1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ HỒNG TỨ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÂY DỰNG VĂN
HÓA GIA ĐÌNH Ở HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH
QUẢNG BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Chính trị
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. NGUYỄN LƯƠNG BẰNG
NGHỆ AN - 2013
2
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân
thành và sâu sắc đến: phòng Sau Đại học, Khoa Giáo dục Chính trị trường
Đại học Vinh, Quý thầy, cô trực tiếp giảng dạy lớp Cao học Lý luận và
phương pháp dạy học Chính trị khóa XIX tổ chức tại trường Đại học Vinh và
Phó Giáo sư- Tiến sĩ Nguyễn Lương Bằng đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập, nghiên cứu và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi hoàn
Câu lạc bộ
CNH, HĐH
:
Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
HĐND
:
Hội đồng nhân dân
LHPN
:
Liên hiệp phụ nữ
Nxb
:
Nhà xuất bản
tr.c.n
:
đặc biệt. Gia đình là nơi con người sinh ra và lớn lên, có vai trò to lớn đối với
sự phát triển của cá nhân và xã hội. Gia đình là “cái nôi” nuôi dưỡng và giáo
dục con người có ích cho xã hội, là nơi bảo tồn nòi giống, duy trì và phát triển
đời sống hiện thực của con người. Gia đình có quan hệ gắn bó với xã hội, vừa
là tế bào và vừa là hạt nhân của xã hội. Gia đình là nhân tố tác động đến sự
vận động và phát triển của từng chế độ xã hội nhất định. Vì vậy, Liên Hợp
Quốc đã lấy năm 1994 là "Năm quốc tế gia đình” với chủ đề: “Gia đình
trong thế giới đổi thay - nguồn lực và trách nhiệm”. Các quốc gia trên thế
giới cũng nhận thức rõ rằng: củng cố sự vững chắc của gia đình là nhân tố
quan trọng để ổn định và phát triển đất nước.
Ở Việt Nam, vấn đề gia đình đã và đang được đặt ra với vị trí mang
tầm chiến lược quốc gia. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Đảng ta khẳng định: Gia đình là
tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường
quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách. Các chính sách của
Nhà nước phải chú ý tới xây dựng gia đình no ấm, hoà thuận, tiến bộ. Nâng
cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người”.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khoá VIII) đã chỉ rõ “trách nhiệm của gia đình trong việc giữ gìn và phát huy
những đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, nêu cao vai trò gương mẫu của
các bậc cha mẹ, coi trọng xây dựng gia đình văn hoá, xây dựng mối quan hệ
khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội”. Đến Đại hội Đại biểu toàn
quốc lần thứ IX, giá trị gia đình một lần nữa được Đảng nhấn mạnh: “Nâng
7
cao trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng các thành viên
của mình có lối sống văn hoá, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi
người và là tế bào lành mạnh của xã hội”. Chỉ thị số 49-CT/TW ngày
21/02/2005 của Ban Bí thư "Về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa,
về đặc điểm gia đình Việt Nam trước những năm 1990.
Công trình Văn minh phương Đông và gia đình Việt Nam truyền thống
(1994) (Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia do Quỹ Toyota
Foundation tài trợ) đã có những khảo sát và nghiên cứu, đánh giá bước đầu về
gia đình truyền thống ở Việt Nam qua một số thời mốc lịch sử của Việt Nam.
Trong Từ điển văn hóa gia đình, tác giả Phạm Trường Khang, Hoàng
Lê Minh, Nxb Văn hóa - Thông tin, đã trình bày những điều cơ bản nhất về
văn hóa, giáo dục, ứng xử trong gia đình hiện đại, quan hệ giữa cha mẹ con
cái, tâm sinh lý các lứa tuổi…
Sách Văn hóa tâm lý gia đình (2001), của hai tác giả Vũ Hiếu Dân và
Ngân Hà, Nxb Văn hóa - Thông tin đã cung cấp một số tình huống, thông tin
về cách ứng xử của các thành viên trong gia đình với nhau và một số phương
pháp dạy dỗ con cái trong gia đình.
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cấp tới những vấn đề lý luận và
thực tiễn về đặc điểm, chức năng gia đình Việt Nam, những nội dung cơ bản
nhất về văn hóa, giáo dục, ứng xử trong gia đình, quan hệ giữa cha mẹ con
cái... để hình thành nên những hệ giá trị về văn hóa gia đình.
