LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án là trung thực. Những
luận điểm mà luận án kế thừa của những tác giả đi trước đều có nguồn gốc,
xuất xứ rõ ràng. Nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Hà Nội, ngày tháng 3 năm 2014
Tác giả luận án
Nguyễn Văn Trung
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thành viên trong dòng họ chủ đất, các già
làng, trưởng bản trong cộng đồng người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh
Quảng Bình đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình đi khảo sát, điền dã
phục vụ cho luận án.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ, chiến sĩ đồn biên phòng Cồn
Roòng; UBND xã Thượng Trạch, UBND xã Tân Trạch, Phòng văn hoá,
UBND huyện Bố Trạch đã giúp đỡ tôi thu thập thông tin, tư liệu liên quan đến
luận án.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo ở Học Viện khoa học xã
hội, Viện Dân tộc học và đặc biệt với sự hướng dẫn của Cô giáo - TS. Trần
Hồng Hạnh và Thầy giáo - TS. Lý Hành Sơn đã tận tình giúp đỡ để tôi hoàn
thành luận án này.
Hà Nội, ngày… tháng 3 năm 2014
Tác giả luận án
Nguyễn Văn Trung
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục sơ đồ
Bru-Vân Kiều, cư trú chủ yếu tại 19 bản làng nằm rải rác dọc biên giới Việt -
Lào, thuộc hai xã Thượng Trạch và Tân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng
Bình. Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, cộng đồng Ma
Coong nơi đây có 400 hộ với 1.950 người [19, tr.4]. Địa bàn cư trú của người
Ma Coong bị chia cắt, heo hút giữa đại ngàn Trường Sơn. Đời sống của đồng
bào cho đến nay còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, chủ yếu dựa vào nương rẫy,
săn bắt, hái lượm; kinh tế tự cung tự cấp vẫn là cơ bản.
Có thể nói, đã có nhiều bài viết, ấn phẩm của nhiều tác giả nước ngoài
cũng như trong nước đề cập đến dân tộc Bru-Vân Kiều dưới nhiều khía cạnh
khác nhau. Tuy nhiên, những nghiên cứu về người Ma Coong - một trong
những nhóm địa phương của dân tộc Bru-Vân Kiều - lại rất hiếm thấy. Rõ
ràng, đây vẫn là một khoảng trống nghiên cứu về người Ma Coong nói chung.
Cũng như nhiều dân tộc thiểu số, cộng đồng khác ở Việt Nam, trước
đây khi chưa có sự vận hành bằng cơ chế nhà nước, để thiết lập trật tự xã hội
của người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình được xem là “tự
quản” này và duy trì nó, rõ ràng phải có vai trò của cá nhân “thủ lĩnh”. Ở cộng
đồng người Ma Coong, những “thủ lĩnh” này chính là chủ đất/chủ xứ… (a
châu cu téc/a châu k ruông…).
Huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình vốn là quê hương của tôi. Tôi đã có
sự đồng cảm và hiểu biết nhất định về làng quê của mình, trong đó có cộng
đồng người Ma Coong. Cho đến nay, trong khi ở nhiều cộng đồng lân cận
khác như người Vân Kiều, Khùa, Trì, A Rem…, hình ảnh chủ đất/chủ xứ của
họ rất mờ nhạt, thậm chí không tồn tại mà chỉ còn là các câu chuyện kể, thì ở
cộng đồng người Ma Coong nơi đây, đang tồn tại ngôi vị “chủ đất/chủ xứ” và
2
đi kèm với nó những ảnh hưởng lớn của người này tới cộng đồng. Điều này
được thể hiện ở chỗ, cho đến nay, mặc dù chính quyền nơi đây từ lâu đã được
vận hành và hoạt động, nhưng nhiều cuộc họp bàn về việc triển khai một số
chủ trương, chính sách của Nhà nước, những vấn đề liên quan đến an ninh,
trật tự trong cộng đồng, triển khai xây dựng một số công trình cơ sở hạ tầng,
trước đây cũng như hiện nay;
- Đề xuất kiến nghị nhằm phát huy vai trò của người chủ đất để ổn định
và phát triển cộng đồng người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng và phạm vi nội dung nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là người chủ đất trong cộng đồng
của người Ma Coong - một nhóm địa phương của dân tộc Bru-Vân Kiều.
