Xây dựng bản đồ cấp năng suất cho rừng keo lai tại tỉnh Thừa Thiên Huế - Pdf 13

PHẦN MỞ ĐẦU
1. BỐI CẢNH CHUNG
Những thập kỷ qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong công tác phát triển
trồng rừng. Từ năm 1992 đến năm 2010, chính phủ đã ban hành và thực hiện các
chương trình dự án phát triển rừng, như chương trình 327 [9], dự án 661 [56]. Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành quyết định 147 về phát triển lâm nghiệp trong đó sẽ
có 2 triệu ha rừng trồng mới vào năm 2015. Theo hướng dẫn này, Chính phủ sẽ chi
khoảng 40 tỷ đồng để hỗ trợ các công ty, tổ chức trồng rừng [57]. Hỗ trợ cho trồng
rừng là một trong những giải pháp để giảm nghèo nhanh và bền vững ở 61 huyện
nghèo nhất Việt Nam [8]. Sự hỗ trợ của Chính phủ trong việc trồng rừng đã góp
phần tạo việc làm cho người dân nông thôn, cải thiện thu nhập hộ gia đình và gia
tăng giá trị xuất khẩu bằng cách xuất khẩu các sản phẩm làm từ rừng trồng, như
giấy và bột giấy, đồ gỗ và ván sợi nhân tạo. Bên cạnh sự hỗ trợ từ chính phủ, việc
trồng rừng và tái trồng rừng đã nhận được hỗ trợ từ nhiều tổ chức phi chính phủ
thông qua các dự án/chương trình phát triển Lâm nghiệp.
Rừng và đất Lâm nghiệp được giao cho tổ chức, cá nhân, và hộ gia đình là
một trong những chính sách Lâm nghiệp lớn ở Việt Nam. Việc giao đất, giao rừng
đã thể hiện phương pháp tiếp cận có sự tham gia trong phát triển Lâm nghiệp và
quản lý tài nguyên rừng nhằm cải thiện sinh kế của người dân ở các vùng nông
thôn, miền núi. Sau khi lệnh cấm khai thác gỗ từ rừng tự nhiên, rừng trồng trở thành
nguồn cung cấp lâm sản chính của Việt Nam. Nhiều loài cây đã được trồng, chẳng
hạn như Bạch đàn, Thông, Quế, các loài Keo, các loài bản địa, v.v. Mỗi loài có đặc
điểm và công dụng riêng.
Tuy nhiên, Keo lai là loài được người dân quan tâm nhất, bởi nó dễ trồng,
chi phí thấp, có thể sống được trên đất nghèo dinh dưỡng, cho năng suất cao, có khả
năng cải tạo đất và chu kỳ sản xuất đặc biệt ngắn so với các loài cây rừng khác. Gỗ
Keo lai có thể được sử dụng cho xây dựng, đồ gỗ, ván ép, và đặc biệt là đối với
nguyên liệu giấy. Gỗ các loài Keo được sử dụng cho xây dựng có yêu cầu chất
lượng cao, thân cây lớn, đòi hỏi chu kỳ kinh doanh dài (khoảng 10-12 năm), trong
1
khi rừng Keo lai được sử dụng để sản xuất giấy nguyên liệu, đóng gói vật liệu mất

báo năng suất để người dân có hướng đầu tư sao cho hiệu quả kinh tế cao hơn. Vấn
đề này không chỉ ảnh hưởng đến nguồn thu nhập của người dân mà còn có tính chất
quyết định đến sự phát triển tài nguyên rừng, đặc biệt là rừng trồng sản xuất.
