phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn việt nam hiện nay - Pdf 13


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VI MÔ
ĐỀ TÀI: PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG
NGHIỆP, NÔNG THÔN VIỆT NAM
HIỆN NAY


4.3 Hàm sản xuất COBB-DOUGLAS 8
5. Hiệu suất theo quy mô 9
6. Đường đẳng phí 10
7. Nguyên tắc tối đa hoá sản lượng hay tối thiểu hoá chi phí 11
7.1 Nguyên tắc tối đa hoá sản lượng 11
7.2 Nguyên tắc tối thiểu hoá chi phí sản xuất 11 CHƯƠNG 2: PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG
THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY 12
1. Thực trạng nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn hiện nay 12
1.1. Thực trạng chung 12
1.2. Công tác dạy nghề 14
1.3. Thực trạng tuyển sinh ở bậc Đại học ngành nông nghiệp 15
1.4. Xu hướng rời bỏ ngành 16
2. Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn Việt nam
hiện nay 17
2.1. Công tác dạy nghề 17
2.2. Chính sách đào tạo ở các Trường Đại học 18
2.3. Y tế 19
KẾT LUẬN 20 MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò rất quan trọng trong
suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Trong gần 30 năm qua, nông nghiệp,
nông dân, nông thôn lại đi trước mở đường trong quá trình đổi mới, tạo điều kiện để
đất nước vươn lên.
Những năm qua, ngành nông nghiệp nước ta đã có bước phát triển vượt bậc, giá
trị và giá trị sản lượng nông nghiệp liên tục tăng, chủng loại cây trồng, vật nuôi đa

Sản xuất là hoạt động tạo ra sản phẩm - dịch vụ của các doanh nghiệp nhằm đáp
ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Nói cách khác, sản xuất là quá trình chuyển hoá
giữa các yếu tố đầu vào thành các yếu tố đầu ra (hay sản phẩm). Thực tế cho thấy
rằng cách thức đối với các loại sản phẩm khác nhau là không giống nhau. Tuy nhiên,
đối với các loại hàng hoá để sản xuất ra một sản lượng nhất định thì cần phải có một
yếu tố ban đầu nào đó.
1.1 Yếu tố đầu vào (yếu tố sản xuất) và yếu tố đầu ra (sản phẩm)
Yếu tố đầu vào (hay còn gọi là yếu tố sản xuất) là các loại hàng hoá - dịch vụ
được dùng để sản xuất ra hàng hoá - dịch vụ khác. Yếu tố đầu vào bao gồm lao động,
máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu, năng lượng hàng hoá và dịch vụ là
những yếu tố đầu ra (hay sản phẩm) của quá trình sản xuất. Yếu tố đầu ra được đo
lường bởi sản lượng.
Mỗi yếu tố sản xuất cụ thể sẽ cần những yếu tố đầu vào riêng. Vì vậy, để nghiên
cứu một quá trình sản xuất tổng quát, các nhà kinh tế chia các yếu tố đầu vào theo
tiêu thức chung nhất của mọi quá trình sản xuất thành lao động và vốn.
1.2 Hàm sản xuất
Mối quan hệ giữa số lượng các yếu tố đầu vào và số lượng sản phẩm (sản
lượng) của quá trình sản xuất được biểu diễn bằng hàm sản xuất. Hàm sản xuất của
một loại sản phẩm nào đó cho biết sản lượng tối đa của sản phẩm đó (ký hiệu là q) có
thể được sản xuất ra bằng cách sử dụng các phối hợp khác nhau giữa vốn (K) và lao
động (L) ứng với một trình độ công nghệ nhất định trong một khoảng thời gian nào
đó.
Hàm sản xuất thông thường được viết như sau:


LKfq ,
Trong đó: q là sản lượng tối đa có thể được sản xuất ra ở một trình độ công
nghệ nhất định với số lượng lao động là L và số lượng vốn là K. Sản lượng q thay

