Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm xây dựng, thử nghiệm bộ chỉ thị sinh học phục vụ quan trắc môi trường các lưu vực sông của việt nam áp dụng thử nghiệm cho lưu vực sông nhuệ đáy dự thảo hướng dẫn áp dụng bộ c - Pdf 13

TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG
TRUNG TÂM QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG
Chuyên đề

DỰ THẢO HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG
BỘ CHỈ THỊ SINH HỌC ĐẦY ĐỦ
ĐỐI VỚI QUAN TRẮC
MÔI TRƯỜNG LƯU VỰC SÔNG
II.3. Xử lý và bảo quản mẫu tại hiện trường 12
II.3.1. Phân loại và xử lý mẫu tại hiện trường 12
II.3.2. Bảo quản mẫu tại hiện trường 13
PHẦN III. PHÂN TÍCH MẪU TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM 15
PHẦN IV. PHÂN TÍCH SỐ LIỆU VÀ LẬP BÁO CÁO 16
IV.1. Phương pháp phân tích số liệu 16
IV.1.1 Thực vật nổi 16
VI.1.1.1. Loài/chi tảo chỉ thị 16
VI.1.1.2. Chỉ số tỷ lệ giữa các taxon 16
VI.1.1.3. Chỉ số đa dạng (H', D) 18
IV.1.2. Thực vật bám (Periphyton) 19
IV.1.3. Thực vật thuỷ sinh lớn (Macrophyta) 20
IV.1.3.1. Loài chỉ thị 20
IV.1.3.2. Tích tụ kim loại nặng 20
IV.1.4. Động vật nổi 20
IV.1.4.1. Loài chỉ thị
20
IV.1.4.2. Chỉ số tỷ lệ giữa các taxon 22
IV.1.4.3. Chỉ số đa dạng (H’, D) 22
IV.1.5. Động vật không xương sống đáy cỡ lớn (Macrobenthos) (ĐVKXSĐCL)
22
IV.1.6. Động vật KXS đáy cỡ trung bình và giun tròn (Nematoda) 24
IV.1.7. Cá 25
IV.1.7.1. Chỉ số sinh học tổ hợp (Intergrated Biological Index - IBI) 25
IV.1.7.2. Tích tụ kim loại nặng 27
IV.2. Lập báo cáo kết quả quan trắc 27
PHẦN V. TÀI LIỆU THAM KHẢO 28

3


thiệu chi tiết về phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm.
I.3. Đối tượng áp dụng
Bản hướng dẫn này phục vụ đố
i tượng là những chuyên gia trong lĩnh vực
sinh học, các nhà quan trắc môi trường nhằm nâng cao năng lực trong công tác
quan trắc nước và phân tích, đánh giá môi trường sử dụng chỉ thị sinh học.
I.4. Đối tượng nghiên cứu
I.4.1. Nhóm sinh vật
Bộ chỉ thị sinh học đầy đủ sử dụng các nhóm đối tượng sau:
- Thực vật nổi (Phytoplankton)
- Thực vật bám (Periphyton)
- Thực vật thuỷ sinh lớn (Macrophyta)

4
- Động vật nổi (Zooplankton)
- Động vật không xương sống đáy cỡ lớn (Macrobenthos)
- Động vật không xương sống đáy cỡ trung bình và giun tròn (Nematoda)
- Cá (Pisces)
Việc kết hợp nhiều nhóm đối tượng và nhiều loại chỉ thị sẽ cho phép có
được những đánh giá đúng đắn nhất về chất lượng nước trong mỗi thuỷ vực.
Thực vật nổi (Phytoplankton)
Trong các thuỷ vực, tảo là mộ
t nhóm thực vật chỉ thị quan trọng để đánh
giá chất lượng nước. Tảo là nhóm sinh vật phổ biến được lựa chọn làm sinh vật
chỉ thị để đánh giá chất lượng, xác định nguyên nhân gây ô nhiễm, dự báo diễn
biến môi trường thủy vực vì tảo có ưu điểm là có phân bố rộng, dễ thu mẫu, kinh
phí thấp và thuận tiện cho việc tính toán các chỉ số.
Thực vậ
t bám (Periphyton)
Quần xã thực vật bám đáy là chỉ thị rất tốt về ô nhiễm cục bộ cho loại thủy