Thông thường, các nghiên cứu dự đoán sản lượng chỉ tập trung vào dự đoán
sản lượng gỗ của các khu rừng, mà phần chính là thân cây. Chỉ tiêu dùng để dự báo
sản lượng là dựa vào cấp đất và tuổi cây. Các nhà khoa học thường sử dụng chiều
cao (thường là chiều cao tầng trội), được xem như là chỉ tiêu đánh giá tổng hợp của
tất cả các điều kiện lập địa, sinh thái và biện pháp kỹ thuật, cùng với chỉ tiêu tuổi
cây để xác định cấp đất cho các khu rừng trồng thuần loài đều tuổi. Sản lượng dự
báo thường là trữ lượng tính theo mét khối, nhưng lại khó áp dụng cho người dân,
đặc biệt là rừng phục vụ cho nguyên liệu giấy, khi rừng thường được thu mua sản
phẩm dưới dạng là ste hoặc là tấn (trọng lượng). Các nghiên cứu trước đây về Keo
lai trên địa bàn chủ yếu chú trọng đến đặc tính sinh vật học, sinh thái học. Một số
công trình nghiên cứu về sản lượng Keo lai nhưng chỉ tập trung vào xây dựng các
biểu quá trình sinh trưởng mà chưa đề cập các nhân tố ảnh hưởng đến sản lượng
cũng như lập bản đồ cấp năng suất cho rừng Keo lai trên địa bàn.
Do đó, việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất rừng Keo lai và
trên cơ sở đó xây dựng bản đồ cấp năng suất là rất cần thiết, không chỉ cho các nhà
hoạch định chính sách mà còn thiết thực với các hộ trồng rừng Keo lai, các công ty
lâm nghiệp có những ứng dụng trong việc chọn lập địa, xác định biện pháp kỹ thuật
lâm sinh thích hợp nhằm nâng cao sản lượng rừng Keo lai, đáp ứng nhu cầu của thị
trường, nâng cao đời sống kinh tế cho những hộ gia đình sống ở vùng sâu, vùng xa
có đất trồng rừng.
3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu chung
Xây dựng được mô hình dự báo năng suất và lập bản đồ cấp năng suất góp
phần phát triển bền vững diện tích rừng Keo lai trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
3
3.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được hiện trạng và cơ sở cho phát triển rừng trồng Keo lai trên

5.2. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là những lâm phần Keo lai không phân biệt theo các
xuất xứ/dòng, được trồng thuần loài, đều tuổi, bằng cây con có bầu theo phương
pháp giâm hom, rừng chưa qua tỉa thưa và được tiến hành khai thác tại tuổi 6.
5.3. Giới hạn về không gian và thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành trên các địa bàn có diện tích rừng trồng Keo lai
lớn và đã có khai thác nhiều. Do đó, các huyện Quảng Điền, Phú Vang và thành phố
Huế (tỉnh Thừa Thiên Huế) do diện tích rừng Keo lai ít và chưa tiến hành khai thác
nên không điều tra trong nghiên cứu này.
Số liệu nghiên cứu được điều tra, thu thập tại 327 lô rừng Keo lai được khai
thác vào các năm 2010, 2011 và 2012, thuộc địa phận hành chính của 38 xã của 6
huyện/thị xã, cụ thể như bảng 1 và hình 1 như sau:
Bảng 1: Tổng hợp thông tin về các lô rừng điều tra
Huyện/thị xã Các xã điều tra Số lô
A Lưới A Roàng, Hồng Kim, Hồng Thượng, Hồng Trung, Phú Vinh 44
Hương Thủy Dương Hòa, Phú Sơn, Thủy Bằng, Thủy Dương, Thủy Phù 49
Hương Trà Bình Điền, Bình Thành, Hồng Tiến, Hương Hồ, Hương Thọ,
Hương Bình, Hương Vân
87
Nam Đông Hương Lộc, Hương Hữu, Hương Sơn, Hương Phú, Thượng
Lộ, Thượng Nhật, Thượng Quảng
45
Phong Điền Phong Mỹ, Phong Sơn, Phong Xuân, Phong Thu 29
Phú Lộc Lộc An, Lộc Bổn, Lộc Điền, Lộc Hòa, Lộc Sơn, Lộc Thủy,
Lộc Tiến, Lộc Trì, Phú Lộc, Xuân Lộc
73
TỔNG 38 xã 327
5
Hình 1: Mạng lưới các điểm điều tra, thu thập số liệu (theo tọa độ GPS)
6

đã được Mỹ, Anh và Nhật Bản ứng dụng vào những năm 70 (dẫn theo [50]).
Chỉ số lập địa (Site Index) hay còn gọi cấp đất là phương pháp phổ biến nhất
và được chấp nhận rộng rãi để thể hiện chất lượng lập địa của rừng [72];[90]. Nó
dựa trên chiều cao của cây ưu thế hoặc đồng ưu thế ở một độ tuổi nhất định. Đường
cong cấp đất đã được xây dựng để dự đoán tiềm năng tăng trưởng của các cây nhỏ
hơn 50 năm tuổi. Các đường cong chuyển đổi các giá trị SI của loài này sang loài
khác cũng đã được thiết lập [76].
