1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam, người Ma Coong là một nhóm địa phương của dân tộc Bru-Vân Kiều, cư trú chủ yếu tại
19 bản làng nằm rải rác dọc biên giới Việt - Lào, thuộc hai xã Thượng Trạch và Tân Trạch, huyện Bố Trạch,
tỉnh Quảng Bình.
Cho đến nay, trong khi ở nhiều cộng đồng lân cận khác như người Vân Kiều, Khùa, Trì, A Rem…,
hình ảnh chủ đất/chủ xứ của họ rất mờ nhạt, thậm chí không tồn tại mà chỉ còn là các câu chuyện kể, thì ở
cộng đồng người Ma Coong nơi đây, đang tồn tại ngôi vị “chủ đất/chủ xứ” và đi kèm với nó những ảnh
hưởng lớn của người này tới cộng đồng.
Nhiều câu hỏi được đặt ra: Chủ đất của người Ma Coong là ai? Họ được hình thành và nối truyền như
thế nào? Chủ đất có vị trí, vai trò gì trong đời sống và thiết chế xã hội truyền thống cũng như hiện tại? Trong
bối cảnh hiện nay, sự tương tác trong các mối quan hệ ấy chịu tác động như thế nào bởi các chủ trương,
chính sách của Nhà nước cùng với sự vào cuộc của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội? Niềm tin và sự
nhìn nhận, đánh giá của cộng đồng đối với ông chủ đất…? Đây là lý do để tôi chọn đề tài: “Chủ đất trong
cộng đồng người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình” làm đề tài luận án tiến sĩ Nhân học văn
hóa của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
2
- Tìm hiểu về sự hình thành và đặc điểm người chủ đất cũng như cơ sở duy trì, trao truyền chức chủ
đất trong cộng đồng người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình;
- Làm rõ vị trí, vai trò và sự đóng góp của người chủ đất trong việc ổn định và phát triển kinh tế - xã
hội, văn hóa ở cộng đồng người Ma Coong trước đây cũng như hiện nay;
- Đề xuất kiến nghị nhằm phát huy vai trò của người chủ đất để ổn định và phát triển cộng đồng người
Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là người chủ đất trong cộng đồng của người Ma Coong - một
nhóm địa phương của dân tộc Bru-Vân Kiều.
Phạm vi địa bàn nghiên cứu được chọn chủ yếu là hai xã Thượng Trạch và Tân Trạch thuộc huyện Bố
Trạch, tỉnh Quảng Bình.
4. Nguồn tư liệu nghiên cứu
của một số tộc người thiểu số ở Việt Nam, trong đó có người Ma Coong. Đáng chú ý là bài viết Đôi nét về tổ
chức trên làng của người Chứt và người Bru-Vân Kiều ở Quảng Bình của tác giả Tạ Long và Ngô Thị
Chính. Bài viết đã đề cập đến chức năng, quyền lợi của chủ đất/chủ xứ. Tuy nhiên, nghiên cứu của hai tác giả
nói trên và một số ấn phẩm khác khi bàn về chủ đất vẫn còn khá sơ lược, chưa có những nghiên cứu chuyên
biệt.
1.2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản
Một số khái niệm được đề cập: Chủ đất, Cộng đồng, Dòng họ, Già làng, Hội đồng già làng, Văn hóa
truyền thống.
1.2.2. Cơ sở lý thuyết
5
Một số lý thuyết được sử dụng trong luận án đó là: Thuyết đặc thù lịch sử, Thuyết chức năng, Thuyết
cấu trúc nghi lễ.
1.2.3. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận án, tác giả luận án chủ yếu sử dụng hệ thống phương pháp nghiên cứu Nhân học,
trong đó ưu tiên hàng đầu là điền dã dân tộc học với sự kết hợp của các công cụ chủ yếu sau: quan sát trực
tiếp, quan sát tham gia, phỏng vấn sâu cá nhân, thảo luận nhóm tập trung.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp chuyên gia để trao đổi ý kiến; sử dụng phương pháp nghiên
cứu liên ngành, các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, đối chiếu để xử lý tư liệu và viết
luận án.
Tiểu kết chương 1
Có thể nói, đến nay vẫn còn khuyết những khoảng trống nghiên cứu về nhóm người Ma Coong nói
chung và chủ đất trong cộng đồng này nói riêng.
Để làm rõ bản chất, vai trò của chủ đất trong đời sống xã hội - văn hóa của người Ma Coong ở huyện
Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, luận án đã dựa vào một số lý thuyết phù hợp cơ bản như Thuyết đặc thù lịch sử,
Thuyết chức năng, Thuyết cấu trúc nghi lễ.
6
Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả đã sử dụng hệ thống phương pháp nghiên cứu Dân tộc
học/Nhân học, trong đó ưu tiên hàng đầu là điền dã dân tộc học và kết hợp với một số phương pháp liên
ngành để thu thập và phân tích tư liệu.