Phạm vi nội dung nghiên cứu của luận án được xác định là người chủ
đất và vai trò của ông trong cộng đồng người Ma Coong. Người chủ đất ở đây
được nhìn nhận tương đối toàn diện về nhiều mặt như: nhân thân, quá trình
hình thành, hình thức nối truyền, thế giới quan Bên cạnh đó, luận án đặc
biệt quan tâm đến vai trò người chủ đất trong phát triển kinh tế - xã hội và
duy trì văn hóa truyền thống của người Ma Coong.
Phạm vi thời gian để nghiên cứu biến đổi làng bản và vai trò chủ đất
của người Ma Coong được xác định là trước và sau Đổi mới đất nước (1986).
Sở dĩ có sự lựa chọn phạm vi thời gian như vậy là do sau năm 1986, nhất là
gần đây khi cơ chế thị trường ngày càng thâm nhập và phát triển ở nhiều vùng
miền cùng với các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, vùng người Ma Coong có
những biến đổi khá rõ rệt.
4
3.2. Phạm vi địa bàn nghiên cứu
Phạm vi địa bàn nghiên cứu được chọn chủ yếu là hai xã Thượng Trạch
và Tân Trạch thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Bên cạnh đó, địa bàn
nghiên cứu còn được mở rộng tới một số bản người Ma Coong ở huyện Bua
La Pha, tỉnh Khăm Muộn - Lào để so sánh hình ảnh người chủ đất của người
Ma Coong ở hai quốc gia khác nhau nhằm tìm ra những tương đồng và khác
biệt do ảnh hưởng của các yếu tố chính sách của mỗi quốc gia, môi trường xã
hội, địa lý tự nhiên Ngoài ra, các cộng đồng khác cận cư với người Ma
Coong như người Vân Kiều, Trì, Khùa và một số tộc người cùng chung sống
trên dãy Trường Sơn cũng ít nhiều được quan tâm.
Coong và giúp ích cho việc hiểu biết thêm về dân tộc Bru-Vân Kiều ở nước
ta, mà còn đóng góp thêm nhiều tư liệu mới cho nhiều ngành khoa học, nhất
là Dân tộc học/Nhân học, Văn hóa học
- Nghiên cứu này còn góp phần cung cấp những luận cứ khoa học, làm
cơ sở cho các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách để tìm ra những
giải pháp quản lý xã hội sao cho hợp lý và hiệu quả hơn đối với cộng đồng
người Ma Coong ở vùng biên giới Việt - Lào cũng như các dân tộc thiểu số
khác. Trong đó, đặc biệt lưu tâm đến việc quản lý xã hội dựa vào cộng đồng
và những đóng góp của những người có uy tín với tầm ảnh hưởng lớn trong
cộng đồng các dân tộc.
6. Bố cục luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án
được kết cấu thành 5 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương
pháp nghiên cứu
Chương 2: Sự hình thành chủ đất và hình thức trao truyền
6
Chương 3: Vai trò của chủ đất trong phát triển kinh tế - xã hội ở cộng
đồng người Ma Coong
Chương 4: Chủ đất với việc duy trì các giá trị văn hóa truyền thống của
người Ma Coong
Chương 5: Kết quả và bàn luận
7
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Người Ma Coong cùng người Trì, Khùa là những nhóm địa phương của
dân tộc Bru-Vân Kiều [114, tr.61]. Do đó, giữa họ có những nét tương đồng
về phong tục tập quán, ngôn ngữ, đặc điểm cư trú Trong các nhóm người
Vân Kiều. Trong phạm vi địa lý cùng với nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ-me mà
tác giả Joaan L. Bchroch và cộng sự đề cập đến, chưa thấy tài liệu nào nói về
người “Hương Kong” như tác giả đề cập đến trong cuốn sách này. So với các
nhóm địa phương của dân tộc Bru-Vân Kiều, người Ma Coong lại có nhiều
nét tương đồng với người Vân Kiều như ngôn ngữ, tập quán, kể cả các mối
quan hệ thân thuộc. Hơn nữa, ngay từ phần nhập đề, tác giả cũng cho rằng
người Bru còn có tên gọi khác là Vân Kiều và Hương Kong với dân số
khoảng 40.000 - 50.000 người, sống ở từng làng biệt lập; họ không có tổ chức
chính trị trọng tâm của các bộ lạc, tự trị trong các tỉnh Quảng Trị và Thừa
Thiên, ở Lào và Bắc Việt Nam, ngôn ngữ thuộc hệ Môn – Khơ-me [10, tr.2].