2

 qLKfq ,, , trong đó

q là sản lượng tích luỹ
trong suốt thời gian hoạt động của doanh nghiệp, với
 
0



q
q
. Đối với hàm sản
xuất này, lịch sử sản xuất của doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng.
2. Năng suất biên và năng suất trung bình
2.1 Năng suất biên (MP)
Năng suất biên của một yếu tố sản xuất nào đó (vốn hay lao động) là lượng sản
phẩm tăng thêm được sản xuất ra do sử dụng thêm một đơn vị yếu tố sản xuất đó,
nếu các yếu tố khác là không đổi. Như vậy, năng suất biên của vốn và lao động lần
lượt là đạo hàm riêng của sản lượng (q) theo số lượng vốn (K) và số lượng lao động
(L):
KK
f
K
q
K
q
MP 




nhanh dần (nghĩa là năng suất biên của yếu tố sản xuất đó ngày càng lớn). Tuy nhiên,
vượt qua một mốc nào đó thì sản lượng sẽ gia tăng chậm hơn (nghĩa là năng suất
biên của yếu tố sản xuất đó ngày càng nhỏ nhưng vẫn còn dương). Nếu tiếp tục gia
tăng số lượng yếu tố sản xuất đó thì tổng sản lượng đạt đến mức tối đa (năng suất
biên bằng không) và sau đó sẽ sút giảm (năng suất biên ngày càng nhỏ và mang giá
trị âm).
Đứng trên phương diện toán học, quy luật năng suất biên giảm dần tương ứng
với giả định là đạo hàm riêng bậc hai của hàm sản xuất là âm.
0
2
2






KK
K
f
K
q
K
MP

0
2
2



 , trong đó: AP
L

AP
K
lần lượt là năng suất trung bình của lao động và của vốn.

4
Năng suất trung bình của một yếu tố sản xuất giảm xuống khi năng suất biên
thấp hơn năng suất trung bình và ngược lại năng suất trung tăng lên khi năng suất
biên lớn hơn năng suất trung bình.
2.4. Mối quan hệ giữa đường sản lượng, MP và AP
- Ở những đơn vị lao động đầu tiên, tổng sản lượng tăng rất nhanh nên độ dốc
của đường này tăng dần và như vậy đường năng suất biên dốc lên. Khi số lao động
lớn hơn L1, tổng sản lượng tăng chậm dần, độ dốc của đường tổng sản lượng giảm
nên năng suất biên giảm và đường năng suất biên dốc xuống. Sau đó đường tổng sản
lượng đạt cực đại, điều này cũng có nghĩa là việc tăng thêm số lao động không làm
tăng thêm sản lượng. Lúc này năng suất biên bằng không và đường năng suất biên
cắt trục hoành. Sau đó sản lượng giảm xuống, đường tổng sản lượng có độ dốc âm
nên năng suất biên âm.(Như đồ thị trên). 5
- Trên đường tổng sản lượng q, hãy chọn một điểm bất kỳ và kẻ một đường
thẳng từ gốc tọa độ đến điểm này. Ta có thể dễ dàng thấy năng suất lao động trung
bình của số lao động ứng với điểm này chính là độ dốc của đường thẳng vừa kẻ. Độ
dốc của đường thẳng này tăng dần khi số lao động tăng lên cho đến L2. Tại L2,

và lao động (L) để sản xuất ra một số lượng sản phẩm nhất định q
0
nào đó.
Phương trình của đường đẳng lượng:


0
, qLKf  hay


5
0
, LqgK 

Các đặc điểm của đường đẳng lượng:
- Tất cả những phối hợp khác nhau giữa vốn và lao động trên một đường đẳng
lượng sẽ cho ra một mức sản lượng như nhau.
- Tất cả những phối hợp về mặt số lượng của vốn và lao động nằm trên đường
đẳng lượng phía trên (phía dưới) mang lại mức sản lượng cao hơn (thấp hơn).
- Đường đẳng lượng dốc xuống về hướng bên phải và lồi về phía gốc toạ độ.
- Những đường đẳng lượng không bao giờ cắt nhau.
Trên một hệ trục ta có thể vẽ ra rất nhiều đường đẳng lượng tuỳ theo sản lượng.
Các nhà sản xuất sẽ linh hoạt sử dụng những kết hợp đầu vào tạo ra cùng một sản
lượng nhưng họ sẽ chọn tập hợp có chi phí thấp nhất khi xét đến yếu tố giá của các
đầu vào.
3.2 Tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên (MRTS)
Khi di chuyển dọc trên một đường đẳng lượng, ta thấy có sự thay thế giữa các
yếu tố sản xuất để tạo ra một sản lượng không đổi. Để đo lường mức độ thay thế giữa
vốn và lao động, ta có khái niệm tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên (MRTS). Tỷ lệ thay thế
kỹ thuật biên của lao động cho vốn là số đơn vị vốn phải bớt đi để tăng thêm một

