Nghiên cứu chuyển gen mã hóa protein bề mặt của virus H5N1 vào cây đậu tương phục vụ sản xuất vaccine thực vật - Pdf 13

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
–––––––––––––––––– NGUYỄN THU HIỀN
NGHIÊN CỨU CHUYỂN GEN MÃ HÓA PROTEIN
BỀ MẶT CỦA VIRUS H5N1 VÀO CÂY ĐẬU TƯƠNG
PHỤC VỤ SẢN XUẤT VACCINE THỰC VẬT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. CHU HOÀNG HÀ
2. GS. TS. CHU HOÀNG MẬU THÁI NGUYÊN - 2013

1
MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề
Cúm là một căn bệnh nguy hiểm gây tử vong cao và hằng năm trên thế
giới đã có hơn nửa tỷ người mắc bệnh. Hiện nay, virus cúm A/H5N1- chủng
virus nguy hiểm nhất ở gia cm đã lan truyền trên 40 quốc gia ở châu Á,
Trung đông, châu Âu và châu Phi.  nước ta, dịch cúm gia cm H5N1 xảy ra
từ những tháng cuối năm 2003 gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành chăn
nuôi gia cm và ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Việt Nam và Indonesia

nguồn thực phẩm chính cho vật nuôi và con người. Sự biểu hiện thành công
gen gus trên cây đậu tương là cơ sở của việc ứng dụng kỹ thuật chuyển gen để
sản xuất các chất có dược tính như vaccine trong hạt đậu tương. Với ưu điểm
nổi bật như sản xuất đơn giản, giá thành thấp, hiệu quả cao trong phòng bệnh
và có độ an toàn, vaccine sản xuất từ thực vật được xem là hướng đi phù hợp
trong chiến lược chăm sóc sức khoẻ cộng đồng ở các quốc gia đang phát triển.
Xuất phát từ lý do trên chúng tôi đã tiến hành đề tài luận án là: “Nghiên
cứu chuyển gen mã hóa protein bề mặt của virus H5N1 vào cây đậu tương
phục vụ sản xuất vaccine thực vật”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Thiết kế được vector mang cấu trúc gen HA, đoạn gen HA1 của virus
cúm A/H5N1.
Tạo được cây đậu tương chuyển gen mang cấu trúc đoạn gen HA1 và
biểu hiện được protein tái tổ hợp HA1 ở hạt đậu tương.
3. Nội dung nghiên cứu
3.1. Thiết kế và tổng hợp gen HA và đoạn gen HA1, nhân dòng gen HA và
đoạn gen HA1 trong tế bào vi khuẩn E.coli và tạo vector chuyển gen mang
cấu trúc gen HA và đoạn gen HA1.

3
3.2. Biến nạp cấu trúc vector chuyển gen mang gen HA và đoạn gen HA1 vào
vi khuẩn A. tumefaciens. Lây nhiễm vi khuẩn A. tumefaciens tái tổ hợp vào
mô lá thuốc lá và tái sinh tạo cây thuốc lá chuyển gen mang gen HA và đoạn
gen HA1;
3.3. Phát triển hệ thống tái sinh đa chồi phục vụ chuyển gen ở cây đậu tương;
3.4. Chuyển cấu trúc vector mang gen gus biểu hiện ở hạt vào cây đậu tương.
Đánh giá hiệu quả chuyển gen gus ở giống đậu tương ĐT12 và DT84;

nhiễm vi khuẩn A. tumefaciens tái tổ hợp vào mô đậu tương đã tổn thương,
tạo cây đậu tương chuyển gen và đã biểu hiện thành công protein HA1 của
virus H5N1 trong hạt đậu tương.
Về thực tiễn: Với kết quả protein HA1 đã được biểu hiện thành công trong hạt
đậu tương ở thế hệ T
1
là cơ sở của việc tiếp tục kiểm tra đáp ứng khả năng
miễn dịch của gia cm, đồng thời làm tiền đề cho việc nghiên cứu sản xuất
vaccine ăn được ở thực vật.