Về lý thuyết, chỉ số lập địa có thể được đánh giá trực tiếp thông qua phân
tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất của rừng như dinh dưỡng đất, độ ẩm, chế
độ nhiệt, ánh sáng, địa hình,… tuy nhiên việc xác định ngay các nhân tố này ngoài
thực địa là khó khăn. Do đó, lập địa thường được đánh giá gián tiếp. Cơ sở để đánh
giá chất lượng lập địa là đất. Nhân tố này thường ổn định và có thể kiểm soát được
nó ảnh hưởng đến năng suất lâm phần. Đất được coi là yếu tố quan trọng ảnh hưởng
đến năng suất rừng, bao gồm các yếu tố có tính ổn định lâu dài như độ dày, kết cấu,
mức độ thẩm thấu, đá mẹ,… và những nhân tố dễ thay đổi như hàm lượng mùn,
hàm lượng Nitơ, cấu trúc của lớp đất mặt… vì thế lập địa cũng không thể nào đánh
giá hoàn toàn thông qua đất được [22]. Một số nhà lâm nghiệp cho rằng có thể dựa
vào thực vật chỉ thị để đánh giá lập địa [88]. Điều đó có nghĩa là giữa thực vật và
lập địa có mối quan hệ qua lại, có thể thông qua mối quan hệ đó để đánh giá lập địa,
đánh giá năng suất lâm phần [22].
Chỉ số lập địa còn có thể được phân loại theo yếu tố hoàn cảnh môi trường.
Dựa vào nhân tố hoàn cảnh, các nhà nghiên cứu lấy chỉ số lập địa là hàm số của một
loạt các nhân tố lập địa làm biến số và xây dựng phương trình hồi qui đa nhân tố,
8
lấy cơ chế dự báo chỉ thị để phân loại lập địa. Những nhân tố này chủ yếu là các
nhân tố môi trường vật lý, nó là căn cứ thông tin cần thiết về tính chất lập địa.
Những nhân tố môi trường này tương đối ổn định và có thể căn cứ vào tính chất của
chúng để phân chia các loại hình lập địa. Khí hậu và sinh trưởng cây rừng có quan
hệ mật thiết, là căn cứ để chia ra các vùng lập địa, đai lập địa hoặc khu lập địa, là
đơn vị phân chia trong hệ thống phân loại lập địa. Sự khác nhau về tiểu khí hậu là

thông qua khí hậu, địa hình, đất đai và thực bì để chia ra các loại hình lập địa. Theo
cách này có thể chia ra con đường nhân tố, cảnh quan. Con đường nhân tố trước đây
ở Ucren (1925) và Đức đã dùng để phân loại lập địa. Còn nhân tố cảnh quan thì ở
Canađa đã dùng để phân loại lập địa (dẫn theo [50]).
Trường phái Ucren (Pogrepnhiak là đại diện) với tổ thành cơ bản phân loại
rừng phải dựa trên cơ sở lập địa, mà các loại thực vật là cây chỉ thị tốt nhất. Trong
lập địa quan trọng nhất là ánh sáng, nhiệt độ, nước, dinh dưỡng khoáng, nhưng
trong cùng điều kiện khí hậu thì nhân tố nước và chất dinh dưỡng của đất là cơ bản
nhất, địa hình là nhân tố quan trọng, nhưng chúng là hình thức tồn tại không gian
của điều kiện sinh thái, không phải là bản thân điều kiện sinh thái (dẫn theo [50]).
Một trường phái khác do Krauss đề ra năm 1926, sau nhiều năm đã được
dùng ở Đức và Áo với đặc điểm là dựa vào thực bì và môi trường vật lý khí hậu với
yêu cầu lâm nghiệp để phân loại lập địa. Đây là 1 hệ thống phân loại gồm nhiều
nhân tố: Địa lý, địa chất, khí hậu, thổ nhưỡng, địa lý thực vật, loại thực vật Trước
hết dựa vào thực bì rừng tự nhiên để phân ra các vùng sinh thái, khu sinh trưởng,
sau đó mỗi vùng lại chia ra các á vùng, trong á vùng lại có các đơn vị phân loại và
vẽ lên bản đồ lập địa và đánh giá tình hình sinh trưởng, sức sản xuất và đánh giá
kinh doanh rừng (dẫn theo [50]).