5

Động vật KXS đáy cỡ trung bình và giun tròn (Nematoda)
Động vật KXS đáy cỡ trung bình ở đây thực chất là một số nhóm động vật
giáp xác như Copepoda-Haparticoida, Ostracoda Động vật không xương sống
cỡ trung bình và giun tròn (Nematoda) đã được nghiên cứu và đề xuất làm chỉ
thị sinh học đánh giá chất nước nước sông (TCVN 7220-1: 2002; TCVN 7220-
2: 2002). Ưu điểm của nhóm này là dễ thu mẫu, dễ quan sát và phân tích, nhạy
cảm với những biến
đổi nhỏ của môi trường, thể hiện thông qua sự suy giảm của
một số loài nhất định hoặc thậm chí là biến mất hoàn toàn, vì vậy dễ so sánh và
đánh giá những thay đổi môi trường nhỏ thông qua nhóm đối chứng.

Quần xã cá nhìn chung có một tập hợp loài biểu thị sự biến động mức độ
dinh dưỡng (ăn tạp, ăn thực vật, ăn côn trùng, ăn sinh vật nổi, ăn cá con). Chúng
có th
ể tích hợp các tác động của các mức dinh dưỡng thấp hơn, bởi vậy, cấu trúc
quần xã cá có thể phản ảnh sự lành mạnh của môi trường tổng hợp. Ngoài ra, cá
là xích cuối cùng trong lưới thức ăn tự nhiên của thuỷ vực, là thức ăn của con
người cho nên chúng có ý nghĩa để đánh giá các tác hại. Cá dễ thu thập và dễ
phân loại được tới loài. Hầu hết các mẫu đều có thể phân loạ
i được trên thực địa
và môi trường sống, đặc điểm phân bố của hầu hết các loài cá đều đã được biết.
I.4.2. Các loại chỉ thị
Với từng nhóm sinh vật sẽ áp dụng một số loại chỉ thị nhất định, bao gồm:
• Đối với thực vật nổi: Loài chỉ thị; Chỉ số tỷ lệ giữa các taxon; Chỉ số đa
d
ạng;
• Đối với thực vật bám: Loài chỉ thị;
• Đối với thực vật thuỷ sinh lớn (Macrophyta): Loài chỉ thị;

sinh vật và tác động đó lớn đến mức nào. Có thể cũ
ng phải điều tra lặp lại với
khoảng thời gian đều đặn để xác định mức độ phục hồi theo thời gian. Trong
trường hợp cần kiểm kê chất lượng nước và đa dạng sinh học trong một hệ
thống sông ngòi, hoặc ở mức độ vùng, hoặc ở mức độ quốc gia, số lượng các
điểm lấy mẫu sẽ nhiều hơn và đ
òi hỏi phải có những điều tra lặp lại, sử dụng
những điểm điều tra bổ sung ở những khoảng thời gian cần thiết, có thể 5 năm
một lần, để quan trắc sự thay đổi về chất lượng của các nguồn nước ngọt.
Với bất cứ mục đích nào thì những địa điểm cụ thể được lự
a chọn phải là
điển hình (đặc trưng) cho toàn bộ lưu vực. Do đó, cần xác định trước tiên là yếu
tố sinh cảnh chính của những điểm có thể được lấy mẫu. Những nơi thường bị
tác động do ảnh hưởng cục bộ, không tiêu biểu như các cây cầu, các đập nước,
các đê nhân tạo hoặc các ảnh hưởng xáo trộn do con người hay động vật lội qua
thì nên tránh. Vi
ệc lựa chọn vị trí quan trắc đồng thời phải đảm bảo tính an toàn
và không ảnh hưởng đến sức khoẻ người thực hiện.
Các điểm thu mẫu sinh vật đồng thời là các điểm đo đạc và thu mẫu phân
tích các thông số lý hóa như độ pH, độ dẫn nhiệt, hàm lượng ôxy hoà tan trong
nước, nhiệt độ nước Vì vậy cần lưu ý đến những số liệu cơ bả
n về đặc điểm vị
trí lấy mẫu, bao gồm: độ sâu, chiều rộng, vận tốc dòng chảy, những mô tả về
thực vật và những đặc điểm trầm tích. Ngoài ra cần ước tính diện tích các vùng
có dạng nền đáy khác nhau (rất cần thiết để cho phép áp dụng quy trình lấy mẫu
ĐVKXS), khoảng thời gian dành cho việc lấy mẫu ở mỗi dạng, nơi sống tươ
ng
ứng với vùng mà mỗi loại chiếm cứ. Điều kiện tự nhiên của đáy sông sẽ tác
động đến kết quả thu mẫu đáng kể, vì vậy việc ghi chép các thông tin về vị trí
lẫy mẫu cần phản ánh 5 dạng cấu trúc như trong Bảng 1.