= f(K, L) nên có thể suy ra phương trình đường
đẳng lượng là K = g(q
0
, L). Do đó:
dL
dK
MRTS  hay chính là nghịch dấu với độ dốc
của đường đẳng lượng.
3.3 Mối quan hệ giữa tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên (MRTS) và năng suất
biên (MP).
Tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên có quan hệ chặt chẽ với năng suất biên của lao động
và vốn.
Khi giảm sử dụng yếu tố đầu vào K một số lượng dK, sản lượng giảm đi một
lượng tương ứng là dK x MP
K
. Để cho sản lượng không đổi, lượng giảm sút này của
sản lượng sẽ phải được bù đắp bằng cách sử dụng thêm yếu tố đầu vào L một lượng
là dL thì sản lượng sẽ tăng thêm một lượng là dL x MP
L
. Do đó ta có:
-dK x MP
K
= dL x MP
L
=> MRTS
dL
dK
MP
MP
K

a
b
a
q
K  . Như vậy, đường đẳng lượng của hàm số này là
những đường thẳng song song có độ dốc
a
b

.
Trong trường hợp hàm sản xuất này, vốn và lao động có thể hoàn toàn thay thế
cho nhau. Nhà sản xuất có thể chỉ sử dụng vốn hay lao động cho sản xuất tuỳ thuộc
vào giá của chúng.
4.2 Hàm sản xuất với tỷ lệ kết hợp cố định


bLaKq ,min ;


0, ba . Phương trình hàm sản xuất này cho biết sản lượng
bằng với giá trị nhỏ nhất của hai giá trị trong ngoặc.
- Nếu aK < bL thì q = aK. Trong trường hợp này, vốn là yếu ràng buộc đối với
sản lượng. Việc tăng thêm lao động không làm không làm gia tăng sản lượng nên
MP
L
= 0. Vốn là yếu tố quyết định.
- Nếu aK > bL thì q = aL. Trong trường hợp này, lao động là yếu ràng buộc đối
với sản lượng. Việc tăng thêm vốn không làm không làm gia tăng sản lượng nên
MP
K

Sự thay đổi của sản lượng khi số lượng các yếu tố đầu vào đồng loạt tăng lên
với cùng một tỷ lệ. Giả sử hàm sản xuất có dạng q = f(K,L) và số lượng hai yếu tố
đầu vào được nhân với một số nguyên dương m>1. Khi đó, ta phân loại hiệu suất
theo quy mô của hàm sản xuất này như sau:
- Nếu sản lượng tăng nhiều hơn m lần, ta nói sản xuất có hiệu suất theo quy mô
tăng.
- Nếu sản lượng tăng đúng bằng m lần, ta nói sản xuất có hiệu suất theo quy mô
cố định.
- Nếu sản lượng tăng nhỏ hơn m lần, ta gọi sản xuất có hiệu suất theo quy mô
giảm.
Trong số các loại hiệu suất theo quy mô thì hiệu suất quy mô cố định đóng vai
trò quan trọng nhất trong các lý thuyết kinh tế. Đó không chỉ vì nó phân định ranh
giới giữa hiệu suất quy mô tăng dần và hiệu suất quy mô giảm dần trên phương diện
toán học mà còn có lý do để tin rằng hàm sản xuất có hiệu suất quy mô cố định.
* Mối quan hệ giữa hiệu suất quy mô và năng suất trung bình:
Xem xét sự thay đổi của năng suất lao động trung bình (AP
L
) khi tăng số lượng
các yếu tố đầu vào của các hàm sản xuất có hiệu suất theo quy mô khác nhau.

