Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường trung học cơ sở ở huyện tam dương tỉnh vĩnh phúc trong giai đoạn hiện nay - Pdf 18

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CHỮ VIẾT TẮT CỤM TỪ VIẾT TẮT
BCH Ban chấp hành
BGH Ban giám hiệu
CBQL Cán bộ quản lý
CMHS Cha mẹ học sinh
CSVC Cơ sở vật chất
ĐVTN Đoàn viên thanh niên
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
GTS Giá trị sống
GV Giáo viên
GVCN Giáo viên chủ nhiệm
HĐNGLL Hoạt động ngoài giờ lên lớp
HS Học sinh
KNS Kỹ năng sống
LHQ Liên hiệp quốc
NXB Nhà xuất bản
PGS.TS Phó Giáo sư, Tiến sỹ
THCS Trung học cơ sở
XHCN Xã hội chủ nghĩa
i
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các ký hiệu viết tắt trong luận văn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng, biểu đồ, hình vii
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Xuất phát từ vai trò của kỹ năng sống, tầm quan trọng của việc giáo
dục kỹ năng sống trong hoàn cảnh xã hội hiện nay
Đất nước ta đang thực sự chuyển mình hòa cùng với thế giới về phát

Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học một cách chu đáo là trang
bị hành trang cho các em sống chủ động, thích ứng, sáng tạo, khẳng định được
vai trò chủ thể trong mọi tình huống của cuộc sống và hoạt động xã hội.
1.2. Thực trạng hiện nay, một bộ phận không nhỏ học sinh chưa xác định
chuẩn xác những giá trị sống chủ yếu cốt lõi, vì vậy họ có những biểu hiện
thái độ, hành vi lệch chuẩn so với yêu cầu của xã hội
Học sinh THCS đang ở tuổi dậy thì, tuổi nổi loạn: bồng bột, hiếu kỳ,
thích bắt chước, thích làm người lớn, muốn bạn bè cùng trang lứa thán phục
nên muốn chơi chội Những đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi học sinh
THCS hành động chưa có suy nghĩ thận trọng, chín chắn, chưa có kinh
nghiệm sống vì vậy giáo dục kỹ năng sống cho các em là rất quan trọng.
Thực tế một bộ phận không nhỏ thanh niên học sinh hiện nay có thói
ích kỷ, chỉ biết hưởng thụ việc chăm lo từ người khác mà không thấy được
vai trò, trách nhiệm, nghĩa vụ phải thương yêu, kính trọng giúp đỡ gia đình,
ông bà, cha mẹ.
Trong nhà trường phổ thông nói chung và trong các trường THCS ở
iii
huyện Tam Dương nói riêng, nhiều học sinh chưa biết quan tâm giúp đỡ đến
những người thân yêu của mình, thờ ơ trong việc xây dựng tập thể. Đặc biệt
có những học sinh sống buông thả, có những biểu hiện hành vi đạo đức xa rời
lối sống, thuần phong mỹ tục đẹp của dân tộc, không chịu học tập, rèn luyện,
không có lý tưởng, hoài bão, ước mơ để rồi không tìm được cho mình một
hướng đi đúng đắn.
1.3. Xuất phát từ thực trạng việc giáo dục kỹ năng sống ở học sinh Trung
học cơ sở hiện nay chưa hiệu quả
Có thể nói việc giáo dục giá trị sống thông qua tích hợp giáo dục
kỹ năng ở một số môn học theo yêu cầu của Bộ GD – ĐT nhưng hiệu quả
rất thấp vì:
- Thầy chưa có hiểu biết, chưa có phương pháp dạy học giáo dục tích
hợp kỹ năng sống vào các môn học, chưa nhận thức thật đầy đủ việc giáo dục