Thứ hai, các đề tài, luận văn, luận án nghiên cứu gia đình, xây dựng
gia đình văn hoá dưới các góc độ triết học, chủ nghĩa xã hội khoa học, văn
hóa học, có thể thống kế một số công trình sau: Vai trò của gia đình trong việc
giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay, (2001), Luận án tiến sĩ Triết học, chuyên
ngành chủ nghĩa xã hội khoa học của Nghiêm Sĩ Liêm (Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh). Gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ
nữ trong gia đình Việt Nam hiện nay, (2003), Luận án tiến sĩ Triết học, Chuyên
10
ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, của Dương Thị Minh (Học viện Chính trị-Hành
chính Quốc gia Hồ Chí Minh). Gia đình trong việc bảo vệ chăm sóc trẻ em của
nước ta hiện nay, (2004), Luận văn thạc sĩ Triết học, chuyên ngành chủ nghĩa
xã hội khoa học của Phạm Thị Xuân (Học viện Chính trị-Hành chính Quốc
biến đổi của gia đình Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã đề xuất một số
phương hướng và những giải pháp giúp cho gia đình Việt Nam thích ứng, tồn
tại và phát triển trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
toàn cầu hóa hiện nay của đất nước.
Dưới những góc độ khác nhau, các luận án, luận văn nói trên đã đề cập
đến vai trò của giáo dục gia đình, đặc biệt giáo dục nhân cách; vai trò của phụ
nữ trong gia đình; các đặc điểm, vai trò văn hoá gia đình ở nước ta hiện nay.
Đồng thời, các đề tài cũng đưa ra được những phương hướng, giải pháp thiết
thực góp phần xây dựng gia đình Việt Nam, phát huy vai trò to lớn của gia
đình đối với sự phát triển con người, chủ thể của sự nghiệp đổi mới, phát triển
đất nước trong giai đoạn mới. Ngoài ra, ở nước ta hàng năm còn có hàng trăm
bài viết được đăng tải trên các sách báo, tạp chí nghiên cứu về văn hoá gia
đình. Nhưng, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu “Nâng cao hiệu
quả xây dựng văn hoá gia đình ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trong giai
đoạn hiện nay”. Từ yêu cầu của thực tiễn khách quan, chúng tôi thực hiện luận
văn này với mong muốn bước đầu nhìn nhận một cách toàn diện và hệ thống
về vấn đề văn hoá gia đình ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc tổng hợp những vấn đề lý luận chung về văn hoá gia đình và
khảo sát, đánh giá thực trạng việc xây dựng văn hóa gia đình ở huyện Bố Trạch,
tỉnh Quảng Bình, luận văn đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả văn hóa gia đình tại địa phương trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
12
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về văn hoá gia đình
- Tổng hợp và làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về văn hoá gia
đình ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng văn hóa
gia đình và phát huy vai trò của văn hóa gia đình trong đời sống xã hội ở
huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới.
- Luận văn là tài liệu tham khảo cho học viên và sinh viên chuyên ngành
LL & PPDHBM Chính trị và các cơ quan chức năng khi nghiên cứu về văn hóa
gia đình.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung đề tài gồm có 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc nâng cao hiệu quả xây dựng văn
hoá gia đình trong giai đoạn hiện nay.
Chương 2: Thực trạng việc xây dựng văn hóa gia đình ở huyện Bố
Trạch, tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn hiện nay.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng văn
hoá gia đình ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn hiện nay.
14
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÂY DỰNG
VĂN HOÁ GIA ĐÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1. Văn hóa gia đình và cấu trúc của văn hóa gia đình trong giai
đoạn hiện nay
1.1.1. Văn hóa gia đình
- Khái niệm về gia đình
Trong lịch sử xã hội loài người, gia đình có vị trí đặc biệt quan trọng,
nó là một trong hai nền sản xuất chính của xã hội, là “tế bào” của xã hội. “Gia
tố tự nhiên và cơ bản của xã hội và có quyền hưởng sự bảo vệ của xã hội và
của Nhà nước”. Hiến chương cộng đồng Châu Âu khẳng định: “Gia đình với
tư cách là tế bào của xã hội, pháp lý và kinh tế thích hợp để đảm bảo sự phát
triển của nó”. Hai quan điểm này thể hiện rõ sự gắn kết mật thiết giữa gia
đình và xã hội, vai trò của gia đình đối với xã hội.