Như vậy, có thể thấy rằng, người Bru và Hương Kong được đề cập trong cuốn
sách của Joaan L. Bchroch và cộng sự chính là dân tộc Bru-Vân Kiều, bao
gồm cả người Ma Coong mà luận án đang quan tâm.
Ngoài ra, trong cuốn sách vừa đề cập ở trên, các tác giả đã bàn đến một
số vấn đề như cảnh quan, hình thức cư trú, tổ chức kinh tế và một số phong
tục tập quán, nghi lễ tín ngưỡng. Trong đó, có lễ hiến tế súc vật (phổ biến là
hiến tế con trâu) để tạ lỗi với các thần linh, tránh dịch bệnh và các tai nạn
9
khác cho làng bản. Trong các lễ hiến tế này, người già làng đứng ra điều
khiển lễ hiến sinh của toàn làng [10, tr.15]. Qua cách miêu tả nghi thức của
các tác giả về lễ hiến sinh ấy, có rất nhiều nét tương đồng với nghi lễ tế trâu
của người Ma Coong, mà tiếng Ma Coong gọi là toong la pe chi riếc.
Năm 1972, John D. Miller có bài viết với tiêu đề “Quan hệ thân thuộc
của người Bru” đăng trên Tạp chí Quốc tế “Đông Nam Á”. Bài viết dài 15
trang, mở đầu tác giả khái quát các hoạt động kinh tế để duy trì cuộc sống của
cộng đồng và tập tục thừa kế tài sản. Tác giả nhấn mạnh đến một vấn đề mà
bản thân tác giả đã có thời gian nghiên cứu nghiêm túc tại thực địa
1
, và đây
được xem là nội dung cơ bản của tài liệu này. Cụ thể là tác giả đã đề cập đến
Vargyas, đến năm 1905, bản tóm tắt dân tộc học trước tiên về người Bru mới
được xuất bản. Đó là bản tóm tắt về người Bru ở Lào - công trình của Macey
(1905), vốn là Ủy viên của Tổng trấn Cammon (nay là tỉnh Khăm Muộn -
Lào, giáp với tỉnh Quảng Bình - Việt Nam). Cuốn sách ấy có giá trị lớn vì
nhờ đó, tộc danh Bru lần đầu tiên xuất hiện trong văn học [118, tr.33].
Trong nửa cuối của cuốn sách nói trên, tác giả Gabor Vargyas đã lần
lượt liệt kê các tác giả khác có những bài viết, ấn phẩm đề cập đến sự xuất
hiện và cách sử dụng tộc danh Bru (có tính văn học trong các ấn phẩm). Tuy
nhiên, nội dung của những bài viết và ấn phẩm đó chủ yếu giới thiệu những
câu chuyện, giai thoại, truyền thuyết có liên quan đến người Bru.
Có thể nói, dù chưa phải là phổ biến, với số lượng còn ít ỏi và khá sơ
lược, những bài viết, công trình nghiên cứu về dân tộc Bru-Vân Kiều, trong
đó có người Ma Coong của các tác giả nước ngoài chủ yếu đề cập đến một số
phong tục, tập quán, vị trí địa lý, một số nghi lễ của dân tộc này. Bên cạnh
đó, có tác giả cũng đã nhắc đến “người đầu làng”, tức người “chủ làng” - vấn
đề mà luận án này đang quan tâm. Mặc dù vậy, những nghiên cứu vừa kể trên
11
cũng cung cấp một bức tranh sơ lược và những thông tin cơ bản về dân tộc
mà luận án muốn nhắm đến; chúng có thể là những tư liệu tham khảo hữu ích
cho luận án này.
1.1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước về dân tộc Bru-Vân Kiều,
trong đó có người Ma Coong
Nghiên cứu tư liệu cho thấy, trước năm 1975, tình hình nghiên cứu về
dân tộc Bru-Vân Kiều ở trong nước ít được chú ý. Có lẽ nguyên nhân là do
vào thời kỳ ấy tình hình chiến tranh ác liệt kéo dài và dân tộc Bru-Vân Kiều
cư trú ở những nơi tương đối hẻo lánh, biệt lập, đường sá đi lại quá khó khăn
và khó tiếp cận. Tuy nhiên, vẫn có một vài công trình nổi bật trong thời kỳ ấy
liên quan, dù ít hay nhiều, đến dân tộc Bru-Vân Kiều. Có thể kể một số cuốn
sách như: Các dân tộc nguồn gốc Nam Á ở miền Bắc Việt Nam của Vương
Hoàng Tuyên (1963) [112]; Các dân tộc miền núi Bắc Trung Bộ của Mạc
Trạch, tỉnh Quảng Bình ngày nay. Cuốn sách cũng đề cập đến ngôn ngữ và so
sánh các mối quan hệ giữa các nhóm, nhưng mới chỉ dừng lại ở một số ví dụ.