tố con người vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển. Nghị quyết
TW II Khóa VIII đã chỉ rõ: “ Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh
phải có con người phát triển toàn diện, có đạo đức tri thức, sức khỏe thẩm mỹ
và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
hình thành và bồi dưỡng nhân cách phẩm chất và năng lực của công dân đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Hiện nay chúng ta đang đẩy mạnh phong trào “ Xây dựng trường học
thân thiện học sinh tích cực”. Trong đó quan tâm đến giáo dục rèn kỹ năng
sống cho học sinh nhưng chúng ta chưa quan tâm đúng mức đến giáo dục giá
trị sống cho học sinh. Vì vậy, chưa giáo dục đầy đủ phẩm chất nhân cách, mới
chỉ chú ý giáo dục kỹ năng sống, tức là giáo dục hành vi, rèn luyện bên ngoài.
Chính vì vậy học sinh chưa hiểu bản chất của các kỹ năng sống cần thực hiện.
Ví dụ nếu học sinh hiểu giá trị con người phải có lòng nhân ái thì sẽ không có
hiện tượng bạo lực trong học đường; học sinh hiểu được ý nghĩa của trung
thực thì sẽ không có hiện tượng quay cóp.
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Quản
lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Trung học cơ sở ở
v
huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Trên cơ sở lí luận và thực tiễn quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh trường trung học cơ sở ở huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh
phúc, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh các trường THCS huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Xác định cơ sở lý luận về GD kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo
dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh THCS;
3.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh các trường THCS huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
3.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý để nâng cao chất lượng giáo dục kỹ

- Quan sát thực tế.
- Tổ chức tọa đàm, hội thảo theo chuyên đề
- Xin ý kiến chuyên gia
7.3. Phương pháp xử lý dữ liệu nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp toán thống kê
- Sử dụng phần mềm tin học
- Sơ đồ hóa
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1. Ý nghĩa lý luận
- Tổng quan cơ sở lí luận và phát hiện được thực trạng các biện pháp
quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống của các trường THCS.
8.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đề xuất được một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng
quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho các trường THCS huyện Tam
Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, các phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh của các trường Trung học cơ sở.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng
vii
sống cho học sinh trường Trung học cơ sở ở huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh
Phúc trong giai đoạn hiện nay.
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh trường Trung học cơ sở ở huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc trong
giai đoạn hiện nay.
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH CỦA

Tiến hành giáo dục kỹ năng sống là tiếp cận giáo dục quốc tế, đó là
giáo dục con người về môi sinh, giáo dục con người vì hòa bình nhân loại,
giáo dục con người vì cuộc sống chung, vì ngôi nhà chung là thế giới.
Chương trình giáo dục các giá trị sống được triển khai từ một dự án
quốc tế bắt đầu từ năm 1995 do trường Đại học Brahmakumarit thực hiện để
kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Liên hợp quốc(LHQ), nhằm kêu gọi sự chia
sẻ cho một thế giới tốt đẹp hơn, dự án này tập trung vào 12 giá trị sống mang
tính phổ quát, chủ đề được lấy trong lời mở đầu của hiến chương LHQ, khẳng
định lòng tin vào quyền cơ bản của con người, về phẩm chất, nhân cách giá trị
của mỗi người: sáng kiến giáo dục (LVEP: LivingValues-Edducation
Program) ra đời và được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới.
Vào những năm đầu của thế kỷ XXI, với sự hợp tác của các nhà giáo
dục trên thế giới, với sự hỗ trợ của UNESCO và tài trợ của Uỷ ban quốc tế và
UNICEF, Tây Ban Nha đã cho ra đời cuốn sách “Những giá trị sống: Một
chương trình giáo dục”. Chương trình này đưa ra những hoạt động giá trị khác
nhau dựa trên kinh nghiệm và những phương pháp thực hành đối với các giáo
viên và các huấn luyện viên, đối với những trẻ em và những thanh niên muốn
tìm hiểu và phát triển 12 giá trị xã hội và cá nhân cơ bản, đó là: Hợp tác, tự
do, hạnh phúc, trung thực, khiêm tốn, tình yêu, hoà bình, tôn trọng, trách
nhiệm, giản dị, khoan dung và đoàn kết.
ix
Bước vào thế kỷ XXI, khủng hoảng về giá trị đã diễn ra trên toàn cầu
và tại mỗi quốc gia. Tổ chức UNESCO đã có khuyến cáo về vấn đề này và
các quốc gia đều đã có những quan tâm nhất định. UNESCO đã nêu: “Đánh
giá chất lượng giáo dục phải bao hàm đánh giá mức độ đạt được các kỹ năng
sống và tác động của kỹ năng sống đối với xã hội và cá nhân”.
Trên thế giới nhiều ngành khoa học trong đó có Tâm lý học, Giáo dục
học đã chú ý nghiên cứu việc giáo dục giá trị sống cho thế hệ trẻ. Thực tiễn
giáo dục cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI cho thấy chỉ thông qua con đường
giáo dục, giá trị mới có thể tạo nên cơ sở bền vững cho việc giải quyết khủng