đầu - người có vai trò quyết định đối với việc lựa chọn vùng đất định cư cho mọi người cùng cộng đồng,
8
trong đó có cá nhân và gia đình của người cầm đầu - người chủ đất và dòng họ chủ đất. Người Ma Coong có
khoảng 20 dòng họ; trong đó, Noi Senl là dòng họ chủ đất duy nhất. Để duy trì chức chủ đất từ đời này sang
đời khác, người Ma Coong có những quy định, cách thức nối truyền riêng.
2.2.2. Chức năng, quyền lợi và một số vấn đề liên quan đến chủ đất
- Chủ đất là người tổ chức và thực hành các nghi lễ tín ngưỡng mang tính cộng đồng mà đối tượng
cúng tế là Giàng (trời).
- Chủ đất có vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quy định (thường là luật tục) và chỉnh sửa, bổ
sung các quy định đó nhằm duy trì sự ổn định của cộng đồng.
- Quyền lợi chủ đất được hưởng không nhiều hơn so với quyền lợi của những người khác trong cộng
đồng. Chủ đất cũng phải lao động, làm rẫy như những người dân bình thường mà không được nhận khoản
thù lao nào từ cộng đồng của họ.
- Chủ đất cũng có gia đình riêng của mình, sinh con đẻ cái như những người Ma Coong bình thường
khác. Tuy nhiên, khác với những người thường dân, người chủ đất phải tuân thủ nghiêm ngặt những kiêng
kỵ nhất định. Đáng chú ý nhất là những kiêng kỵ liên quan đến việc cúng tế trong các sinh hoạt văn hóa cộng
đồng.
2.3. Dòng họ chủ đất - cơ sở trao truyền và duy trì chủ đất
2.3.1. Mối liên hệ giữa chủ đất và dòng họ chủ đất
9
Chủ đất phải là trưởng dòng họ chủ đất (Senl), là anh em trai, con cháu trai của người chủ đất trong
vòng ba đời.
2.3.2. Hình thức trao truyền chủ đất trong dòng họ chủ đất
Chức chủ đất được truyền lại cho người chủ đất kế tiếp chủ yếu trong hai trường hợp sau: 1) Chủ đất
đương chức bị chết; và 2) Chủ đất đương chức già yếu, đau ốm kéo dài, bị giảm sút uy tín Khi chuyển giao
chức chủ đất, dòng họ chủ đất thực hiện các nghi thức rất nghiêm ngặt theo đúng phong tục của dân tộc.
Tiểu kết chương 2
Có thể nói, mặc dù đời sống hiện tại của người Ma Coong đã cải thiện nhiều, song, ở vùng họ vẫn
chưa thực sự phát triển kinh tế hàng hóa từ nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, bởi tư duy kinh tế tự cấp
vẫn chi phối người dân.
Theo các tài liệu liên quan đến chủ trương giao đất, giao rừng của huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, từ
năm 2005, huyện đã có chủ trương giao đất, giao rừng cho người dân. Tuy nhiên, cho đến năm 2013, các chủ
trương ấy ở cộng đồng người Ma Coong vẫn chưa được thực hiện. Các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận
nhóm người dân Ma Coong nơi đây cho thấy, họ chưa có khái niệm về cấp đất và sở hữu đất; đồng thời, họ
cũng chưa bao giờ nhận được các loại giấy tờ liên quan đến quản lý và quyền sử dụng đất, tài nguyên rừng
như sổ đỏ, sổ xanh Thay vào đó, người Ma Coong vẫn quản lý rừng và các tài nguyên từ rừng dựa trên luật
tục của họ.
Thông qua Giàng, các quy định về quản lý, sử dụng tài nguyên đã được “thiêng hóa”. Chủ đất coi như
người của Giàng, có khả năng thông quan với Giàng nên đã tạo cho ông ta uy quyền trong quản lý, sử dụng
tài nguyên. Hiện nay người Ma Coong vẫn tôn trọng gọi chủ đất là a chuôi gieng (người của Giàng). Bên
cạnh đó, cho đến nay người dân vẫn cho rằng, rừng đầu nguồn, rừng thiêng, suối cấm… nơi mà họ cư trú
đang thuộc về Giàng. Như vậy, ông chủ đất của người Ma Coong đang có sự ảnh hưởng - vai trò gián tiếp
trong quản lý tài nguyên rừng ở cộng đồng này.
3.1.4. Săn bắt, hái lượm và những quy định/luật tục có liên quan
Vai trò của chủ đất thể hiện rõ trong việc đưa ra các quy định và tổ chức giám sát việc khai thác, đánh
bắt các sản vật từ thiên nhiên, góp phần cải thiện đời sống nhưng vẫn đảm bảo tính bền vững. Điều này càng
13
có ý nghĩa với người Ma Coong, khi đời sống của họ cơ bản còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên và chưa có
các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp đáng kể như trao đổi các sản vật rừng, đan lát với bên ngoài.