hợp một số loại dụng cụ thu mẫu để thu được kết quả tốt nhất.
Lưới thu mẫu sinh vật nổi:
Đây là loạ
i chuyên dụng dùng để thu các loại sinh vật nổi. Lưới thu mẫu
sinh vật nổi bao gồm nhiều loại, nhưng phổ biến được sử dụng có 4 loại: lưới
hình chóp đơn giản, lưới Hensen, lướiApstein và lưới Juday. Mặc dù có sự sai
khác nhất định, song cấu tạo của lưới gồm 3 phần chính:
− Phần miệng lưới: gồm vòng đai miệng (đường kính từ 15-30cm), tiếp đến là
bao vải hình chóp c
ụt. Vòng đai miệng được nối với dây kéo lưới, còn phần vải
hình chóp cụt nối với thân lưới.
− Phần thân lưới (phần lọc nước): thân lưới có chiều dài gấp 2-3 lần đường
kính miệng lưới, được làm từ loại vải đặc biệt có mắt lưới cực nhỏ (5-25, thậm
chí 315 micromet tuỳ theo lưới vớt TVPD hay ĐVPD) nhưng khả năng thoát
nước phải cao. Thân lưới nối v
ới miệng lưới ở phía trên và nối với ống đáy ở
phía dưới (qua một manset bằng vải).
− Ống đáy: thường là loại ống kim loại hay bằng nhựa, có thể tích khoảng 150-
200 ml (có thể giữ lại một lượng cả nước lẫn mẫu). Ngoài ra phải có khoá điều
chỉnh (đóng mở) để có thể lấy được mẫu ra, sau khi đã kéo lưới thu mẫu trong
vực nướ
c.

8
Dụng cụ thu mẫu với sinh vật đáy
Các dụng cụ cần thiết để lấy mẫu động vật không xương sống gồm vợt ao
(pond net) và gầu Dredge.
− Vợt ao: gồm một khung hình chữ nhật, đỡ một cái túi lưới với chiều sâu
khoảng 50 cm. Kích thước mắt lưới thường có đường kính 1mm. Khung đỡ lưới
được nối với một cán dài cỡ 1,5 m.

9

Vợt tay (Hand-net)

Vợt ao (Pond-net)

Cào đáy thu mẫu (Dredge)

Cào đáy thu mẫu định lượng côn trùng nước

Gầu thu mẫu đáy - thu mẫu
định lượng (Petersen)

Ống hình trụ lấy mẫu giun tròn
và gầu lấy bùn đáy kiểu Ponar 10
II.2.2. Phương pháp lấy mẫu tại hiện trường
Đối với mỗi nhóm sinh vật, phương pháp lấy mẫu có những nét đặc thù
riêng, cụ thể:
Mẫu thực vật nổi (phytoplankton): Bao gồm mẫu định tính và định lượng:
− Mẫu định tính: được lấy nhằm mục đích xác định thành phần loài TVN).
Tại mỗi điểm thu mẫu dùng lưới vớt thực vật nổi với kích thướ
c mắt lưới từ 20-
25 micromet kéo thẳng từ đáy lên hoặc đặt miệng lưới cách mặt nước 15-20cm
rồi kéo lưới theo hình số tám hay ziczắc. Kéo lưới khoảng vài lượt rồi nhấc lưới
lên, mở khóa ống đáy đổ mẫu vào lọ (can) đựng mẫu.
− Mẫu định lượng: được lấy để xác định mật độ tế bào hay khối lượng sinh
vật. Phương pháp lấy: Dùng lưới vớ11
Bảng 2. Tiến trình thu mẫu
Công đoạn 1: Hướng dẫn quan sát
Thu thập động vật từ bề mặt nước (khoảng 1 phút cho công đoạn này)
Công đoạn 2: Thu mẫu chủ yếu
Thu thập theo A, B hoặc C
A. Nơi nông có thể lội qua B. Nước sâu hơn, lấy mẫu
bằng cách đạp ở tất cả các
điểm, nhưng có thể lấy một ít
ở những dòng chảy chính
bằng vợt ao
C. Quá sâu, không thể thu thập
các mẫu vật từ dòng chảy
chính bằng vợt ao
- 3 phút lấy mẫu bằng vợt ao
(Pond-net) bằng cách đạp và
vợt. Dựa vào đặc điểm tự
nhiên của nên đáy, dòng
chảy, nơi sống của động vật
đáy và động vật bơi lội tự do.
- Phải thu mẫu ở tất cả các
nơi sống trong mối tương
quan về thời gian với bề mặt
nên đáy tương ứng của
chúng
- 3 phút lấy m