Hills (1952) đã sáng lập 1 hệ thống phân loại địa lý và đưa ra 1 thuật ngữ
mới gọi là Tổng sinh cảnh và chia làm 4 lớp : Vùng lập địa- Kiểu đất (đá mẹ quyết
10
định)- Kiểu lập địa địa lý tự nhiên- Kiểu điều kiện lập địa. Ba lớp đầu tiên kết hợp
với nhau hình thành kết cấu đặc trưng ổn định, lớp sau cùng là trạng thái tạm thời
thực tế mà thực bì biểu thị [86].
Barnes (1982) đã dựa vào hệ thống phân loại lập địa đã áp dụng tại Mỹ và
tiếp thu kinh nghiệm phân loại về loại hình sinh cảnh của nước này và phương pháp
phân loại lập địa sinh cảnh của Canađa để phát triển thành phân loại lập địa sinh
thái. Căn cứ vào mối quan hệ tương hỗ giữa điều kiện địa lý tự nhiên, thổ nhưỡng,
đất đai và thực bì để phân loại lập địa sinh thái. Trong đó chủ yếu nhấn mạnh ảnh
hưởng và mối quan hệ giữa chúng với nhau, ảnh hưởng đối với thực vật rừng [67].

dụng số trung bình hình học thay cho nhân bình thường của các giá trị của thuộc
tính đất nhằm có được giá trị bằng với trọng số của các nhân tố [80]. Gale và Grigal
(1987) đã xây dựng các đường cong thể hiện cho sự phân bố rễ theo chiều dọc cho
các loài. Phương trình sử dụng cho việc xây dựng các đường cong đơn giản là minh
hoạ cho sự giảm của tỷ lệ rễ theo sự tăng lên về chiều sâu của đất [79]. Torbert et al.
(1994) đã sử dụng mô hình PI cho loài thông trắng. Họ đã xây dựng các đường cong
Sản lượng
Khí hậu
Tiềm năng di
truyền của cây
Sinh trưởng
của rễ cây
Quản lý
Môi trường đất
Khả năng tích trữ nước sẵn
có tiềm năng (PAWC)
Độ thoáng khí
(Aeration)
pH
Hàm lượng chất xơ
(Bulk density)
Độ trao đổi ion
(Electrical conductivity)
12
với các mức độ của Photpho, Mangan, độ dốc và pH. Họ cũng sử dụng nhân tố
trọng số và công thức như của Gale. Sau nhiều lần kiểm tra khác nhau, kết quả cuối
cùng của mô hình chỉ cần sử dụng các nhân tố pH, độ trao đổi ion, và Photpho cùng
với nhân tố trọng số thể hiện cho độ sâu tầng đất [111].
1.1.3. Phương pháp lập biểu sản lượng
Để thuận tiện cho việc dự đoán sản lượng rừng cho các loài cây, các biểu sản

sản lượng, trong đó có nhiều nghiên cứu về rừng nhiệt đới, nhưng lại thiếu vắng
các nghiên cứu về các rừng thuần loài đều tuổi, đặc biệt là các một số loài cây
sinh trưởng nhanh đang được trồng ở khu vực Châu Á.
1.1.4. Các nghiên cứu về sinh khối rừng
Bên cạnh việc dự đoán năng suất, phân chia cấp đất, lập các biểu sản lượng
thì các công trình nghiên cứu về sinh khối rừng cũng đã được tiến hành. Có nhiều
phương pháp để xác định sinh khối tầng cây gỗ. Các phương pháp có thể tiến hành
đo đếm trực tiếp tại lâm phần, sử dụng tỷ trọng gỗ để quy đổi ra sinh khối; cân tươi
ngay tại rừng để lấy sinh khối tươi, sau đó lấy mẫu đem về sấy ở phòng thí nghiệm
và quy đổi ra sinh khối khô toàn lâm phần; sử dụng các loại biểu thể tích, biểu sinh
khối đã được lập sẵn cho từng loài, Một số công trình nghiên cứu về sinh khối
như: Riley (1944) [104], Steemann (1954) [107], Fleming (1957) [78] đã tổng kết
quá trình nghiên cứu và phát triển sinh khối rừng trong các công trình nghiên cứu
của mình. Đến năm 1964, Lieth đã thể hiện năng suất trên toàn thế giới bằng bản đồ
năng suất [93]. Đồng thời với sự ra đời của chương trình sinh học quốc tế
(International Biology Program) (1966) và chương trình con người và sinh quyển
“Man and Biosphere” (1973) đã tác động mạnh mẽ tới việc nghiên cứu sinh khối.