10
Ta có công thức tính năng suất trung bình:


L
LKf
L
q
AP
L

lao động trung bình không đổi và như vậy chi phí để sản xuất ra một đvsp sẽ không
đổi.
- Nếu hàm sản xuất có hiệu suất theo quy mô giảm thì: f(mK, mL) < mf(K, L).
Do đó AP
/
L
< AP
L
, nghĩa là khi tăng số lượng các yếu tố đầu vào lên thì năng suất lao
động trung bình sẽ giảm xuống. Điều này có thể làm tăng chi phí để sản xuất ra một
đvsp.
6. Đường đẳng phí
Giả sử một doanh nghiệp dùng một số tiền nào đó, được gọi là tổng chi phí và
được ký hiệu là TC - để mua hay thuê vốn và lao động cho sản xuất.Nếu đơn giá vốn
là v và đơn giá của lao động là w thì doanh nghiệp sẽ sử dụng bao nhiêu vốn và lao
động? Đường đẳng phí sẽ giúp trả lời câu hỏi này.
Đường đẳng phí cho biết các kết hợp khác nhau của số lượng lao động (L) và
vốn (K) có thể mua được bằng một số tiền (tổng chi phí) nhất định ứng với những
mức giá nhất định.
Phương trình đường đẳng phí có dạng: TC = vK + wL, trong đó TC là tổng chi
phí, v là đơn giá vốn, w là đơn giá lao động, vK là chi phí cho vốn, wL là chi phí cho
lao động. Phương trình này cho biết tổng chi phí cho vốn (vK) và cho lao động (wL)
phải bằng với tổng chi phí (TC).
Sự đánh đổi giữa vốn và lao động được biểu diễn bằng độ dốc của đường đẳng
phí. Nếu gọi S là độ dốc của đường đẳng phí, ta có thể viết:

11
v
w
w

MP
KL


12
CHƯƠNG 2:
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
VIỆT NAM HIỆN NAY
1. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
1.1. Thực trạng chung
Nội tại vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn ở nước ta vẫn còn chứa
đựng nhiều mảng yếu. Trong quá trình tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, những mảng yếu đó càng bộc
lộ rõ hơn. Một trong những mảng yếu đó là chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng
được yêu cầu phát triển. Những cơ hội đem lại cho người lao động trong lộ trình thực
hiện các cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là việc làm tăng do
sự xuất hiện nhiều nghề mới ở các lĩnh vực mới, khu vực mới; thị trường lao động
phát triển, sự di chuyển lao động giữa các vùng và lãnh thổ, giữa các doanh nghiệp
tăng cao. Người lao động Việt Nam vừa có thể tham gia sâu vào quá trình phân công
lao động quốc tế vừa có cơ hội để tiếp nhận khoa học và công nghệ tiên tiến. Chúng
ta đang có một lực lượng lao động xã hội rất lớn. Nguồn lao động của Việt Nam
hằng năm được bổ sung nhiều nhưng cơ hội để họ có được việc làm bảo đảm thu
nhập ổn định đời sống lại không dễ dàng. Số lao động đã được đào tạo không chỉ
chiếm tỷ lệ thấp mà còn bất cập do chất lượng đào tạo kém; cơ cấu đào tạo bất hợp
lý, mất cân đối giữa đào tạo nghề và đào tạo ở cấp bậc đại học, cao đẳng. Thêm nữa,
số đã qua đào tạo đối với thanh niên ở khu vực nông thôn lại chiếm tỷ lệ rất thấp so
với khu vực đô thị. Quá trình đô thị hóa nông thôn đã làm gia tăng áp lực về thiếu
việc làm cho khu vực này thêm trầm trọng; đồng nghĩa với việc gia tăng tỷ lệ chất
lượng nguồn nhân lực thấp.
Mâu thuẫn nội tại chất lượng nguồn nhân lực nông thôn nước ta càng phát