phương pháp lấy mẫu thích h
ợp tuỳ thuộc vào vị trí riêng biệt. Nên thực hiện từ
3 – 5 lần kéo lưới vét; một làn kéo gần song song với bờ để thu các loài ven bờ.
Lưới vét nên được quăng xuống vùng hạ lưu và kéo ngược trở lên. Việc lấy mẫu
ở trên nền đáy chắc và thô nên được tiến hành nhiều lần, di chuyển ngắn và
mạnh để gây nên sự khấy động mạnh nhất. Ở các nền đáy kém trắc và mịn h
ơn,
việc lấy mẫu sẽ được thực hiện nhanh hơn để lưới vét thu một cách có hiệu quả
ở lớp trên của nền đáy. Cần lưu ý rằng, việc thu mẫu bằng lưới vét nên được bổ
sung bằng việc lấy mẫu bằng vợt cào cán dài ở bất kỳ nơi cư trú ven sông nào
mà chưa được lấy mẫu đầy đủ khi dùng lưới vét. Các vật mẫu thu bằng l
ưới vét
không cần giữ tách riêng, nhưng khi lấy mẫu cả bằng lưới vét và vợt tay thì các
mẫu này phải được giữ tách riêng.
Mẫu giun tròn: Tại mỗi điểm, nếu sử dụng ống thu hình trụ thì thu mẫu 4
lần. Ấn nhẹ ống hình trụ sâu vào nền đáy khoảng 15cm, đậy lắp phía trên ống,
rút ống lên, cho mẫu vào lọ nhựa, sau đó lọc qua rây lọc 0,3mm để loại rác. Nếu
là đáy cát thì cho m
ẫu vào nước sạch, quấy tròn mẫu trong lọ nhựa dung tích
1000ml, sau đó gạn nước phía trên vào lọ đựng mẫu 500mm. Dùng đĩa petri đổ

12
từng phần mẫu lên đĩa, cho thêm nước lã sạch, khuấy tròn; quá trình khuấy tròn
lặp lại 7-10 lần đủ để tách các động vật KXS đáy ra khỏi cát, bùn. Riêng với
giun tròn, tách lọc theo sơ đồ:

Điều quan trọng đối với quy trình lấy mẫu là sự thống nhất: với mỗi vị trí
lấy mẫu, phương pháp lấy mẫu được xác định tại thời điểm ban đầu và sau đó
không được thay đổi, áp dụng thống nhất ở tất cả các lần lấy mẫu sau đó, nếu
không việc so sánh giữa các năm sẽ không mang lại kết quả.

Loc thô qua rây, kích thước
lỗ 0,3mm
Ly tâm 3 lần (v=2500
vòng/phút)
Cố định bằng formalin 4%
Gạn lọc (5-7 lần) trong
xô nhựa 10 lít
Lọc tinh qua rây, kích thước
lỗ 0,063 mm
Rửa sạch cặn

13
− Mẫu sinh vật đáy: Các mẫu cần được cố định trong foocmon 10%
(formandehyt 4%), hoặc cồn tuyệt đối ngay sau khi thu mẫu để ngăn ngừa các
loài ăn thịt có trong mẫu khỏi ăn các sinh vật khác. Thuốc cố định sẽ có tác dụng
làm cứng các cutin của côn trùng và giun ít tơ và làm giảm khả năng phân huỷ
trong quá trình bảo quản và vận chuyển.
Lựa chọn, định loại và đếm vật mẫu
Tất c
ả các động vật giữ lại được sau khi lọc bằng lưới lọc có kích thước lỗ
500 µm được xem như là phần của mẫu và nên được xác định đến họ, dùng khoá
phân loại đã được thống nhất theo chương trình quan trắc. Kết quả phân tích về
thành phần ĐVKXS được ghi chép vào phiếu điều tra ngay tại hiện trường.
Ngoài ra cần có một cuốn vở để ghi nhật ký trong quá trình thu mẫu phục
v
ụ cho việc kiểm chứng kết quả và đánh giá những yếu tố phụ tác động trong
quá trình lấy mẫu có thể ảnh hưởng đến kết quả phân tích.
II.3.2. Bảo quản mẫu tại hiện trường
Các mẫu sinh vật tại hiện trường sau công tác phân loại và đánh giá sơ bộ
sẽ được bảo quản và vận chuyển về phòng thí nghiệm để có những phân tích sâu