trong nhận thức đạo đức của học sinh vừa là hậu quả, vừa thể hiện vấn đề lớn:
“Học sinh hiện nay không được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết
để ứng phó thích đáng với các biến cố đến từ các yếu tố ngoại cảnh cũng như
các biến động xuất phát từ chính tâm sinh lý của các em”. Tức là các em thiếu
kỹ năng sống.
Trong khoảng mười năm trở lại đây, các đề tài nghiên cứu, hội thảo,
báo chí lại dấy lên “phong trào” nghiên cứu giá trị sống. Khi đề cập giá trị
sống là muốn nói đến những giá trị thiết thực cho cuộc sống của từng cá nhân
con người đang sống, hoạt động, gắn liền với kỹ năng sống, giúp người ta
sống và làm việc hiệu quả hơn cho cá nhân và xã hội.
Với nhiều năm nghiên cứu, nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh
Thị Kim Thoa, Trần Văn Tính, Vũ Phương Liên đã cho ra đời cuốn sách “
giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông”.
Cuốn sách được viết lồng ghép giữa giáo dục giá trị sống (GTS) và KNS,
trong đó giáo dục GTS luôn là nền tảng, KNS là công cụ và phương tiện để
tiếp nhận và thể hiện giá trị sống. Đây là những tiền đề đưa công tác giáo dục
giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông vào các nhà
trường mạnh mẽ, mang lại hiệu quả tích cực, góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
xi
hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Một trong những người có những nghiên cứu mang tính hệ thống về kỹ
năng sống và giáo dục KNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình. Tác
giả và cộng sự đã triển khai nghiên cứu tổng quan về quá trình nhận thức về
kỹ năng sống và đề xuất yêu cầu tiếp cận kỹ năng sống trong giáo dục và giáo
dục KNS ở nhà trường phổ thông, đồng thời tìm hiểu thực trạng giáo dục
KNS cho người học từ trẻ mầm non đến người lớn thông qua giáo dục chính
quy và giáo dục thường xuyên ở Việt Nam. Trên cơ sở đó xác định thách thức
và định hướng trong tương lai để đẩy mạnh giáo dục KNS trên cơ sở thực tiễn

hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong một nhà trường THCS cụ thể.
Chính vì vậy tác giả chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh trường Trung học cơ sở ở huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh
Phúc trong giai đoạn hiện nay” với mong muốn đây là sự kế thừa cần thiết
các nghiên cứu đi trước, cùng góp phần thêm công sức và sự vận dụng hệ
thống lý luận quản lý giáo dục nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện cho học sinh cấp THCS trong trường THCS Vân Hội cũng như các
trường THCS khác trên địa bàn huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
1.2. Một số khái niệm công cụ
1.2.1. Quản lý và Quản lý giáo dục
1.2.1.1. Quản lý
Khái niệm “quản lý” được hình thành từ rất lâu và cùng với sự phát
triển của tri thức nhân loại cũng như nhu cầu của thực tiễn, nó được xây dựng
và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn. Quản lý được hiểu bằng nhiều cách
khác nhau và được định nghĩa ở nhiều khía cạnh khác nhau trên cơ sở những
quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau:
- Cách tiếp cận theo thực tiễn: Trên cơ sở phân tích sự quản lý bằng
cách nghiên cứu kinh nghiệm thông thường qua các trường hợp cụ thể. Từ
việc nghiên cứu những trường hợp thành công hoặc thất bại, sai lầm ở các
trường hợp cá biệt của những người quản lý cũng như những dự định của họ
xiii
để giải quyết những vấn đề đặc trưng, để từ đó giúp họ hiểu được phải làm
như thế nào để quản lý có hiệu quả trong những hoàn cảnh tương tự.
- Cách tiếp cận theo lý thuyết hệ thống: Cách tiếp cận này cho phép xem
xét các hoạt động quản lý như một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm những yếu tố
và mối liên hệ tương tác giữa các nhân tố để đạt được mục tiêu đã xác định.
- Cách tiếp cận theo thuyết hành vi: Dựa trên những ý tưởng cho rằng
quản lý là làm cho công việc hoàn thành thông qua con người. Do vậy việc
nghiên cứu nên tập trung vào mối quan hệ giữa người với người. Đây là
trường hợp phải tập trung vào khía cạnh con người trong quản lý, vào niềm