Ở Việt Nam gia đình cũng được xuất hiện từ rất sớm. Từ buổi bình
minh lịch sử cho đến nay, gia đình vẫn được coi là gốc, là nền tảng của đất
nước. Quan hệ gia đình là gốc, là trung tâm trong đời sống xã hội, trong đời
sống tâm linh của mỗi người cũng như của toàn cộng đồng. Đây được coi là
một đặc trưng của con người Việt Nam truyền thống. Điều này không chỉ
được người Việt Nam mà ngay cả những người nước ngoài cũng dễ dàng
nhận ra. Họ cho rằng: “Tinh thần gia đình là đặc tính cơ bản nhất của con
người Việt Nam thuộc tất cả mọi tầng lớp. Đối với họ, “gia đình là tất cả”
hoặc “Gia đình là cơ sở, là hạt nhân của xã hội An Nam. Đó là một trục trung
tâm mà mọi lợi ích, mọi ý nghĩ đều quay xung quanh nó” [22; 23-24].
Khi bàn tới khái niệm “gia đình”, một số tác giả cũng có nhận định
khác nhau, tuỳ theo góc độ tiếp cận. Từ xa xưa, ông cha ta đã có quan niệm
rất đúng rằng gia đình (nhà, gia tộc, dòng họ) là gốc của nước, gia đình gắn
16
bó chỉnh thể với làng và nước tạo nên một hệ thống chặt chẽ trong đấu tranh
dựng nước và giữ nước, trong sinh sống làm ăn, giao tiếp, ứng xử, nối dòng
truyền thống cả về mặt sinh học lẫn văn hóa. Gia đình chính là một trong ba
mắt xích trọng yếu để từ đó có thể hiểu sâu sắc về đất nước, con người, lịch
sử và xã hội Việt Nam.
Thực tế, gia đình là một khái niệm phức hợp bao gồm nhiều yếu tố sinh
học, tâm lý, văn hóa, kinh tế… khiến nó không giống bất kỳ một nhóm xã hội
nào. Từ góc độ nghiên cứu khác nhau của từng bộ môn khoa học để có thể
đưa ra những khái niệm cụ thể.
nhân, huyết thống hoặc nhận con nuôi; tạo thành một hộ duy nhất, tác động
qua lại và giao tiếp với nhau theo vai trò xã hội riêng từng người trong số họ:
là chồng vợ, là mẹ cha, anh trai và em gái; tạo thành một nền văn hoá chung.
Kingley Davis định nghĩa gia đình: “Là một nhóm người mà quan hệ của họ
với nhau dựa trên cơ sở dòng dõi và do đó họ là họ hàng thân thích của nhau”
[25; 24]. Các định nghĩa nói trên đã đề cập tới nhiều khía cạnh bản chất của
gia đình nhưng sự khái quát khá chung chung, không rõ bản chất, chức năng
và sự tác động của gia đình với xã hội và ngược lại.
Nhà nghiên cứu Lê Thi quan niệm:
Khái niệm gia đình được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành
trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống, nảy sinh quan hệ hôn
nhân đó và cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng, nội ngoại).
Đồng thời gia đình cũng có thể bao gồm một số người được gia đình nuôi
dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống các thành viên gia đình gắn bó với
nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hoá, tình cảm), giữa họ thường
có những điều ràng buộc có tính pháp lý, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ
(được ghi rõ trong luật hôn nhân và gia đình của nước ta). Đồng thời trong gia
18
đình có những quy định rõ ràng về quyền được phép và cấm đoán quan hệ
tình dục giữa các thành viên [47; 42].
Ở đây tác giả đề cập tới nhiều nét đặc trưng, bản chất cơ bản của gia
đình nhưng nặng nề về trình bày phân tích chưa khái quát cô động.
Như vậy, dưới góc độ xã hội học, khái niệm gia đình cần được bổ sung
và khái quát cô động phù hợp hơn.