Những nghiên cứu trong giai đoạn này tập trung vào các đối tượng đồng cỏ, savan,
rừng rụng lá, rừng mưa thường xanh (dẫn theo [12]). Công trình nghiên cứu của
Cannell (1981) đã công bố “Sinh khối và năng suất sơ cấp rừng trên thế giới” trong
đó tập hợp 600 công trình nghiên cứu đã được xuất bản về sinh khối thân, cành, lá
và một số thành phần, sản phẩm sơ cấp của hơn 1.200 lâm phần thuộc 46 nước trên
thế giới [71]. Dajoz (1971) đã tính toán năng suất sơ cấp của một số hệ sinh thái
14
như sinh khối của Mía ở châu Phi; Rừng nhiệt đới thứ sinh ở Yangambi; Savana cỏ
Mỹ (Penisetum purpureum) ở châu Phi; đồng cỏ tự nhiên ở Fustuca (Đức); đồng cỏ
tự nhiên Deschampia và Trifolium ở vùng ôn đới; Savana cỏ cao Andrôpgon (cỏ
Ghine); Rừng thứ sinh 40 - 50 tuổi ở Ghana (dẫn theo [54]).
1.2. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ SẢN LƯỢNG RỪNG Ở VIỆT NAM
Theo Vũ Tiến Hinh (2003) thì có 2 quan điểm chính trong việc phân chia

trưởng và sản lượng tạm thời vào năm 2004, và biểu sản phẩm tạm thời vào năm
2005 [3];[4];[5]. Bên cạnh đó còn có nhiều công trình nghiên cứu về các loài cây
khác với trên quan điểm này.….
Qua phần lớn các nghiên cứu về lập cấp đất, các nhà khoa học đã khẳng
định: với mỗi lâm phần thì chiều cao ở tuổi xác định là chỉ tiêu biểu thị tốt mức
độ phù hợp của lập địa với sinh trưởng của cây trồng. Tuy nhiên, các tác giả
khác nhau sử dụng các loại chiều cao khác nhau để xây dựng biểu cấp đất hay
biểu quá trình sinh trưởng nhưng phần lớn là sử dụng chiều cao bình quân tầng
trội hoặc là chiều cao cây tiết diện bình quân. Các hàm được sử dụng để xây
dựng biểu cấp đất, đường cong cấp đất thường là hàm Shumacher, Gompertz
hay hàm Korf là tuỳ thuộc vào loài cây, khu vực mà có độ chính xác và phù hợp
khác nhau. Các phương pháp phổ biến thường được sử dụng để xây dựng là
phương pháp Affill, phương pháp a chung b thay đổi hoặc phương pháp b chung
a thay đổi. Tuy nhiên, theo Nguyễn Ngọc Lung (1999) thì do tính đơn giản nên
phương pháp Affill được sử dụng phổ biến hơn [39].