tuyển chọn, sắp xếp, bồi dưỡng cán bộ làm cho mục tiêu trở nên có ý nghĩa,
tăng tính hiệu quả về mặt tổ chức.
- Chức năng chỉ đạo: Chỉ dẫn, vận động, điều chỉnh và phối hợp với các
lực lượng tích cực, chủ động theo sự phân công như kế hoạch đã định.
- Chức năng kiểm tra, đánh giá: Chức năng liên quan đến mọi cấp quản
lý để đánh giá kết quả hoạt động của hệ thống. Nó thực hiện việc xem xét tình
hình thực hiện công việc đối chiếu với yêu cầu để có đánh giá đúng đắn.
Các chức năng quản lý tạo thành một hệ thống thống nhất với một trình
tự nhất định, trong đó từng chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có
mối quan hệ phụ thuộc với chức năng khác. Quá trình ra quyết định quản lý là
quá trình thực hiện các chức năng quản lý theo một trình tự nhất định. Việc bỏ
qua hoặc coi nhẹ bất cứ một chức năng nào đều có tác động xấu đến quá trình
và hiệu quả của quản lý.
1.2.1.2. Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi
những mục đích của mình. Giống như khái niệm “quản lý” đã trình bày ở
trên, khái niệm “quản lý giáo dục ” cũng có nhiều quan niệm khác nhau.
Quản lí giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp
các lực lượng xã hội nhằm đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.
Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục
xv
không giới hạn ở thế hệ trẻ mà còn cho mọi người; tuy nhiên, trọng tâm vẫn là
giáo dục thế hệ trẻ, cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ
thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Quản lí giáo dục cũng được hiểu là tác động có hệ thống, có kế hoạch,
có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục
đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và
vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quản lý
giáo dục, sự phát triển tâm lý, thể lực của trẻ em.
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì cho rằng: “quản lý giáo dục thực chất là

quan quản lý trong các nhà trường.
Mục tiêu quản lý của nhà trường được cụ thể hóa trong nhiệm vụ
năm học, tập trung vào việc phát triển toàn diện nhân cách của HS. Để
thực hiện được mục tiêu này thì người hiệu trưởng phải tiến hành các hoạt
động quản lý.
Công tác quản lý trong nhà trường bao gồm quản lý các hoạt động
diễn ra trong nhà trường và sự tác động qua lại giữa nhà trường với các
hoạt động ngoài xã hội. Quản lý nhà trường như là quản lý một hệ thống
bao gồm các thành tố:
Thành tố tinh thần; mục đích giáo dục, nội dung giao dục, các kế
hoạch, biện pháp giáo dục.
Thành tố con người; cán bộ giáo viên, nhân viên và học sinh
Thành tố vật chất; Cơ sở vật chất, tài chính, các trang thiết bị, phương
tiện phục vụ giảng dạy và học tập.
Trọng tâm quản lý nhà trường phổ thông là quản lý các hoạt động giáo
dục diễn ra trong nhà trường và các quan hệ giữa nhà trường với xã hội trên
những nội dung sau đây;
- Quản lý hoạt động dạy học.
- Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
- Quản lý hoạt động lao động và hướng nghiệp
xvii
- Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
- Quản lý hoạt động học tập ngoài giờ lên lớp
- Quản lý hoạt động xã hội của nhà trường, hoạt động của đoàn thể
- Quản lý tài chính và quản lý sử dụng cơ sở vật chất.
Tóm lại, quản lý nhà trường là việc người hiệu trưởng xây dựng mục
tiêu, kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện kiểm tra đánh giá các kết quả đạt
được so với yêu cầu chuẩn mực đề ra trong chương trình giáo dục và nhiệm
vụ năm học về chất lượng phát triển toàn diện nhân cách HS.
1.2.3. Giá trị sống, kỹ năng sống, giáo dục kỹ năng sống