5
Chương 1

6
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đến tháng 3/2013, đã
có tới 622 trường hợp mắc cúm A/H5N1, trong đó có 371 trường hợp đã tử
vong, chiếm 59,65%. Trong đó quốc gia có số người mắc bệnh và số tử vong
cao là các nước Ai cập, Indonesia và Việt Nam. Kết quả điều tra dịch tễ học
cho thấy, hu hết những ca nhiễm cúm gia cm H5N1 trên người đều có liên
quan đến tiếp xúc với gia cm bị bệnh hoặc trung gian qua thực phẩm chế
biến từ gia cm bị bệnh hoặc qua tiếp xúc trực tiếp như giết mổ, vận chuyển,
mua bán gia cm.
Việt Nam được WHO xác định là quốc gia “điểm nóng” do virus cúm
A/H5N1 có các điều kiện thuận lợi để tiến hóa thích nghi lây nhiễm và trở thành
virus của người.  Việt Nam, đại dịch bùng phát từ năm 2003, đã tái phát qua
bốn đợt dịch. Đợt thứ nhất xảy ra ở 57 tỉnh, thành phố; đợt dịch thứ tư gn đây
nhất xảy ra ở 21 tỉnh, thành phố, đã tiêu hủy trên 50 triệu gia cm các loại, thiệt
hại lên đến hàng ngàn tỷ đồng [9].
Qua điều tra dịch tễ, các trường hợp nhiễm cúm A/H5N1 trên người
được ghi nhận đồng thời với thời điểm có dịch cúm trên gia cm. Mặc dù số
ca nhiễm ít nhưng tỷ lệ tử vong rất cao (59%) và chi phí điều trị rất tốn kém,
do vậy biện pháp tốt nhất là dự phòng để tránh mắc bệnh [7].
1.1.2. Virus cúm A/H5N1
1.1.2.1. Đặc tính của virus cúm A/H5N1
Virus cúm A/H5N1 mẫn cảm với nhiệt độ, với các dung môi hòa tan
lipid, với các loại hóa chất sát trùng và oxy hóa, với formaldehyde và với các
tia phóng xạ. Các hạt virus tồn tại trong pH từ 6,5 đến 7,9. Trong điều kiện
quá acid hoặc quá kiềm đều làm giảm khả năng lây nhiễm. Virus A/H5N1 bị
bất hoạt dưới ánh sáng trực tiếp sau 40 giờ, tồn tại được 15 ngày ánh sáng
thường, tia tử ngoại bất hoạt được virus nhưng không phá hủy được kháng
nguyên của virus. Tuy nhiên, virus bị phá hủy hoàn toàn ở 100
o
C hoặc 30

lực cao nhất đối với các loài động vật và người, có nhiều minh chứng khoa học
cho thấy chủng này bắt nguồn từ H6N2 hoặc và trao đổi gen thông qua H9N2
trên lợn [77].
Về danh pháp, để ký hiệu và lưu trữ một cách khoa học và đy đủ, các
chủng virus cúm sau khi phân lập phải được ký hiệu theo danh pháp quy định
với trật tự như sau: tên serotype/loài bị nhiễm/nơi phân lập/số hiệu chủng/thời
gian phân lập/loại hình subtype (HA (H) và NA (N)) [35] [25]. Ví dụ: virus
cúm có ký hiệu A/chicken/Vietnam/HG4/ 2005(H5N1) có thông tin về danh
pháp là cúm nhóm A, loài nhiễm là gà (chicken), nơi phân lập là Việt Nam, số
hiệu chủng là HG4 – Hậu Giang 4, thời gian phân lập là năm 2005, phân type
là H5N1.