Ngoài ra, các phong tục tập quán, tín ngưỡng, nhà ở của tộc người này cũng
được bàn đến nhiều. Tuy nhiên, các thông tin có liên quan được nêu ra mới
chỉ tập trung vào nhóm Bru thứ nhất, đó là nhóm Bru Vân Kiều (theo cách
chia của nhóm tác giả trong cuốn sách ấy), còn nhóm Bru thứ hai (Bru Ma
Coong) thì chưa được bàn luận hoặc nếu có, cũng rất ít. Như vậy, bên cạnh
những nét tương đồng trong một số phong tục tập quán của các nhóm Bru nói
chung, người Ma Coong cũng có những khác biệt chưa được đề cập trong
cuốn sách này.
Trong khoảng thời gian 1995 - 1998, đã có rất nhiều bài viết về một số
phong tục tập quán liên quan đến chu kỳ vòng đời của người Bru: hôn nhân,
13
tập tục sinh đẻ, tang ma Đó là các bài viết như Hôn nhân và gia đình của
người Bru-Vân Kiều ở miền Tây Quảng Trị của Hồ Xuân Linh [53]; Hôn
nhân - gia đình - ma chay của người Tà Ôi, Cơ-Tu, Bru-Vân Kiều ở Quảng
Trị - Thừa Thiên của Lê Phạm Minh Quý [76]; Hôn nhân và thân phận lệ
thuộc của người phụ nữ Bru-Vân Kiều của Lý Tùng Hiếu [40]; Tập tục sinh
đẻ và nuôi con ở người Bru-Vân Kiều huyện Hướng Hóa, Quảng Trị của Vũ
Đình Lợi [56]; Những hình thức tang lễ của người Bru-Vân Kiều của Hồ Chư
[17]. Điểm đáng chú ý là các công trình, bài viết vừa kể trên chứa đựng nguồn
tư liệu thực địa phong phú, công phu. Điều đó cũng dễ hiểu bởi một số công
trình, khóa luận tốt nghiệp do tác giả là người địa phương thực hiện. Tuy
nhiên, các bài viết ấy đều giống nhau về cách tiếp cận: chủ yếu theo lối khảo
tả, hầu như không phân tích; càng hiếm có những nghiên cứu so sánh giữa các
nhóm địa phương, cho dù là các nhóm ấy thuộc một dân tộc. Nếu có sự diễn
giải và so sánh, chắc sẽ chỉ ra những điểm riêng và khác biệt rõ hơn giữa các
nhóm địa phương của tộc người Bru-Vân Kiều.
Như vậy, so với nguồn tư liệu về dân tộc Bru-Vân Kiều của các học giả
nước ngoài, các nhà khoa học Việt Nam, đặc biệt là các nhà dân tộc học, đã
cứu vừa kể trên cũng cung cấp nguồn thông tin và tư liệu quý, làm nền tảng
cho nghiên cứu sâu hơn về người Ma Coong, trong đó có vai trò của chủ đất -
người có uy tín trong cộng đồng Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu về chủ đất, trong đó có chủ đất người
Ma Coong
Ở người Ma Coong, trong mỗi bản làng đều có một đến hai người già
làng. Song, khi nói đến già làng của cả cộng đồng Ma Coong ở huyện Bố
Trạch, tỉnh Quảng Bình thì chỉ có một, và người ấy cũng chính là người chủ
15
đất. Vì thế, chủ đất của người Ma Coong, ngoài cương vị và trách nhiệm của
mình, còn giữ vai trò như một già làng. Bởi vậy, trước khi điểm qua tình hình
nghiên cứu về chủ đất, không thể bỏ qua những nghiên cứu về già làng.
1.1.2.1. Tình hình nghiên cứu về già làng
Nhận thức được tầm quan trọng của những người có uy tín trong cộng
đồng, đặc biệt là những người lớn tuổi, ở nhiều nơi còn được coi là “già
làng”, cho đến nay đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về già làng.