“Gia đình” dưới góc độ tâm lý học
Trong sách “Tâm lý học gia đình”, Ngô Công Hoàn đã đưa ra quan niệm:
“Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội, có quan hệ gắn bó về hôn nhân hoặc huyết
thống, tâm sinh lý, có chung các giá trị vật chất, tinh thần, ổn định trong các thời
Nam năm 2000, khẳng định: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với
nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát
sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau theo luật định [43;12]. Đây là
quan niệm chính thống của nhà nước ta, là cơ sở pháp lý để giải quyết những
vấn đề liên quan đến gia đình nhưng quan niệm này chưa khái quát rõ nét bản
chất quan trọng: gia đình có vai trò to lớn đối với xã hội.
Thực tế cuộc sống gia đình hiện nay với sự phát triển nhanh chóng của
khoa học - công nghệ và trước những biến đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội, đã xuất hiện một số quan niệm khá lạ lùng về gia đình. Ở
phương Tây, nhiều học giả đưa ra những quan niệm mới về gia đình, từ kiểu
“gia đình không con”, “gia đình khiếm khuyết”, đến “gia đình hợp đồng”,
“gia đình đồng tính luyến ái”... Lại có những gia đình chị em chăm nuôi lẫn
nhau, tuy chúng không có bố mẹ nhưng không thể nói là họ không có gia
đình. Còn có những kiểu gia đình không hoàn thiện, như: “gia tình thương”
(do các nhân, hoặc nhóm tìm những trẻ mồ côi đưa về chăm nuôi dạy dỗ), gia
đình “gà trống nuôi con”, “phụ nữ đơn thân nuôi con”... Điều này thể hiện sự
đa dạng, phức tạp của sự biến đổi về hôn nhân và gia đình, những chuẩn mực
của gia đình truyền thống và gia đình hạt nhân đang bị xói mòn trong xã hội.
20
Tuy nhiên đây không phải là những mô hình gia đình phổ biến đối với tất cả
các quốc gia trên thế giới.
Từ thực tế đã phân tích, cần có một định nghĩa gia đình mang tính khái
quát cao, phản ánh được khá đầy đủ nét bản chất đặc trưng về gia đình phù
hợp với lịch sử hình thành và phát triển cùng những biến đổi của gia đình.
Nhưng đây là vấn đề không đơn giản đặc biệt trong xã hội hiện đại, cùng với
sự vận động, biến đổi của xã hội thì các hình thức, kiểu loại gia đình cũng
biến đổi hết sức phức tạp, đa dạng.
Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình, đặc biệt trong giai
trên đất đai” sau chuyển nghĩa sang “vun trồng cho trí óc, vun trồng tin thần,
giáo dục con người”. Theo định nghĩa của từ Hán - Việt “văn hoá” có nghĩa là
“văn trị giáo hoá”, “hoá nhân dịch tục” tức là phải giáo dục cảm hoá con
người để có thể quản lý, điều hành xã hội bằng “văn”. Thông qua nhân nghĩa,
nhân văn coi trọng giáo dục để bình ổn xã hội, tạo lập kỷ cương. Văn hoá
trong từ nguyên của cả phương Đông và phương Tây đều có chung một nghĩa
căn bản là sự giáo hoá, vun trồng nhân cách con người, làm cho con người và
cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.
Trong báo cáo "Văn hóa và sự phát triển của chủ nghĩa Tư bản ở các
trung tâm chính của nó" của tác giả Đỗ Lộc Liệp đã viện dẫn lời nhà Triết
học và cổ sinh học người Pháp - Viện sĩ TeilharDe Chardin (1881 - 1955)
cho rằng sự phát triển của vũ trụ bắt đầu từ khi xuất hiện sự sống đó là sinh
quyển, rồi đến sự xuất hiện tri quyển chỉ có ở loài người; Tri quyển chính là
văn hóa biểu hiện thành “thiên nhiên thứ hai”, “thế giới nhân tạo” của con
người [35; 9].
Theo Đác Uyn thì văn hóa hình thành là do: Thứ nhất, có sự tác động của
chọn lọc tự nhiên, khích lệ, đã tạo thuận lợi cho những người có năng khiếu tinh
thần phát triển, làm cho sự đoàn kết ở cộng đồng thêm chặt chẽ. Thứ hai, nếp
ứng xử mang lại lợi ích cho xã hội được truyền lại cho thế hệ sau.
22
Theo quan niệm của J.Sepanxki, nhà xã hội học Ba Lan thì “văn hóa”
là toàn bộ sản phẩm vật chất và tinh thần của hoạt động người, những hệ
thống giá trị và khuôn mẫu ứng xử được cộng đồng xã hội thừa nhận và
truyền lại cho các cộng đồng người khác và cho các thế hệ tương lai thông
qua các thiết chế xã hội - văn hóa của nó [44; 52].