1.2.2. Các nghiên cứu về phân chia hạng đất
Khác với quan điểm về cấp đất, sử dụng chiều cao như là một chỉ tiêu tổng
hợp của tất cả các yếu tố ảnh hưởng để dự đoán năng suất và sản lượng, thì quan
điểm về phân chia hạng đất lại đánh giá một cách riêng lẻ từng nhân tố tác động chủ
đạo. Theo quan điểm này, thì sự phân chia và đánh giá thường khó khăn và phức
tạp hơn. Nhưng đây lại là vấn đề rất quan trọng và có ý nghĩa đối với sản xuất Lâm
16
nghiệp vì người ta có thể dự đoán được sản lượng của rừng trên các lô đất nhất
định, tại các thời điểm khác nhau để có thể quyết định trồng loài cây này hay loài
cây khác để có hiệu quả hơn. Trên quan điểm này, đã có một số công trình nghiên
cứu về phân chia hạng đất cho các loài cây trồng, mà tiêu biểu nhất là công trình
của Trịnh Đức Huy (1988) về lập biểu phân hạng đất cho rừng Bồ Đề thuần loài đều
tuổi ở vùng trung tâm ẩm Bắc Việt Nam. Trong công trình này, tác giả đã sử dụng
phương trình tương quan tuyến tính nhiều lớp để xác định mối quan hệ giữa chỉ tiêu
sản lượng chủ yếu (D, H, M) với các nhân tố sinh thái và mật độ. Với các chỉ tiêu

2009 Ngô Đình Quế và Nguyễn Văn Thắng đã tiến hành đánh giá ảnh hưởng của
một số điều kiện đất đai đến sinh trưởng của rừng trồng Keo lai ở vùng Tây
Nguyên. Kết quả cho thấy các yếu tố có ảnh hưởng nhiều đến năng suất rừng trồng
Keo lai là: loại đất, độ dày tầng đất, thảm thực bì, dung trọng, hàm lượng sét vật lý,
hàm lượng hữu cơ tổng số và P
2
O
5
dễ tiêu. Đề tài đã đề xuất bảng phân hạng đất cấp
vi mô cho trồng rừng loài cây này tại vùng Tây Nguyên theo các nhân tố trên [45].
Năm 2010, trong báo cáo tổng kết đề tài “Phân hạng đất trồng rừng sản xuất một số
loài cây chủ yếu ở các vùng trọng điểm”, Ngô Đình Quế và các cộng sự đã tổng kết
việc phân hạng đất cấp vi mô cho 10 loài cây trồng rừng chủ yếu gồm Keo lai, Keo
tai tượng, Keo lá tràm, Bạch đàn Urophylla, Luồng, Thông nhựa, Thông mã vĩ,
Thông ba lá, Sao đen và Dầu nước cho các vùng trọng điểm đã cho thấy rằng tùy
theo từng loài cây cũng như từng vùng trọng điểm khác nhau mà năng suất rừng có
mối quan hệ khác nhau với các nhân tố chủ yếu như độ dày tầng đất, hàm lượng lân
dễ tiêu, hàm lượng chất hữu cơ trong đất, dung trọng đất, đạm tổng số, kali dễ tiêu.
Trong đó, với loài Keo lai ở vùng Bắc Trung bộ thì năng suất có mối quan hệ với 3
nhân tố là độ dày tầng đất, hàm lượng chất hữu cơ trong đất và hàm lượng lân dễ
tiêu trong đất. Đồng thời đã phân cấp sinh trưởng cho rừng Keo lai tại vùng này là
sinh trưởng tốt nếu năng suất trên 18m
3
/ha/năm và sinh trưởng kém là năng suất
thấp hơn 10m
3
/ha/năm [46]. Nguyễn Văn Lợi (2012) đã sử dụng phối hợp giữa ảnh
Landsat ETM+ và kỹ thuật GIS để phân tích và xác định vùng phân bố rừng trồng
tại 3 huyện thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Kết quả đã đề xuất diện tích qui hoạch
18

19
Liêu trung bình là 327 m
3
/ha, tăng trưởng sinh khối bình quân hàng năm là 9.500
kg/ha [51]. Nguyễn Tuấn Dũng (2005), khi tiến hành nghiên cứu sinh khối lâm
phần Thông mã vĩ và lâm phần Keo lá tràm trồng thuần loài tại Chương Mỹ (thuộc
Hà Tây cũ nay là Hà Nội) đã cho thấy: Thông mã vĩ ở tuổi 20 có tổng sinh khối khô
là 173,4 - 266,2 tấn/ha và rừng Keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng sinh
khối khô là 132,2- 223,4 tấn/ha [10]. Nguyễn Ngọc Lung và Nguyễn Tường Vân
(2004) đã sử dụng biểu quá trình sinh trưởng và biểu sinh khối để tính toán sinh
khối và chuyển đổi qua giá trị thành tiền cho một số loại rừng [40]. Nguyễn Ngọc
Lung và Đào Công Khanh (1999), đã nghiên cứu Thông ba lá, cấp đất III tuổi chặt
60, khi D = 40 cm, H = 27,6 cm, G = 48,3 m
2
/ha, M = 586 m
3
/ha, tỷ lệ khối lượng
khô/tươi của các cây lớn là 53,2%. Hệ số chuyển đổi từ thể tích thân cây sang toàn
cây là 1,3736. Tính ra sinh khối thân cây khô tuyệt đối là 311,75 tấn, tổng sinh khối
toàn rừng là 428,2 tấn. Còn nếu tính theo biểu sinh khối thì giá trị là 434,2 tấn/ha.