Trong đó, có thể kể đến một số ấn phẩm sau:
Trần Khải Định với bài viết Phát huy vai trò các già làng ở Đắc Lắc
2
[27] cho thấy trước đây già làng rất am hiểu về luật tục nên thường đứng ra
giải quyết các xích mích, mâu thuẫn trong nội bộ cộng đồng; ngay nay, già
làng ở tỉnh Đắk Lắk vẫn là người vận động, giải thích và thực hiện các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Theo tác giả, già làng ở tỉnh Đắk
Lắk cũng chính là Trưởng bản [36, tr.49].
Bàn về vai trò của già làng ở Tây Nguyên trong phát triển kinh tế có
Vai trò của người cao tuổi và già làng dân tộc thiểu số trong phát triển ở Tây
Nguyên hiện nay của Nguyễn Thế Huệ [48] và Người cao tuổi dân tộc và già
làng trong phát triển bền vững Tây Nguyên cũng của chính tác giả này [47].
Đây là những công trình nghiên cứu khá công phu về người cao tuổi và già
làng ở Tây Nguyên - cũng là khía cạnh được luận án chú ý bởi mối quan tâm
đất, trong đó có chủ đất của người Ma Coong: khái niệm, phân loại, chức
năng, quyền lợi của chủ đất/chủ xứ [59, tr.30].
Có thể cho rằng, các tác giả Tạ Long, Ngô Thị Chính và Vũ Lợi có
cùng một số quan niệm khi đề cập đến chủ đất như là người có công khai phá
ra vùng đất mới, chịu trách nhiệm về các nghi lễ cúng tế cộng đồng và làng
(vil) là một tổ chức xã hội cơ bản trong xã hội truyền thống của người Bru, và
17
mỗi vil có một bộ máy điều hành và quản lý mọi sinh hoạt của cộng đồng.
Tuy nhiên, theo tác giả Vũ Lợi, chủ đất của người Bru ở đây là chủ của một
làng (vil), còn hai tác giả Tạ Long và Ngô Thị Chính lại cho rằng chủ đất là
chủ của xứ (k’ruông), tức chủ của cả một vùng mà trong đó có rất nhiều làng
(vil). Song, có điều đáng lưu ý là, do hai tác giả Tạ Long và Ngô Thị Chính
không phân biệt chủ đất của người Bru-Vân Kiều và người Ma Coong nên khi
đề cập đến các lễ cúng, những thông tin mà các tác giả đưa ra mới chỉ nói đến
chủ đất người Bru-Vân Kiều. Trong khi đó, trên thực tế, người Ma Coong có
hai lễ cúng rất quan trọng mà chủ lễ chính là ông chủ đất, nhưng chưa thấy
các tác giả trên nhắc đến trong các công trình của mình, đó là: cúng trong lễ
hội và cúng trong lễ tế trâu (lễ hiến tế súc vật). Hai lễ cúng này của người Ma
Coong có tính cộng đồng rất cao và có tầm ảnh hưởng rộng lớn, không chỉ ở
phạm vi làng mà còn ở phạm vi xứ (k’ruông).
Như đã trình bày ở trên, năm 2011, Nguyễn Văn Trung với đề tài luận
văn thạc sĩ về Lễ hội đập trống của người Ma Coong cũng đề cập đến ông chủ
đất trong vai trò là một chủ lễ cúng trong lễ hội. Tuy vậy, tác giả luận án mới
dừng lại ở nội dung bài cúng và cũng như việc thực hành nghi lễ bài cúng đó.
Trong khi đó, vẫn còn rất nhiều khía cạnh khác liên quan đến ông chủ đất như
đối tượng cúng tế, các thần linh tôn thờ, con người cũng như bản chất và vai trò
của ông chủ đất trong đời sống kinh tế - xã hội chưa được quan tâm làm rõ.
Tóm lại, đến nay đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về dân tộc
Bru-Vân Kiều, trong đó có người Ma Coong, của nhiều tác giả trong và ngoài
nước. Các tác giả cũng đã đề cập đến phong tục, tập quán, đời sống tinh thần,
nhỏ mà có thể bao gồm cả rừng núi, sông suối, đất ngập nước Tuy nhiên,
chủ đất trong nghiên cứu này là chủ đất của một cộng đồng dân cư. Chính vì
19
vậy, ở đây quan tâm và đề cập đến các khái niệm chủ đất trong các mối quan
hệ gắn liền với cộng đồng được nghiên cứu.