14
và thuận tiện cho khâu xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm cũng như ghi chép kết
quả phân tích mẫu.
− Mỗi mẫu tại hiện trường được dán một nhãn riêng, trên đó cần ghi các
tiêu chí sau: Trạm (thuỷ vực) thu mẫu; điểm thu mẫu, loại mẫu; thời gian thu
mẫu; thể tích nước thu qua lưới hay bathomet; tên người thu mẫu…
Lưu giữ mẫu: Mẫu sau khi được bảo quản sẽ được lưu giữ trong các thùng
xốp/nhựa có chứa đá để bảo quản lạnh và vận chuyển về phòng thí nghiệm.

15
PHẦN III. PHÂN TÍCH MẪU TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM
Mẫu sau khi vận chuyển về phòng thí nghiệm phải tiếp tục được cố định
trong foocmon cho đến khi chúng được đưa vào phân tích; có thể rửa toàn bộ
thuốc định hình và lưu trữ mẫu trong cồn 70% (cồn metylic côngnghiệp). Cần
thực hiện việc này trong tủ đốt hay nơi thông thoáng và tránh hít thở phải hơi
bốc lên. Tốt nhất là thêm cồn 90% vào để đạt độ ngập cao gấp hai lầ
n mẫu để
pha loãng bớt nước trong mẫu.
Phương pháp phân tích định tính
Việc ước lượng thành phần các loài theo nhóm sinh vật là rất cần thiết.
Điều này sẽ cho phép xác định được những thay đổi chi tiết trong cấu trúc quần
xã các loài. Để tiến hành định tính thành phần và sự phong phú các loài, các mẫu
sinh vật được rửa sạch, đếm và ghi chép một cách cơ học theo bảng phân loại
các nhóm. Đối với các nhóm không thể xác định bằng quan sát bằ
ng mắt thì sẽ
dùng kính hiển vi để xác định loài. Lưu ý đối với mẫu thực vật bám cần phân
biệt các nhóm rêu, nấm mốc cũng có trong lớp thực vật bám.
Riêng đối với mẫu trầm tích, tiến hành tách lọc, xử lý và định loại mẫu
trong phòng thí nghiệm bằng cách: Mẫu được xử lý theo phương pháp của Olaf
Plannkuche và Hjalmar Thiel. Mẫu trầm tích pha loãng và rửa qua rây có kích

PHẦN IV. PHÂN TÍCH SỐ LIỆU VÀ LẬP BÁO CÁO
IV.1. Phương pháp phân tích số liệu
Từ kết quả phân tích các sinh vật chỉ thị, các công thức sau được áp dụng
để tính toán kết quả cho các nhóm sinh vật chỉ thị:
IV.1.1 Thực vật nổi
VI.1.1.1. Loài/chi tảo chỉ thị
Các loài chỉ thị được lấy ngẫu nhiên 10% trong tổng số loài thu được trong
mẫu để đếm và phân tích theo nhóm loài/chi tảo nhằm xác định thành phần loài
về mặt định tính và că
n cứ trên đặc tính phân bố tại những vùng có chất lượng
môi trường khác nhau của các nhóm/chi tảo để kết luận về chất lượng nước tại
vị trí lấy mẫu.
Bảng 4. Các chi trong nhóm Thực vật phù du có thể sử dụng để xác định
mức độ ô nhiễm của môi trường nước
Những chi thường có mặt ở thuỷ
vực không ô nhiễm
Những chi thường có mặt ở thuỷ
vực ô nhiễm
Aulacoseira
Cyclotella
Fragilaria
Pediastrum
Staurastrum
Dinobryon
- Vi khuẩn lam (Tảo lam):
o Oscillatoria
o Lynbya
o Spirulina
o Merismopedia
o Microcystis