Sai số giữa biểu quá trình sinh trưởng và biểu sản lượng là 1,4%. Nguyễn Duy Kiên
(2007), khi nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
rừng trồng Keo tai tượng tại Tuyên
Quang đã cho thấy sinh khối tươi trong các bộ phận lâm phần Keo tai tượng có tỷ lệ
khá ổn định, sinh khối tươi tầng cây gỗ chiếm tỷ trọng lớn nhất từ 75-79%; sinh
khối tầng cây dưới tán chiếm tỷ trọng 17- 20 %; sinh khối vật rơi rụng chiếm tỷ
trọng 4-5% [34]. Cấu trúc sinh khối cây cá thể của rừng Mỡ gồm 4 phần thân, cành,
lá và rễ, trong đó sinh khối tươi lần lượt là 60%, 8%, 7% và 24%; tổng sinh khối
tươi của một ha rừng trồng Mỡ biến động trong khoảng từ 53,4 - 309 tấn/ha, trong

NGUYÊN RỪNG
1.3.1. Trên thế giới
Việc sử dụng công nghệ GIS cho nhiều mục đích khác nhau đã trở nên rất
phổ biến trên toàn thế giới trong khoảng 30 năm trở lại đây.
Trong lĩnh vực Lâm nghiệp, ngày nay, công việc quản lý tài nguyên rừng
đang là một thách thức lớn. Với viễn thám, GPS và công nghệ GIS thì các nhà quản
lý có thể thực hiện nhiệm vụ này dễ dàng và hiệu quả hơn. Do vậy, hiện nay trên thế
21
giới đã có những nghiên cứu, ứng dụng công nghệ GIS trong quản lý, bảo vệ rừng.
Những nghiên cứu dưới đây sẽ minh hoạ cho nhận định này:
Viện tài nguyên thế giới (WRI: World Resource Institute) đã sử dụng ảnh
viễn thám và kĩ thuật GIS để đánh giá ảnh hưởng của phá rừng với các quốc gia và
người dân trên toàn thế giới. Viện tài nguyên thế giới đã sử dụng phần mềm GIS để
kiểm soát diện tích rừng trên toàn cầu. Ngoài ra, GIS còn hỗ trợ phân tích so sánh
diện tích rừng hiện nay với diện tích rừng trong quá khứ, cho thấy xu hướng thu hẹp
ngày càng nhanh của các diện tích này và tốc độ thu hẹp ở các vùng khác, từ đó dự
báo tốc độ mất rừng của những nơi mà biên giới rừng còn tồn tại. Với phần mềm
chuyên dụng GIS, các dự báo có thể được phân tích dưới dạng bản đồ hoặc biểu đồ
(dẫn theo [37]). Vào năm 1987 Hutacharoen đã sử dụng GIS để đánh giá sự tàn phá
rừng ở tỉnh Chiang Mai, Thái Lan: ông đã sử dụng ảnh vệ tinh LANDSAT MSS ở 3
thời điểm khác nhau (1975, 1979 và 1985) để làm ra 3 bản đồ che phủ, sử dụng đất.
Sau đó chồng ghép 3 lớp bản đổ để xác định mức độ tàn phá rừng và sử dụng các cơ
sở dữ liệu GIS như mức độ che phủ của thực vật, độ cao, độ dốc và chiều dài của độ
dốc để xây dựng mô hình GIS đánh giá sự suy thoái của tài nguyên đất thông qua
phương trình mất đất phổ dụng (USLE = Universal Soil Loss Equation) của
Wischmeier and Smith năm 1978. Từ phương trình này có thể thống kê được mức
độ xói mòn ở các thời điểm khác nhau làm cơ sở cho việc đánh giá sự suy thoái của
đất trong vùng nghiên cứu [89]. Bản chất của ứng dụng GIS trong lĩnh vực này là
phân tích dữ liệu không gian, sử dụng mô hình GIS thông qua phương pháp phối
hợp các lớp bản đồ đo và thống kê diện tích [37].