định hướng cho cuộc sống của mỗi cá nhân, điều chỉnh hành vi cho phù hợp
với chuẩn mực của xã hội [25].
Giá trị sống có ý nghĩa và vai trò quan trọng tạo ra động lực thúc đẩy
con người phát triển: tạo ra động cơ cho hành động, hành vi; thúc đẩy ham
muốn hướng đến chân, thiện, mỹ; giải quyết tốt những mâu thuẫn của cá nhân
với cộng đồng, với tự nhiên
1.2.3.2. Kỹ năng sống
“Kỹ năng” là khả năng thao tác, thực hiện một hoạt động nào đó.
Kỹ năng sống (life skills) là cụm từ được sử dụng rộng rãi nhằm vào
mọi lứa tuổi trong mọi lĩnh vực hoạt động.
Kỹ năng sống là những kỹ năng cần có cho hành vi lành mạnh, tích cực
cho phép mỗi cá nhân đối mặt với những thức thách của cuộc sống hàng ngày.
Hiện nay có khá nhiều khái niệm về kỹ năng sống (KNS), tuỳ từng góc
nhìn khác nhau người ta có những khái niệm về KNS khác nhau, chẳng hạn:
xix
- Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): KNS là những kỹ năng thiết
thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn, khoẻ mạnh. Đó là những
kỹ năng mang tính tâm lí xã hội và kỹ năng giao tiếp được vận dụng trong
những tình huống hàng ngày để tương tác một cách có hiệu quả với người
khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc
sống hàng ngày.
- Theo PGS. TS Nguyễn Thanh Bình – Viện NCSP – Trường ĐHSP Hà
Nội: kỹ năng sống là năng lực, khả năng tâm lý - xã hội của con người có thể
ứng phó với những thách thức trong cuộc sống, giải quyết các tình huống một
cách tích cực và giao tiếp có hiệu quả.
- Theo UNICEF, giáo dục dựa trên kỹ năng sống cơ bản là sự thay đổi
trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến
thức, thái độ, hành vi. Ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyển đổi kiến thức
(phải làm gì) và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào, hay tin tưởng
vào giá trị nào) thành hành động (làm gì, và làm như thế nào).

bị lôi kéo, vững vàng trước những áp lực tiêu cực của cuộc sống đương đại
Thông qua hoạt động giáo dục kỹ năng sống, học sinh được rèn luyện
năng lực tư duy, chất lượng các môn học cũng như chất lượng giáo dục toàn
diện của nhà trường được nâng lên.
KNS không phải là năng lực cá nhân bất biến trong mọi thời đại, mà là
những năng lực thích nghi cho mỗi thời đại mà cá nhân đó sống. Bởi vậy,
KNS vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính dân tộc – quốc gia, vừa mang
tính xã hội – toàn cầu. Từ những khái niệm trên, KNS trong phạm vi lứa tuổi
học sinh THCS thường gắn liền với phạm trù kiến thức, kỹ năng và thái độ
mà học sinh được rèn luyện trong quá trình giáo dục. Tổng hợp kết quả giáo
dục từ bài học trên lớp và từ những hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
(NGLL), học sinh hình thành được một số kỹ năng sống phù hợp như: Kỹ
năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra
quyết định, kỹ năng kiên định, kỹ năng đặt mục tiêu,… Những kỹ năng này
xxi
bao giờ cũng gắn với một nội dung giáo dục nhất định như: giáo dục bảo vệ
môi trường, giáo dục lòng nhân ái, giáo dục truyền thống tôn sư trọng đạo,
uống nước nhớ nguồn, giáo dục sống an toàn, khoẻ mạnh…
Có hai cách tiếp cận trong giáo dục kỹ năng sống:
- Các hoạt động tập trung vào kỹ năng cốt lõi như kỹ năng tự nhận
thức, kỹ năng giao tiếp ứng xử Theo cách này, bằng hoạt động với chủ đề
kỹ năng cụ thể, người học sẽ hiểu về kỹ năng sống đó và vận dụng để giải
quyết các tình huống
- Mỗi kỹ năng gắn với một vấn đề nảy sinh trong cuộc sống và cần vận
dụng những kỹ năng khác nhau để giải quyết.
1.3. Hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong giáo dục học sinh Trung
học cơ sở
1.3.1. Vai trò của giáo dục kỹ năng sống đối với học sinh Trung học cơ sở
Chúng ta đều biết: cuộc sống luôn tạo ra những khó khăn để thử thách
con người vượt qua, những mất mát để con người biết yêu quý những gì đang