8
Tính gây bệnh hay độc lực của virus cúm A được chia làm hai loại: (1)
loại độc lực cao (HPAI - Highly pathogenic avian influenza) và (2) loại độc
lực thấp (LPAI - Low pathogenic avian influenza). Cả hai loại đều cùng tồn
tại trong tự nhiên [30]. HPAI là loại virus cúm A có khả năng gây tổn thương
nhiều cơ quan nội tạng trong cơ thể nhiễm, trên gia cm chúng thường gây chết
100% số gia cm bị nhiễm trong vòng 48 giờ sau nhiễm. Loại này rất nguy
hiểm gây lo ngại cho cộng đồng. Virus loại HPAI phát triển tốt trên tế bào phôi
gà và tế bào thận chó trong môi trường nuôi cấy không có trypsin [29]. LPAI là
loại virus khi phát triển trong cơ thể nhiễm, có thể gây bệnh cúm nhẹ không có
triệu chứng lâm sàng điển hình và không làm chết vật chủ. Đây là loại virus lây
truyền rộng rãi và tạo nên các ổ bệnh trong tự nhiên của virus cúm A, loại này
có thể trao đổi gen với các chủng virus có độc lực cao đồng nhiễm trên cùng
một tế bào và trở thành loại virus HPAI nguy hiểm [68] [155].
1.1.2.2. Cấu trúc hệ gen của virus cúm A/H5N1

Da. PA là một tiểu đơn vị
của polymerase chịu trách nhiệm kéo dài sự phiên mã RNA trong quá trình
tổng hợp RNA của virus [8].
Các phân đoạn 4 và 6 mã hóa cho các protein (HA và NA) bề mặt capsid
của virus, có tính kháng nguyên đặc trưng theo từng chủng virus cúm A, cụ
thể như sau:
Phân đoạn 4 (gen HA) có độ dài thay đổi tuỳ theo từng chủng virus cúm
A Gen HA mã hóa tổng hợp protein HA - kháng nguyên bề mặt virus cúm,
gồm hai tiểu phn là HA1 và HA2. Vùng nối giữa HA
1
và HA
2
gồm một số
amino acid mang tính kiềm được mã hóa bởi một chuỗi oligonucleotide, đó là
điểm cắt của protease và đây là vùng quyết định độc lực của virus [8 ].
Protein HA có khối lượng phân tử khoảng 63.10
3
Da (nếu không được
glycosyl hóa) và 77.10
3
Da (nếu được glycosyl hóa, trong đó HA
1
là 48.10
3
Da
và HA
2
là 29.10
3
Da) [29].

khác nhau của cùng một phân đoạn RNA), cùng với HA và NA có khoảng
3000 phân tử MP trên bề mặt capsid của virus cúm A, có mối quan hệ tương
tác bề mặt với hemagglutinin. Protein M1 là một protein nền, là thành phn
chính của virus có chức năng bao bọc RNA tạo nên phức hợp RNP và tham gia
vào quá trình “nảy chồi” của virus [38]. Protein M2 là chuỗi polypeptide bé, có
khối lượng phân tử là 15.10
3
Da, là protein chuyển màng - kênh ion (ion
channel) cn thiết cho khả năng lây nhiễm của virus, chịu trách nhiệm “cởi áo”
virus trình diện hệ gen ở bào tương tế bào chủ trong quá trình xâm nhiễm trên
vật chủ.
Phân đoạn 8 (gen NS), là gen mã hóa protein không cấu trúc (non
structural protein), có độ dài ổn định nhất trong hệ gen của virus cúm A mã
hóa tổng hợp hai protein là NS1 và NS2 (còn gọi là NEP, nuclear export
protein), có vai trò bảo vệ hệ gen của virus [42]. Độc tính của virus có sự liên
quan với gen không cấu trúc (non-structural gen) này được tìm thấy ở biến
chủng A/H5N1/97 [24 ], trong tự nhiên, việc đột biến xóa đi một phn gen có
liên quan đến giảm độc lực [25]. NS1 có khối lượng phân tử là 25.10
3
Da,