định sự phù hợp đất trong lĩnh vực khôi phục rừng. Ông cũng đánh giá hiệu quả của
sử dụng GIS trong đánh giá sự phù hợp đất và tìm ra các vấn đề còn tồn tại thuộc về
phương pháp sử dụng. Kỹ thuật GIS đánh giá sự phù hợp là đã sử dụng mô hình
phối hợp tuyến tính với trọng số [64]. Một phương pháp tiếp cận đánh giá sự phù
hợp nổi tiếng được phát triển bởi Hopkins năm 1977. Phương pháp này giải quyết
các hoạt động chồng lớp số học về các nhân tố theo mức độ tầm quan trọng của
chúng (trọng số) để tạo ra một lớp mới mô tả về các mức độ phù hợp cho mỗi dạng
23
sử dụng [87]. Ở các nước ôn đới, GIS đã được ứng dụng và phát triển trong quản lý
lửa rừng. Năm 1997 Pons và đồng nghiệp đã sử dụng mô hình dựa trên cơ sở dữ
liệu GIS để tiên đoán và kiểm soát lửa rừng ở Catalan, Tây Ban Nha [102]. Công
nghệ GIS cũng đã được sử dụng để lập kế hoạch quản lý lửa rừng ở Thổ Nhĩ Kỳ
[69]. Ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới, có rất ít các báo cáo về nghiên cứu ứng
dụng GIS trong phòng chống cháy rừng. Tuy nhiên, hầu hết các ứng dụng là tương
tự như các nước ôn đới [37].
Scott và các cộng sự vào năm 1998 đã sử dụng mô hình GIS với số liệu khí
hậu hàng tháng và độ che phủ đất được thu thập từ ảnh vệ tinh để dự đoán sức sản
xuất thuần của rừng và cho kết quả là lượng tăng trưởng biến động từ 700 -
1450g/m
2
/năm với giá trị trung bình là 1084g/m
2
/năm. Cũng như cho thấy lượng
nước thoát là từ 24 đến 150 cm/năm với trung bình là 63 cm/năm. Các mức độ dự
báo cho độ chính xác tương đối cao và phù hợp với giá trị quan sát tại thực địa
(Scott et al, 1998). Tim và các cộng sự vào năm 1999 khi sử dụng GIS và phân tích
không gian để nghiên cứu sự thay đổi năng suất và dinh dưỡng rừng ở New-Zealand
đã cho thấy rằng xu hướng về không gian và thời gian của năng suất rừng (gồm chỉ
số lập địa và Phốt pho trong lá) có thể được dự đoán và giải thích bằng cách sử
dụng công nghệ GIS. Tuy nhiên chỉ số tiết diện ngang và các chỉ số dinh dưỡng

với số liệu GIS. Sử dụng lượng quang hợp thực vật và sinh khối rừng để lượng hoá
khả năng tích luỹ cacbon trong thực vật và sử dụng phân loại đất để tích toán lượng
cacbon trong đất. Các giá trị tích luỹ cacbon được chọn đã được lập bản đồ sử dụng
công nghệ GIS với các giá trị được thể hiện dưới dạng tiền tệ [105].
1.3.2. Ở Việt Nam
Tại Việt Nam công nghệ GIS cũng được thí điểm khá sớm. Đến nay đã được
ứng dụng trong khá nhiều ngành như quy hoạch Nông Lâm nghiệp, quản lý rừng,
lưu trữ tư liệu địa chất, đo đạc bản đồ, địa chính, quản lý đô thị Tuy nhiên các ứng
dụng có hiệu quả nhất chỉ giới hạn ở các lĩnh vực lưu trữ, in ấn các tư liệu bản đồ
[37]. Việt Nam cũng đã thu hút một số lớn các dự án quốc tế trong lĩnh vực nâng
cao năng lực quản lý môi trường và tài nguyên trong đó GIS luôn là hợp phần quan
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status