và hội nhập. Từ đó có thể thấy rằng, thu nhập của người lao động ở khu vực nông
thôn thấp và ngày càng cách xa ở khu vực đô thị. Những điểm vừa nêu trên đây là
một rào cản và thách thức lớn nhất trong giai đoạn hiện nay đối với người lao động
khu vực nông thôn.
Cũng cần phải nói đến một thực trạng có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng
nguồn nhân lực nông thôn là đội ngũ cán bộ cơ sở. Theo số liệu điều tra thống kê
năm 2006, cả nước có 81.300 công chức xã. Về trình độ học vấn: có 0,1% chưa biết
chữ; 2,4% có trình độ tiểu học; 21,5% trung học cơ sở và 75% trung học phổ thông.
Về trình độ chuyên môn: 9% cao đẳng, đại học; 39,4% trung cấp; 9,8% sơ cấp;
48,7% chưa đào tạo. Về trình độ quản lý nhà nước: có tới 55% chưa qua bất kỳ lớp
học quản lý nhà nước nào; 85% không hiểu biết gì về vi tính. ở vùng nào cũng có cán
bộ chưa qua đào tạo. Tại các tỉnh vùng núi Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ tỷ lệ
còn cao hơn. Đó là lý do chủ yếu dẫn đến tình trạng trì trệ, yếu kém, thiếu khả năng
vận động tổ chức, chỉ đạo quần chúng thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương,
cơ sở. Tình trạng lúng túng trong giải quyết các công việc phát sinh từ thực tế, thậm
chí còn làm sai lệch chính sách, pháp luật không phải là hiện tượng cá biệt. Lực
lượng khoa học kỹ thuật nông nghiệp ở nông thôn hiện chỉ chiếm 0,5% - 0,6% lao
động trực tiếp ở khu vực này Bất cập nữa là về chính sách sử dụng và thu hút cán

14
bộ, người lao động có trình độ cao cũng đang bộc lộ sự bảo thủ, lạc hậu, chậm đổi
mới, không thỏa mãn được các yêu cầu cơ bản, tối thiểu hiện nay, ít nhất là về lợi
ích, vì vậy không thu hút được lực lượng lao động có trình độ cao về làm việc ở địa
phương, thậm chí còn khó ”giữ chân” được những cán bộ khoa học - kỹ thuật đang
công tác tại các cơ sở ở nông thôn. Tình trạng này càng làm cho chất lượng nguồn
nhân lực nông thôn trở nên thấp kém hơn.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn thấp, ảnh
hưởng lớn đến tiến trình phát triển chính là do môi trường kinh tế, văn hóa - xã hội
nông thôn chưa thực sự thay đổi lớn theo hướng phát triển bền vững trên lộ trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Quá trình đô thị hóa nông thôn diễn ra với tốc độ cao