Chỉ số Chlorococcales = Chl/D 1 1-2,5 2,5-3,1
Chỉ số Diatomae= C/D 0-0,2 0,2-3,0 3,0-6,0
Chỉ số Euglenophyta = E/(Cy+Chl) 0-0,1 0,1-0,4 0,4-0,5
Trong đó: Cy = Cyanophyta (số loài thuộc ngành tảo lam);
Chl = Chlorococcales (số loài thuộc bộ Chlorococcales, ngành tảo lục);
C = Centrales (số loài thuộc bộ tảo silic trung tâm, ngành tảo silic);
D = Desmidiaceae (số loài thuộc họ Desmidiaceae, bộ Desmidiales,
ngành tảo lục);
E = Euglenophyta (số loài thuộc ngành tảo mắt)

(2) Công thức của Nygaard (1948)
Cy + Chl + C + E
Q =
D
Trong đó: Q = Chỉ tiêu đánh giá
Cy = Cyanophyta (số loài thuộc ngành tảo lam);
Chl = Chlorococcales (số loài thuộc bộ Chlorococcales, ngành tảo lục);
C = Centrales (số loài thuộc bộ tảo silic trung tâm, ngành tảo silic);
D = Desmidiaceae (số loài thuộc họ Desmidiaceae, bộ Desmidiales,
ngành tảo lục);
E = Euglenophyta (số loài thuộc ngành tảo mắt)
Bảng 6. Chỉ số Q tương ứng với các bậc dinh dưỡng nước
Chỉ số đánh giá Nghèo dinh dưỡng Dinh dưỡng trung bình Phú dưỡng
Q <1 từ 1 đến 5 >5

(3) Công thức Schroevers (1965)
Chl - D
Q = 100
Chl + D
Trong đó: Q = Chỉ tiêu đánh giá

2
lg∑−=


S: Tổng số loài trong một mẫu thu
Ni: Số cá thể của loài i trong mẫu thu
N: Tổng số cá thể trong mẫu
Từ kết quả Chỉ số Shannon – Weiner (H') tính được, ta có thể đánh giá tính
ĐDSH của hệ sinh thái theo các bậc sau:
Bảng 8. So sánh giá trị của chỉ số Shannon - Weiner với mức độ ĐDSH
Giá trị H' Mức ĐDSH
> 3 Đa dạng sinh học tốt
2 – 3 Đa dạng sinh học khá
1 – 2 Đa dạng sinh học trung bình
< 1 Đa dạng sinh học kém
(2) Chỉ số Margalef
N
S
D
ln
1−
=

Trong đó: D là chỉ số đa dạng Margalef; S là tổng số loài trong mẫu; N là
tổng số lượng cá thể trong mẫu.
Đây là một chỉ số được sử dụng rộng rãi để xác định tính đa dạng hay độ
phong phú về loài. Giống như chỉ số α của Fisher. Chỉ số Margalef cũng chỉ cần
biết được số loài và số lượng cá thể trong mẫu đại diện của qu
ần xã. Ngoài ưu
điểm dễ sử dụng để tính đa dạng cho các nhóm sinh vật khác nhau của quần xã,

Bảng 11. Bảng tính điểm mức độ dinh dưỡng của môi trường nước
theo quần xã tảo bám đáy
Điểm Đặc điểm tảo bám và vai trò chỉ thị của chúng
0-1,9 Tảo lục dạng sợi dài chỉ thị môi trường nước từ khá tới giàu dinh dưỡng phốt
pho, hoặc ni tơ. Thường thấy ở đoạn suối có nước thải từ ao giàu dinh
dưỡng hoặc đoạn suối có bùn bám đá.
2-3,9 Tảo lục dạng sợi dài chỉ thị môi trường nước từ khá tới giàu dinh dưỡng phốt
pho, hoặc ni tơ.
4-5,9 Quần xã tảo si líc (Diatom) màu nâu nhạt với dạng mảng phủ khá dày chỉ thị
môi trường nước dinh dưỡng phốt pho và ni tơ ít
6-7,9 Quần xã tảo bám bao gồm các loài tảo đơn bào với dạng màng mỏng màu
nâu đỏ, hoặc vi khuẩn lam với dạng màng dày hơi, màu nâu tối, chỉ thị cho
môi trường nước dinh dưỡng thấp.
8-10 Quần xã tảo bám là tảo lục đơn bào, vi kuẩn lam, tảo si líc, dạng màng mỏng
màu xanh hoặc nâu tối phủ trên đá, sỏi, chỉ thị môi trường nước sạch với
hàm lượng dinh dưỡng thấp, hoặc các nhóm động vật KXS ăn thịt phát triển
trong đám sỏi cuội đáy. 20
Bảng 12. Các chi trong nhóm tảo bám có thể sử dụng để xác định mức độ
ô nhiễm của môi trường nước
Những loài đặc trưng cho
môi trường ít ô nhiễm
Những loài đặc trưng cho
môi trường ô nhiễm vừa
Những loài có khả năng
chống chịu cao với ô nhiễm
hữu cơ
Achnanthidium