Giáo dục kỹ năng sống là trang bị cho học sinh những KNS cơ bản,
giúp các em vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng được những cơ hội quý
giá trong cuộc sống, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội.
Giáo dục kỹ năng sống giúp học sinh có hiểu biết sâu sắc hơn về động
cơ và trách nhiệm có liên quan tới những sự lựa chọn của cá nhân và xã hội
một cách tích cực, trở nên mạnh dạn, cởi mở và tự tin hơn.
Học sinh biết kiềm chế, giải quyết vấn đề theo hướng tích cực, không
bị lôi kéo, vững vàng trước những áp lực tiêu cực của cuộc sống đương đại.
Thông qua hoạt động giáo dục kỹ năng sống, học sinh được rèn luyện
năng lực tư duy, chất lượng các môn học cũng như chất lượng giáo dục toàn
diện của nhà trường được nâng lên.
1.3.2. Ý nghĩa của giáo dục kỹ năng sống đối với học sinh Trung học cơ sở
hiện nay
Giáo dục KNS là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, xây
xxiii
dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực
trên cơ sở giúp HS có thái độ, kiến thức, kỹ năng, giá trị cá nhân thích hợp
với thực tế xã hội.
Giáo dục KNS còn mang ý nghĩa tạo nền tảng tinh thần để học sinh đối
mặt với các vấn đề từ hoàn cảnh, môi trường sống cũng như phương pháp
hiệu quả để giải quyết các vấn đề đó. Bởi giáo dục KNS chính là định hướng
cho các em những con đường sống tích cực trong xã hội hiện đại trong ba mối
quan hệ cơ bản: con người với chính mình; con người với tự nhiên; con người
với các mối quan hệ xã hội. Nắm được KNS, các em sẽ biết chuyển dịch kiến
thức – “cái mình biết” và thái độ, giá trị - “cái mình nghĩ, cảm thấy, tin
tưởng”… thành những hành động cụ thể trong thực tế - “làm gì và làm cách
nào” là tích cực và mang tính chất xây dựng. Tất cả đều nhằm giúp các em
thích ứng được với sự phát triển nhanh như vũ bão của khoa học công nghệ
và vững vàng, tự tin bước tới tương lai. Cụ thể là:
- Trong quan hệ với chính mình: Giáo dục KNS giúp HS biết gieo

truyền thống của dân tộc, biết tiếp thu những giá trị tinh hoa văn hóa của nhân
loại, củng cố mở rộng kiến thức đã học với đời sống thực tiễn, củng cố các kỹ
năng, hình thành và phát triển các năng lực chủ yếu. (Năng lực tự hoàn thiện,
năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp ứng xử, năng lực tổ chức, quản lý, hợp
tác và cạnh tranh, năng lực hoạt động chính trị xã hội ), giải quyết tốt các vấn
đề của cuộc sống, biết chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân. Nói cách
khác: Mục tiêu cơ bản của giáo dục KNS là làm thay đổi hành vi của HS,
chuyển từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, dẫn đến hậu quả tiêu cực thành
những hành vi mang tính xây dựng tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất
lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển xã hội bền vững.
1.3.3.2. Nội dung quản lý hoạt động giáo dục KNS trong trường THCS
Hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THCS là một công việc quan
trọng và rất khó khăn. Để quản lý tốt hoạt động giáo dục KNS trong nhà
trường cần chú ý những nội dung sau:
xxv


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status