nông thôn, nhất là lứa tuổi thanh niên nhằm phát triển các nghề truyền thống. Bình
quân hàng năm, các làng nghề đã đào tạo được thêm việc làm cho khoảng 250.000
lao động. Riêng các cơ sở dạy nghề thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
trong 3 năm từ năm 2006-2008 đã tuyển sinh được 120.322 người, trong đó quy mô
tuyển sinh năm 2008 là 48.000 học sinh, lao động nông thôn chiếm trên 85%.
Không thể phủ nhận được những thành quả của công tác đào tạo nghề cho lao
động nông thôn mang lại. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận một thực tế là thời gian
qua, số lượng và chất lượng dạy nghề cho lao động nông thôn, đặc biệt là dạy nghề
nông nghiệp cho lao động nông thôn vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Bên cạnh đó,
năng lực hệ thống các trường đào tạo và dạy nghề còn nhiều hạn chế. Mạng lưới cơ
sở dạy nghề nói chung tuy đã phát triển nhưng lại tập trung chủ yếu ở vùng đô thị. Ở
khu vực nông thôn và miền núi, vùng sâu vùng xa, số lượng cơ sở dạy nghề rất ít.
Đến nay, cả nước còn 253 huyện chưa có trung tâm dạy nghề; 31% phòng học và
20,7% số nhà xưởng thực hành của các cơ sở dạy nghề là nhà cấp 4, nhà tạm, tập
trung chủ yếu ở các cơ sở đào tạo do địa phương quản lý, các tỉnh khó khăn, huyện
nghèo. Đội ngũ giáo viên dạy nghề cho lao động nông thôn còn thiếu về số lượng, cơ
cấu ngành nghề đào tạo chưa phù hợp, chất lượng còn hạn chế. Hiện nay, có 42 trung
tâm dạy nghề không có giáo viên cơ hữu; 39 trung tâm dạy nghề chỉ có 1 giáo viên
cơ hữu; 100 trung tâm có từ 2-3 giáo viên cơ hữu. Ngoài ra, các cán bộ quản lý dạy
nghề ở một số cơ sở dạy nghề chưa đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, thiếu kinh
nghiệm quản lý.
1.3. Thực trạng tuyển sinh ngành nông nghiệp
Tuy thị trường lao động đang “khát” nhân lực có đào tạo ở khối ngành nông -
lâm - thủy sản, tỷ lệ lao động có việc làm trong lĩnh vực này lên đến 50 – 70%,
nhưng dường như không nhiều sinh viên mặn mà với ngành học này.
Mùa tuyển sinh ĐH, CĐ 2009, các trường có đào tạo ngành nông - lâm - thuỷ
sản lâm vào tình trạng “đói” sinh viên, nhiều ngành 2 - 3 năm liên tiếp không có
người học và dần “chết yểu” dù điểm trúng tuyển không cao, nhiều trường có điểm
chuẩn bằng điểm sàn của Bộ.
Trường “chờ” sinh viên

1.4. Xu hướng lao động rời bỏ ngành nông nghiệp, nông thôn
Đa phần những nhân công trẻ có trình độ học vấn từ cấp ba trở lên, thậm chí
mới chỉ hết cấp 2, cũng đều có xu hướng muốn làm việc ở thành thị hơn. Vài ba năm
gần đây, Việt Nam chứng kiến sự phát triển rất nhanh trong sản xuất, xây dựng và
dịch vụ việc làm tại thành thị. Điều đó dẫn đến tỷ lệ đô thị hóa rất nhanh và không
phải lúc nào cũng kiểm soát được.
Lao động trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta đang giảm với tốc độ 800 nghìn
- 1 triệu người/năm, và giảm tỷ lệ công việc trong ngành nông nghiệp (bao gồm cả
đánh bắt và lâm nghiệp) từ 62% xuống còn 54% chỉ trong vòng 5 năm, đây là một sự
thay đổi rất nhanh về cơ cấu nhưng là một thực tế có thể hiểu được.

17

2. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN HIỆN NAY
2.1. Đào tạo nghề
Về nội dung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trước hết là chú trọng việc
đào tạo nghề nông cho nông dân và các chủ trang trại nhằm giúp họ nâng cao kiến
thức hiểu biết về khoa học - kỹ thuật hướng tới năng suất lao động cao, chất lượng
tốt, giá thành hạ, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; biết làm nghề nông một cách
khoa học, có kỹ năng quản lý, có kiến thức thị trường để lựa chọn nghề sản xuất ra
loại sản phẩm có giá trị kinh tế cao; đồng thời, bồi dưỡng kiến thức xây dựng nông
thôn mới để giúp họ tham gia vào quá trình xây dựng kế hoạch phát triển làng, xã, tự
giác đóng góp xây dựng và quản lý sau xây dựng các công trình hạ tầng của cộng
đồng.
- Đào tạo nghề cho nông dân chủ yếu là tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho lao
động nông nghiệp qua trung tâm học tập cộng đồng tại thôn do một tổ chức đoàn thể
hoặc hợp tác xã nơi đó chủ trì. Sử dụng các mô hình mẫu của chương trình khuyến
nông. Kết hợp hình thức đào tạo, bồi dưỡng ở trình độ cao hơn tại hệ thống các
trường cao đẳng, trung cấp nông nghiệp tỉnh.