Một số các nghiên cứu so sánh sự hiện diện của một số loài động vật nổi
tương ứng với môi trường nước thông qua chỉ số nhiễm bẩn (Saprobe index):

21
Bảng 13. Sự hiện diện của một số loài động vật nổi tương ứng với các mức
độ nhiễm bẩn
Tên taxon Phân loại ô nhiễm
Trùng bánh xe (Rotatoria)
Asplanchna sieboldi Ô nhiễm nặng
Rotaria neptunia Ô nhiễm nặng
Rotaria rotaria Ô nhiễm nặng
Brachionus quadridentatus Ô nhiễm nặng
B. caliciflorus Ô nhiễm nặng
B. angularis Ô nhiễm nặng
B. urceus Ô nhiễm nặng
Keratella cochlearis Tương đối sạch
K. quadrangula Ô nhiễm nặng
Lecane vurvirostris Ô nhiễm nặng
Polyarthra vulgaris Ô nhiễm nặng
Râu ngành (Cladocera)
Bosmina longirostris Ô nhiễm trung bình
Alona guttata Tương đối sạch
Chân chèo (Copepoda)
Eucyclops serrulatus Tương đối sạch
Mongolodiaptomus birulai (Rylop)
Tương đối sạch
Phyllodiaptomus tunguidus
Tương đối sạch
Neodiaptomus haldeli (Brehm)
Tương đối sạch

Sau khi tổng hợp các kết quả phân tích và
định loại từ các mẫu vật thu được
ta sử dụng phương pháp tính toán theo hệ thống tính điểm BMWP và điểm số
trung bình (ASPT) để đánh giá chất lượng nước.
Bảng 14. Hệ thống điểm BMWP
Vietnam
sử dụng cho đánh giá chất lượng
nước sông
Lớp - Bộ Tên taxon Điểm
Ephemeroptera
(Mayflies - Phù du)
Heptageniidae, Leptophlebiidae, Ephemerellidae,
Potaminthidae, Ephemeridae , Oligoneuridae
Plecoptera
(Stoneflies – Cánh úp)
Leuctridae, Perlidae, Perlodidae
Hemiptera
(Bugs – Cánh nửa)
Aphelocheiridae
Odonata - Chuồn chuồn Amphipterygidae
Trichoptera
(Caddis-flies - Bướm đá)
Phryganeidae, Molannidae, Odontoceridae/Brachycentridae,
Leptoceridae, Goeridae, Lepidostomatidae
10
Crustacea
(Crabs – Cua)
Potamidae
Trichoptera
(Caddis-flies - Bướm đá)

Naucoridae, Notonectidae, Belostomatidae, Hebridae, Pleidae,
Corixidae
Coleoptera
(Beetles – Cánh cứng)
Haliplidae, Dytiscidae, Gyrinidae, Hydraenidae, Hydrophilidae,
Hygrobiidae, Helodidae, Dryopidae, Elmididae, Chrysomelidae,
Curculionidae, Psephenidae, Ptilodactylidae
Trichoptera
(Caddis-flies - Bướm đá)
Hydropsychidae
Diptera
(Dipteran flies – Hai cánh)
Tipulidae, Simuliidae
Platyheminthes
(Triclads – Sán tiêm mao)
Planariidae (Dugesiidae)
Mollusca (bivalves) Mytilidae
5
Ephemeroptera
(Mayflies – Phù du)
Baetidae/Siphlonuridae
Megaloptera – Cánh rộng Sialidae, Corydalidae
Odonata
(Dragonflies - Chuồn
chuồn)
Coenagrionidae, Corduliidae, Libellulidae
Mollusca Ambulariidae, Viviparidae, Unionidae , Amblemidae
Oligochaeta
(Leeches - Đỉa)
Piscicolidae