11
chịu trách nhiệm vận chuyển RNA thông tin của virus từ nhân ra bào tương tế
bào nhiễm, và tác động lên các RNA vận chuyển cũng như các quá trình cắt
và dịch mã của tế bào chủ. NEP hay NS2, là gen hình thành từ hai đoạn gen
(30 nucleotit và 336 nucleotit) mã hóa loại protein có khối lượng phân tử là
12x1012
Nucleic acid và protein của virus sắp xếp theo kiểu xoắn lò so xung
quanh một trục tạo nên cấu trúc đối xứng xoắn hình cu (đường kính 89 – 120
nm) hoặc hình sợi kéo dài (tới vài μm) của virion. Nucleocapsid được bao bọc
bởi màng protein nền M1, phía ngoài màng là lớp lipid kép có nguồn gốc từ
màng sinh chất của tế bào chủ, có chức năng chính là ổn định cấu trúc của virus.
Lớp vỏ ngoài của virus còn có các glycoprotein (protein đã được glycosyl hoá).
Những protein này thực chất là protein của màng tế bào nhiễm đã được chuyên
hoá để gắn protein màng của virus vào, gồm protein M2 đâm xuyên và nhô ra
khỏi vỏ ngoài và 2 protein gai nhô ra ngoài bề mặt (HA và NA).
1.1.2.3. Đặc trưng của kháng nguyên HA và NA
HA và NA là các protein chính bề mặt capsid đặc trưng cho bản chất của
từng chủng virus cúm A [38].
Protein HA (Hemagglutinin)
Gen HA có kích thước thay đổi tùy theo từng chủng virus cúm. Gen
HA mã hóa cho protein kháng nguyên ngưng kết hồng cu có độ dài 568-569
amino acid. Gen HA được phân lập từ chủng H1N1 (1934) Tây Ban Nha,
chủng H5N1 (1996) ở Quảng Đông, Trung Quốc như các chủng nguyên thủy
[42 ]. Nhiều gen HA phân lập từ các chủng trong giai đoạn 1997-2003 là các
biến chủng có khả năng gây bệnh rất cao. Hệ gen của virus biến đổi nhanh,
trong đó, những biến đổi gen HA thường xảy ra nhiều và sử dụng chính sự
biến đổi này để phân định nhóm kháng nguyên, phân type và phân tích mối
quan hệ tiến hóa của các chủng H5N1. Các chủng phân lập trong giai đoạn từ
1997-2002 vẫn mang tính đồng kháng nguyên, nhưng các chủng thu được
trong giai đoạn từ 2003 -2005 đã có bằng chứng của sự lệch kháng nguyên
của A/H5N1. Virus cúm A/H5N1 có 12 genotype, những dạng cũ (A, B, C,

với thụ thể đặc hiệu (glycoprotein chứa sialic acid) trên bề mặt màng tế bào,
khởi đu quá trình xâm nhiễm của virus trên vật chủ giúp cho virus xâm nhập,
hòa màng và giải phóng RNA hệ gen thực hiện quá trình nhân lên ở tế bào
cảm nhiễm 150. Quá trình kết hợp phụ thuộc vào sự phù hợp cấu hình không