Các định nghĩa trên đều xem văn hóa là hoạt động sáng tạo tích cực của
con người sống trong một cộng đồng xã hội nhất định. Hoạt động sáng tạo ấy
đã tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần nhằm đáp ứng các nhu cầu tồn
loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp
luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt
hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng
tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là tổng hợp của mọi phương thức
sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích
ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [39; 431].
Qua một số quan niệm trên cho thấy, lao động sáng tạo là cội nguồn,
khởi điểm của văn hóa, nhưng sáng tạo phải hướng về các giá trị nhân bản,
nhằm hoàn thiện con người thì mới trở thành văn hóa đích thực. Định nghĩa
của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về văn hóa thể hiện tinh thần của chủ nghĩa duy
vật biện chứng, đã phản ánh được bản chất của văn hóa chính là hoạt động
sáng tạo của con người trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội. Mặt
khác, trong điều kiện chỗ này, chỗ kia những người Mác xít quan niệm tôn
giáo là đối tượng của cách mạng cần loại trừ ra khỏi đời sống xã hội, Chủ
Tịch Hồ Chí Minh coi tôn giáo chính là văn hóa, là sản phẩm sáng tạo của con
người để “thích ứng với nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Sự
sáng tạo độc đáo và sâu sắc trong định nghĩa về văn hóa của Người thể hiện ở
chỗ Người không chỉ quan tâm đến kết quả của sự sáng tạo mà còn chú ý đến
“phương thức sử dụng” những kết quả đó. Nếu phương thức sử dụng những
24
kết quả đó không đúng sẽ gây ra phản văn hóa. Tư tưởng thể hiện trong định
nghĩa văn hóa của Chủ Tịch Hồ Chí Minh rất gần gũi với định nghĩa của
UNESCO đưa ra tại Hội nghị quốc tế năm 1982 đã nêu ở trên. Mặc dù có
nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa, tuy nhiên chúng ta có thể tìm được
những điểm chung cơ bản như sau:
Thứ nhất, văn hoá là hoạt động sáng tạo của con người trong quá trình
lịch sử, chỉ trình độ con người. Văn hoá biểu hiện ở những hệ giá trị xã hội.
Nói cách khác, văn hoá là toàn bộ sự hiểu biết, kinh nghiệm của con người
xã hội. Nếu không có giáo dục, con người sẽ về trạng thái dã man, mông muội
như động vật. Như vậy, văn hoá chỉ có ở loài người, đó là năng lực học hỏi,
thích ứng, sáng tạo ra những quan niệm, phương thức ứng xử, hệ thống biểu
tượng, thiết chế, thể chế xã hội nhờ đó loài người có thể vận thông với nhau
để tồn tại và phát triển.
Thứ năm, văn hóa trong thời đại ngày nay là nền tảng tinh thần của xã
hội. Trước đây chúng ta thường lý giải cơ sở kinh tế là nền tảng xã hội, trên
cơ sở đó xây dựng kiến trúc thượng tầng trong đó có văn hóa. Vì vậy văn hóa
chịu sự quy định chặt chẽ của nền kinh tế. Tuy nhiên, đời sống xã hội có hai
mặt vật chất và tinh thần, nếu kinh tế là nền tảng vật chất thì văn hóa là nền
tảng tinh thần của đời sống xã hội, và với tư cách như vậy văn hóa vừa là mục
tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Vì thế, sự phát triển của
mỗi quốc gia - dân tộc chỉ có thể trở nên năng động, hiệu quả, bền vững
chừng nào quốc gia đó đạt được sự kết hợp hài hoà giữa kinh tế với văn hoá
trong tiến trình phát triển.
Từ nội dung của văn hoá, ta có thể thấy rằng gia đình là một hiện tượng
văn hoá của con người, xuất hiện và tồn tại vì sự tồn tại và phát triển của con
người. Gia đình biến đổi cùng sự đổi thay của các cộng đồng người trong quá
trình lịch sử văn hoá của các dân tộc, của các quốc gia, các thời đại. Văn hoá là
tiền đề quan trọng trong sự hình thành gia đình và là yếu tố cơ bản của gia đình.