Steve Tilling, 2000.
Điểm số của BMWP được tính như sau:
• Mẫu sau khi thu thập tại các thuỷ vực, tiến hành phân loại và nhận biết. Lập
ra một bảng danh sách các ĐVKXSCL thu được tại khu vực lấy mẫu.
• Dựa vào thành phần các họ tương ứng với các họ có mặt trong Bảng tính
điểm BMWP để tính theo từng họ, nếu họ nào không có trong bảng tính điểm thì
có thể bỏ qua.
• C
ộng tất cả các điểm số thu được từ mỗi họ tại từng điểm nghiên cứu ta sẽ
được điểm số tổng cộng BMWP.
• Sau khi có điểm tổng cộng BMWP, tính điểm số trung bình ASPT (Average
Score Per Taxon) (hay còn gọi là Chỉ số ô nhiễm hay Chỉ số sinh học) bằng cách
lấy tổng số điểm chia cho tổng số họ đã tham gia tính điểm. Ch
ỉ số này trong
khoảng từ 1-10. Các mức điểm tương ứng với một mức chất lượng nước.

24
Bảng 15. Xếp loại mức độ ô nhiễm các thủy vực theo ASPT
Thứ hạng Điểm số trung bình (ASPT) Đánh giá chất lượng nước
I 10 - 8 Không ô nhiễm, nước sạch
II 7,9 - 6 Ô nhiễm nhẹ, tương đối sạch (Oligosaprobe)
III 5,9 - 5
Ô nhiễm trung bình (β Mesosaprobe)
IV 4,9 - 3
Ô nhiễm nặng (α Mesosaprobe)
V 2,9 - 1 Ô nhiễm nghiêm trọng (Polysaprobe)
VI 0 Ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng (không có ĐVKXS)
Nguồn : Environment Agency, UK, 1997. Richard Orton, Anne Bebbington và
John Bebbington, 1995.
IV.1.6. Động vật KXS đáy cỡ trung bình và giun tròn (Nematoda)

>85 >70-85 >55-70 40-45 <40
Chú thích: 1- Ô nhiễm nặng; 2- Ô nhiễm; 3- Ô nhiễm nhẹ; 4- Tương đối sạch; 5- Không ô nhiễm.

25
IV.1.7. Cá
IV.1.7.1. Chỉ số sinh học tổ hợp (Intergrated Biological Index - IBI)
Chỉ số này thường được sử dụng trên cơ sở tính toán cho nhóm cá. Chỉ số
tổ hợp sinh học cá (IBI) đã phát triển và được ứng dụng rộng rãi ở Bắc Mỹ.
Ngày nay, chỉ số IBI đang được cải tiến và phát triển ở một số nước khác như ở
Pháp (Oberdorff và Hughes, 1992), ở Ấn Độ (Ganasan và Hughes). Trong quá
trình nghiên cứu phát triển lý thuyết và nguyên lý tính IBI phải k
ể đến Karr et al
(1986), Hughes và Gammon (1987), Oberdorff và Hughes (1992), Lyon et al.
(1995). Chỉ số IBI bao gồm 12 chỉ số cần được tính đến đó là:
1. Tổng số loài cá
2. Số loài cá đáy - gần đáy
3. Số loài cá nổi - sống ở tầng nước trên và giữa
4. Số loài cá bống
5. Số loài cá trơn không vảy (lăng, chiên, nheo, lươn, chạch, trê, )
6. Số loài cá nhạy cảm với môi trường
7. % số cá thể là cá ăn tạp
8. % số cá thể là cá ăn ĐVKXS, côn trùng
9. % số cá thể là cá dữ (ăn cá, tôm)
10. Tổng số cá thể cá
11. % số cá thể lai tạp, ngoại nhập
12. % số cá thể bị bệnh, dị tật, u, hỏng vây, và các khuyết tật khác
Cả 12 chỉ số trên được đánh giá theo thang điểm: xấu (1 điểm), trung bình
(3 điểm), tốt (5 điểm). Các thuỷ vực được đánh giá theo 6 mức độ (Karr et al,
1986):
• Môi trường rất tốt khi đạ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status