14
gian của thụ thể chứa sialic acid của tế bào đích với vị trí gắn thụ thể này trên
phân tử HA của virus cúm, quyết định sự xâm nhiễm dễ dàng của virus ở các
loài vật chủ khác nhau [133] Vị trí amino acid 226 của chuỗi HA1 được xác
định là vị trí quyết định phù hợp gắn HA với thụ thể đặc hiệu của nó, ở hu
hết các chủng virus cúm A lưu hành trong tự nhiên vị trí này là glycine, thích
ứng với thụ thể Gal α-2.3 sialic acid (chứa sialic acid liên kết với nhóm
hydroxyt (4-OH) của galactose ở góc quay α-2.3) của tế bào biểu mô đường
hô hấp của chim và cúm gia cm . Ngoài ra, một số vị trí amino acid khác như
glutamine 222, glycine 224, hay cấu trúc SGVSS và NGQSGR cũng có sự
liên quan chặt chẽ đến khả năng thích ứng với thụ thể chứa sialic acid bề mặt
màng tế bào chủ [142]. Đặc biệt, một số chủng cường độc A/H5Nx; A/H7Nx
lưu hành hiện nay có thể xâm nhiễm trên người, khi chúng có tải lượng cao
trong đường hô hấp (do tiếp xúc trực tiếp với chất thải hay gia cm nhiễm
bệnh. Trình tự mã hóa chuỗi nối và thành phn chuỗi nối trên protein HA
cũng như các vị trí amino acid liên quan đến khả năng gắn với thụ thể thích
ứng được coi là chỉ thị phân tử trong nghiên cứu phân tích gen kháng nguyên
HA [ 130]. Protein HA còn là kháng nguyên bề mặt quan trọng của virus cúm
A, kích thích cơ thể sinh ra đáp ứng miễn dịch dịch thể đặc hiệu với từng type
HA và tham gia vào phản ứng trung hòa virus, được coi là protein vừa quyết
định độc lực của virus, là đích bảo vệ miễn dịch học nhằm ngăn chặn sự xâm
nhiễm của virus ở cơ thể nhiễm, đây chính là cơ sở điều chế các vaccine

với nhau bằng một đoạn peptid ngắn, thuộc loại hình motif riêng biệt, đặc
trưng cho các subtype H (H1-H16) trong quá trình tái tổ hợp tạo nên biến
chủng [133]). Chuỗi nối này cũng chính là điểm cắt của protease tạo nên 2
phân đoạn HA rời nhau. Motif của chuỗi nối peptid chứa một số amino acid
mang tính kiềm làm khung, thay đổi đặc hiệu theo từng loại hình subtype H,
và sự biến đổi thành phn của chuỗi nối quyết định tính độc lực của virus
thuộc biến chủng mới [133].
Để minh chứng cho điều đó, gn đây các nhà khoa học đã thành công
trong việc tạo vaccine tái tổ hợp bằng cách đưa các đoạn gen mã hóa kháng 16
nguyên HA hoặc tiểu đơn vị của kháng nguyên HA (HA1, HA2) của chủng
H5N1 vào biểu hiện trong adenovirus. Điều đáng chú ý là kháng nguyên HA1
và HA tái tổ hợp có mức bảo hộ 100% đối với gà thực nghiệm, trong đó
kháng nguyên HA2 có mức độ bảo hộ 60% [146].
Protein NA (Neuraminidase)
Protein neuraminidase còn gọi là sialidase (mã số quốc tế là E.C
3.2.1.18), là một enzyme có bản chất là glycoprotein được gắn trên bề mặt
capsid của virus cúm A, mang tính kháng nguyên đặc trưng theo từng phân
type NA [29]. Có 9 phân type (từ N1 đến N9) được phát hiện chủ yếu ở virus
cúm gia cm, hai phân type N1 và N2 được tìm thấy ở virus cúm người [32].
Có khoảng 100 phân tử NA xen giữa các phân tử HA trên bề mặt capsid hạt
virus. Phân tử NA có dạng nút lồi hình nấm, đu tự do (chứa vùng hoạt động)
gồm 4 dưới đơn vị giống như hình cu nằm trên cùng một mặt phẳng, và phn
kị nước gắn vào vỏ capsid.
Protein NA có vai trò là enzyme cắt đứt liên kết giữa gốc sialic acid của