Khi nói đến chủ đất trong một cộng đồng làng bản, theo một số tài liệu
đã công bố: “Chủ đất là người tìm ra và khai khẩn chỗ đất đai đó. Ông ta là
người vừa có uy thế, lại am hiểu phong tục” [115, tr.31]. “Chủ đất là người
đầu tiên phát hiện ra vùng đất mới và cũng là người có công sáng lập ra làng.
Ông ta là người thay mặt cộng đồng quản lý đất đai và gìn giữ luật tục” [55,
tr.54]. “Chủ đất là người chủ xứ, vốn là con cháu của người cắm đất đầu tiên
của xứ, được kế truyền thế tập theo lối anh truyền cho em, chú truyền lại cho
con trưởng của anh cả, nếu không có cháu trưởng thì người chú mới truyền lại
cho con trai mình” [59, tr.29] Người Ma Coong cho rằng, chủ đất của họ là
người được bầu ra trong một dòng họ đã có công tìm ra vùng đất của họ hiện
đang cư trú, được cộng đồng tôn trọng giao cho ông chủ đất quyền đặt ra luật
tục và người duy nhất được phép tổ chức, chủ lễ trong việc cúng “xứ” (vùng).
Nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam gọi chủ đất hay chủ xứ theo cách
riêng của mình: người Mày gọi chủ đất là chăm yàng hay chăm sần (người
cúng thần/người cúng ma rừng); người Rục và người Sách Cọi gọi là chô blú
(người chủ núi rừng); người A Rem gọi là chăm brâu (chủ rừng); người Sách
Mai lại gọi là ôông chăm sần (ông trông nom/cúng rừng); người Mã Liềng
gọi là pchô mgấu (chủ rừng); người Bru-Vân Kiều và Ma Coong gọi là a
châu kruông (chủ xứ hay chủ vùng) [59, tr.30-31].
Rõ ràng, chủ đất thường được đề cập đến trong các cộng đồng làng, bản
của một số tộc người thiểu số ở Việt Nam. Khi nói đến chức vụ và quyền hạn
của đối tượng này, nhiều tác giả cho rằng chủ đất là chủ xứ [59, tr.29]; người
đầu làng kiêm luôn chủ đất [33, tr.73]; ở một số vùng, người tộc trưởng kiêm
luôn cả chủ đất lẫn chức đầu làng [115, tr.131]; luật tục người Bru quy định:
mu gốc (làng gốc) là mu đến sinh cơ lập nghiệp, có công khai phá vùng đất
biệt; có thẩm quyền riêng trong phạm vi không gian và thời gian cần thiết”
[123, tr.144].
Trong Luật Đất đai năm 2003, khái niệm cộng đồng cũng được đề cập:
“Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng một
địa bàn, làng, ấp, bản, buôn, phun, sóc và các điểm dân cư tương tự có chung
quyền sử dụng đất” [70, tr.17]. Tại Điều 3, số 29/2004/QH, Luật Bảo vệ và
Phát triển rừng năm 2004 đã định nghĩa: “Cộng đồng dân cư thôn
là
toàn bộ
các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn,
phun,
sóc
hoặc đơn vị tương đương” [12, tr.7].
Trong cuốn cẩm nang của ngành Lâm nghiệp của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn, trong một chương trình thuộc dự án GTZ-REFAS, nhóm
tác giả Nguyễn Hồng Quân, Phạm Xuân Phương, Vũ Long cho rằng: “Cộng
đồng là một tập thể người sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ có
những đặc điểm tương đồng về mặt văn hóa, kinh tế, xã hội truyền thống,
phong tục tập quán, có các quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bó với
nhau” [12, tr.3].
Như vậy, thuật ngữ “cộng đồng” được dùng nhiều trong các lĩnh vực
của đời sống xã hội cũng như trong các nghiên cứu. Do đó, thuật ngữ này
được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy vào hoàn cảnh và mục đích sử dụng.
Trong phạm vi luận án này, cộng đồng được hiểu là cộng đồng người Ma
Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ở đó, người Ma Coong cư trú tập
trung thành nhiều bản làng dọc biên giới Việt - Lào. Vì vậy, đây chính là cộng
đồng dân cư thôn bản của người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng
Bình; trong đó, có các cá nhân, các hộ gia đình, các dòng họ của người Ma
Coong cùng tụ cư và sinh tồn.