- Tiếp tục đầu tư kinh phí cho kiên cố hóa phòng học ở khu vực nông thôn
chưa hoàn thành. Hỗ trợ 100% kinh phí sách giáo khoa và sinh hoạt phí cho học sinh
thuộc diện nghèo hoặc đối tượng chính sách xã hội cho học sinh các trường nội trú.
- Hỗ trợ thúc đẩy dạy nghề, bằng việc điều chỉnh, bố trí ngân sách hỗ trợ mua
sắm thiết bị đào tạo nghề cần thiết cho các trung tâm giáo dục cộng đồng. Tăng kinh
phí đầu tư xây dựng các mô hình khuyến nông, xây dựng mô hình nông thôn mới
hơn trước. Hỗ trợ kinh phí để ít nhất mỗi huyện có một Trung tâm dạy nghề tổng hợp
theo chuẩn của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (do doanh nghiệp đầu tư và
thực hiện). Giúp cho người học nghề được vay ngân hàng không lãi suất tiền học phí
(ngân sách nhà nước hỗ trợ lãi suất ngân hàng). Đồng thời, khuyến khích các doanh
nghiệp tự đào tạo công nhân (bằng chính sách hỗ trợ một phần kinh phí dạy nghề cho
công nhân, nhân viên mới tuyển chưa có chứng chỉ nghề).
- Hỗ trợ 100% kinh phí cho đào tạo cán bộ cơ sở và có chính sách đưa cán bộ
khoa học - kỹ thuật về nông thôn thông qua việc yêu cầu thực hiện chế độ nghĩa vụ
đối với sinh viên đại học (các ngành liên quan đến nông nghiệp, nông thôn) về công
tác tại cơ sở xã thời hạn từ 3 đến 5 năm. Cùng với áp dụng nghĩa vụ đi thực tế và
phục vụ nông thôn là khuyến khích chế độ đãi ngộ. Ngoài tiền lương, đối tượng này
còn được hưởng ít nhất 50% lương và sau thời hạn nghĩa vụ, họ sẽ được ưu tiên xét
tuyển bổ sung cho lượng công chức và các đơn vị sự nghiệp nông nghiệp các cấp./.
2.2. Chính sách đào tạo ở các trường Đại học
Nước ta có mạng lưới các trường đào tạo chuyên về lĩnh vực nông nghiệp tương
đối lớn, trải dài từ Bắc vào Nam như Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Đại học Nông -

19
Lâm (Đại học Thái Nguyên), Đại học Nông -Lâm Huế, Đại học Nông -Lâm TP. Hồ
Chí Minh Đó là chưa kể hệ thống các viện nghiên cứu khoa học với các ngành
nghề đào tạo phong phú, đa dạng. Số lượng các trường phục vụ cho việc đào tạo
nguồn nhân lực ngành nông nghiệp rất lớn nhưng thí sinh lại không hào hứng với
ngành này. Có rất nhiều nguyên nhân khiến sinh viên không quan tâm như ngành học
không hấp dẫn, việc làm cũng như thu nhập không cao, việc đầu tư phát triển nguồn

20
KẾT LUẬN

Lao động nông nghiệp, nông thôn hằng năm được bổ sung nhiều nhưng cơ hội
để họ có được việc làm bảo đảm thu nhập ổn định đời sống lại không dễ dàng. Số lao
động đã được đào tạo không chỉ chiếm tỷ lệ thấp mà còn bất cập do chất lượng đào
tạo kém; cơ cấu đào tạo bất hợp lý, mất cân đối giữa đào tạo nghề và đào tạo ở cấp
bậc đại học, cao đẳng. Thêm nữa, số đã qua đào tạo đối với thanh niên ở khu vực
nông thôn lại chiếm tỷ lệ rất thấp so với khu vực đô thị. Quá trình đô thị hóa nông
thôn đã làm gia tăng áp lực về thiếu việc làm cho khu vực này thêm trầm trọng; đồng
nghĩa với việc gia tăng tỷ lệ chất lượng nguồn nhân lực thấp.
Và những khó khăn bất cập đó không phải là không khắc phục được, nó đòi hỏi
phải có những giải pháp hợp lý, và những giải pháp này tôi cũng đã trình bày ở nội
dung chương 2 của tiểu luận.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status