niêm mạc vật chủ. Virus được gắn vào bề mặt của tế bào thích ứng nhờ có cơ
quan cảm thụ mà bản chất là glycoprotein chứa acid sialic, sau đó virus qua
màng tế bào nhờ loại enzym đặc biệt để vào nguyên sinh chất và nhân tế bào
(Hình 1.3). Tại đây, protein HA bề mặt của virus gắn vào thụ thể chứa
neuraminic acid của tế bào chủ và tiến hành nhập bào tạo nên endosome
(“khoang ẩm bào”). Tiếp theo là quá trình dung hợp giữa vỏ ngoài của virus
với màng endosome, điều này thực hiện được nhờ gai HA chồi lên khi pH
trong endosome thấp. Sau khi dung hợp, ribonucleoprotein (RNP) và RNA-
polymerase vào.
18
gen được mũ hoá ở 10 -13 nucleotide ở đu 5’ với nguyên liệu mũ hoá lấy từ
RNA tế bào, nhờ vào hoạt tính enzym PB2 (polymerase basic protein 2) của
virus. RNA sợi đơn âm được chuyển thành RNA sợi đơn dương theo cơ chế
bổ sung, và sợi dương này lại được sử dụng làm khuôn để tổng hợp nhiều
RNA đơn âm mới nhờ RNA polymerase. Các sợi RNA được tạo ra là một sợi
hoàn chỉnh, không được mũ hóa ở đu 5' và không được adenyl hóa ở đu 3',
chúng sẽ được bao gói lại để hình thành nên ribonucleocapsid. Sau khi được
bao gói, ribonucleocapsid được vận chuyển đến màng tế bào mà ở đó các gai
HA, NA, M2 đã được gắn sẵn nhờ hệ thống Golgi chuyển ra và hạt virus mới
được hình thành, lúc này NA sẽ cắt thụ thể sialic acid giải phóng virus khỏi
tế bào chủ, bắt đu một quá trình lây nhiễm mới.
Quá trình phiên mã, sao chép của virus cúm đặc biệt khác với các
RNA virus khác là quá trình này chỉ xảy ra trong nhân tế bào bị nhiễm. Thời
gian xâm nhiễm và giải phóng hạt virus mới của virus cúm kéo dài trong vài
giờ, các hạt virus mới được tạo thành không làm tan tế bào bị nhiễm, nhưng
các tế bào này dường như không còn khả năng sống sót do rối loạn ở hệ
thống tổng hợp các đại phân tử sinh học.
1.2. VACCINE PHÒNG CHỐNG BỆNH CÚM A/H5N1
1.2.1. Các loại vaccine phòng chống bệnh cúm A/H5N1
Đối với bệnh truyền nhiễm, vaccine được coi là biện pháp có tính chiến
lược, nhằm ngăn chặn lây lan, tạo bảo hộ miễn dịch [4]. Đối với dịch cúm
trên người, nghiên cứu phát triển vaccine không những ngăn ngừa làm giảm

20
được bệnh ở gia cm mà còn khống chế nguồn truyền lây của loại virus nguy
hiểm này sang người. Nhiều công trình nghiên cứu về gen của virus A/ H5N1
và phát triển công nghệ vaccine gây miễn dịch cho gia cm được xúc tiến

gia cm dẫn truyền, sử dụng virus đậu gia cm làm vector tái tổ hợp mang gen
H5 và N1 phòng chống virus type H5N1 và H7N1 [59]; (ii) vaccine dưới
nhóm chứa protein kháng nguyên NA, HA tái tổ hợp và tách chiết làm
vaccine [92] [123].
(3) Vaccine nhược độc virus cúm nhân tạo
Vaccine nhược độc virus cúm nhân tạo được sản xuất bằng kỹ thuật di
truyền ngược, đó là việc lắp ghép virus cúm nhân tạo chứa đy đủ hệ gen,
trong đó các gen kháng nguyên H5 có vùng “độc” đã được biến đổi bằng kỹ
thuật gen [92]. Có 3 loại vaccine đã được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công
nhận về độ an toàn và khuyến cáo đưa vào chương trình sản xuất vaccine trên
thế giới hiện nay, đó là NIBRG-14 (NIBSC), VN/04xPR8-rg (SJCRH) và
VNH5N1-PR8/CDC-rg (CDC) [95].
(4) Vaccine ăn được ở thực vật (plant edible vaccine)
Do hiện tượng kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn và sự gia tăng
các vi sinh vật mới, ngoài vaccine tiêm chủng ra, từ năm 1990, đã xuất hiện
một thuật ngữ mới vaccine đường miệng (oral vaccine) để chỉ loại vaccine
không cn giữ lạnh, trong đó vaccine ăn được ở thực vật (plant edible
vaccine) cũng thuộc nhóm này [61]. Đây là lĩnh vực nghiên cứu mới trong
công nghệ sinh học bao gồm cả lĩnh vực nghiên cứu sản xuất vaccine và
nghiên cứu cây trồng chuyển gen [71].
Vaccine thực vật (vaccine ăn được ở thực vật) là vaccine tiểu phn protein
được sản xuất dựa trên hệ thống thực vật để thu được protein làm kháng nguyên
mong muốn. Chúng tác động vào dịch thể, kích thích cả hệ thống miễn dịch thể
dịch và miễn dịch tế bào. Vaccine thực vật bền vững trong dịch tiêu hóa, đi qua
đường tiêu hóa mà không bị phân hủy [4]. Sản xuất vaccine thực vật có thể thực
hiện theo quy trình sau đây:

23
đoán thú y trung ương tiến hành, đó là việc thu thập gen kháng nguyên H5 và
N1 từ các chủng phân lập trên gà, vịt, ngan của Việt Nam ở các năm và so
sánh với trình tự chuỗi gen cúm A/H5N1 của các chủng cường độc đương
nhiễm và vaccine của Việt Nam và thế giới [4]. Nhận định hỗn hợp virus gây
bệnh và phân hoá kháng nguyên của virus cúm A/H5N1 tại Việt Nam cũng đã
được xác nhận qua phân tích hàng chục chủng thu nhận từ nhiều vùng khác
nhau trong cả nước. Điều này ảnh hưởng đến dịch tễ, chẩn đoán, phòng trừ và
quan hệ lây nhiễm trong tự nhiên cũng như vai trò miễn dịch của các chủng cổ
điển đang sử dụng làm vaccine tại Việt Nam và thế giới (vaccine H5N1,
chủng gốc: A-Gs-CN-Gd1(96)(H5N1), vaccine H5N2, chủng gốc: A-Turkey-
ENG-N28(73)(H5N2), vaccine TrovacAIV-H5, chủng gốc: A-Tk-
IRE1378(83)(H5N8)), vaccine H5N2, chủng gốc: A-Ck-MEX-Hidalgo-
232(94)(H5N2). Giống NIBRG-14 từ chủng gốc A/Vietnam/1194/2004
(H5N1) đã được Việt Nam nghiên cứu công nghệ sản xuất vaccine cho gia
cm và người [9].
Để có thể đáp ứng nhanh nhu cu về vaccine cúm gia cm, ngoài việc tiếp
tục những nghiên cứu về vaccine tái tổ hợp trên cơ sở các tiểu đơn vị và
vaccine DNA, ngày 3 tháng 11 năm 2005 Viện Công nghệ sinh học đã hoàn
tất các thủ tục và tiến hành tiếp nhận chủng virus sản xuất vaccine NIBRG-14
từ Viện Quốc gia về Tiêu chuẩn và Kiểm định sinh học, Vương Quốc Anh.
Đây là chủng virus được tạo bằng kỹ thuật di truyền ngược, tái tổ hợp trên cơ
sở các gen của chủng gốc PR8/34 với các gen HA (đã bị đột biến mất 4 amino
acid RRRL và đột biến thay thế 3 amino acid tại vùng gây độc) và NA có
nguồn gốc từ chủng virus cúm H5N1 phân lập từ bệnh nhân Việt Nam
(A/Vietnam/1194/2004). Chủng NIBRG-14 này đã được Tổ chức Y tế thế
giới công nhận về độ an toàn và khuyến cáo là một trong các chủng dùng cho
sản xuất vaccine trên thế giới hiện nay. Hiện nay các chủng này cũng có được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status