoạt
động đó
1957-1968 1969 - 1990 1990 - 2008 2009 >
RBB (RBM)
(Lập kế hoạch ngân
sách dựa trên kết
quả)
• PPBS
• Ngân sách
được phân bổ
• Mức tối đa
1
GDP của nước này đã đạt mức 383 tỷ USD trong năm 2009 so với mức 94 tỷ USD của Việt Nam
IRBM
H
H
ệ
ệ
t
t
h
h
ố
ố
n
n
g
g
t
t
h
h
ô
ô
n
n
g
g
t
t
L
ậ
ậ
p
pk
k
ế
ếh
h
o
o
ạ
ạ
c
c
h
hp
p
h
h
á
l
l
ồ
ồ
n
n
g
gg
g
h
h
é
é
p
p1
1Lập kế hoạch phát triển với sự kết hợp đầy đủ
ngang-dọc (là hoạt động của các bộ, ngành, địa
phương, doanh nghiệp) tập trung vào kết quả
của chương trình và ảnh hưởng của nó
s
s
á
á
c
c
h
hd
d
ự
ự
a
at
t
r
r
ê
ê
n
n
i
i
á
á
m
m
s
s
á
á
t
t
&
&
Đ
Đ
á
á
n
n
h
hg
g
i
i
á
đ
đ
ộ
ộ
n
n
g
gc
c
ủ
ủ
a
ab
b
ộ
ộm
m
á
á
y
I. ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG
THƯƠNG GIAI ĐOẠN 2011 - 2015
1. Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 - 2015
1.1. Mục tiêu tổng quát
Phát triển nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững trên cơ
sở tiếp tục chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức
cạnh tranh và chủ động hội nhập quốc tế. T
ạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản
trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Tăng nhanh hàm lượng khoa
học và công nghệ cao trong sản phẩm. Cải thiện và nâng cao rõ rệt chất lượng
giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực. Nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân, nhất là đối với người nghèo, dân tộc thiểu số, vùng
miền núi, vùng sâu, vùng xa. Tăng cường công tác bảo v
ệ tài nguyên môi
trường và chủ động ứng phó với các tác động của biến đổi khí hậu. Giữ vững
ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội.
1.2. Các chỉ tiêu chủ yếu
1
Về kinh tế
:
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm 2011-2015 tăng 7,5-8%
/năm, trong đó: giá trị gia tăng ngành công nghiệp và xây dựng tăng 7,5-8,5%.
Cơ cấu ngành kinh tế trong GDP đến năm 2015: ngành nông, lâm
nghiệp và thủy sản đạt 19%; công nghiệp và xây dựng khoảng 40,7%; dịch vụ
40,3%.
Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá bình quân 5 năm đạt
12,1%/năm. Kiểm soát nhập siêu ở mức cho phép.
Tỷ trọng đầu tư toàn xã hội 5 năm 2011-2015 bằng kho
ảng 41,5% GDP