3.1.5. Vai trò của chủ đất trong việc đi đầu trong một số mô hình kinh tế ở địa phương hiện nay
Với sự nhạy bén và trách nhiệm của mình, biết được tiềm năng của địa phương, chủ đất Ma Coong
luôn tìm tòi, đi tiên phong trong một số hoạt động kinh tế: trồng các cây giống mới, nuôi các con vật giống
mới, trao đổi mua bán với bên ngoài Điều này đã tác động đến sự thay đổi tư duy của cộng đồng vốn trước
đây cuộc sống của họ chỉ dựa vào tự nhiên, mang tính tự cung tự cấp và chưa có khái niệm làm giàu Chủ
đất đã góp phần vào công tác xóa đói, giảm nghèo, làm giàu chính đáng, giải quyết nhiều việc làm cho con
em đồng bào dân tộc tại chỗ.
3.1.6. Vai trò của chủ đất trong duy trì các nghi lễ, hình thức tương trợ liên quan đến các hoạt
động sinh kế
Việc trồng trọt của người Ma Coong cho đến nay chủ yếu vẫn canh tác nương rẫy với các sản phẩm là
lúa nếp, ngô, sắn Để đảm bảo cho việc sản xuất và thu hoạch thành công, người Ma Coong đã gửi gắm
trong cuộc sống của người dân Ma Coong.
Chủ đất, các già làng cho đến nay vẫn có vai trò quan trọng đối với việc góp phần ổn định và phát
triển xã hội của người Ma Coong trong thời kỳ đổi mới và hội nhập: việc giải quyết nhiều vụ việc vẫn đang
phải dựa vào các già làng, trưởng họ và khi cần thiết phải cần sự hỗ trợ đến ông chủ đất, nhất là các công
việc vận động người dân thực hiện các chủ trương, chính sách của cấp trên; các hoạt động về giữ gìn vệ sinh,
môi trường trong cộng đồng, lao động công ích, sửa chữa và phát quang đường sá, vận động con em đến
trường Đặc biệt, những sự việc như mâu thuẫn giữa các gia đình hoặc dòng họ, giữa các bản; tranh chấp
rẫy hay một số vấn đề khác đều rất nhạy cảm đối với đồng bào; do vậy, để xử lý, giải quyết triệt để, cần phải
có sự phối hợp, vào cuộc của các già làng, trưởng họ, nhất là chủ đất.
Tiểu kết chương 3
16
Có thể nói, thông qua các thần Giàng, các quy định, luật tục về quản lý và sử dụng tài nguyên đã
được người Ma Coong “thiêng hóa”. Chính điều này đã được cộng đồng thực hiện với tinh thần tự nguyện,
làm cho vai trò của chủ đất ngày càng quan trọng trong các hoạt động sản xuất, khai thác các sản vật từ thiên
nhiên, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống người dân nhưng vẫn đảm bảo tính bền vững.
Trong bối cảnh mới, bên cạnh chính quyền địa phương với bộ máy điều hành bằng cơ chế nhà nước, ở
cộng đồng người Ma Coong vẫn tồn tại các mối quan hệ, ứng xử mang tính tập tục. Về cơ bản, các tập tục tốt
đẹp này không mâu thuẫn với những quy định có tính pháp luật; trái lại, chúng có giá trị bổ sung, hỗ trợ khi
giải quyết các vụ việc nảy sinh trong cuộc sống của người dân. Điều đó cho thấy, chủ đất, các già làng, thày
cúng ở người Ma Coong hiện nay vẫn có vai trò quan trọng trong việc góp phần ổn định và phát triển xã hội
người Ma Coong trong thời kỳ hội nhập. Có thể nói, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, chủ đất của người Ma
Coong luôn tỏ rõ những tố chất của người thủ lĩnh, luôn cố gắng, tiên phong trong nhiều lĩnh vực, nhất là
trong các hoạt động kinh tế, giáo dục
Chương 4
CHỦ ĐẤT VỚI VIỆC DUY TRÌ CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG Ở CỘNG ĐỒNG MA
COONG
Trong chương này, tác giả luận án chỉ đề cập đến một số sinh hoạt văn hóa cộng đồng điển hình vốn
hội tụ và phản ánh những tinh hoa và giá trị văn hóa truyền thống của nhóm tộc người.
17
Trong các sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người Ma Coong, lễ hội đập trống và lễ tế trâu là hai
cố kết cộng đồng, thể hiện bản lĩnh, bản sắc văn hoá tộc người.
4.2.1. Biểu tượng trống trong lễ hội và trong đời sống của người Ma Coong
Nghiên cứu chỉ ra rằng: trống biểu dương sức mạnh và cố kết cộng đồng; thể hiện bản lĩnh, bản sắc
văn hóa tộc người. Mục đích chính của lễ hội đập trống là cầu may, cầu mùa, cầu sinh sôi Trống là tài sản
chung của cả cộng đồng bởi nó là sản phẩm của sức lao động của cả cộng đồng; qua đó cũng thể hiện tình
19
đoàn kết của cộng đồng Ma Coong. Lễ hội đập trống và nỗ lực đập vỡ trống của những người tham gia lễ hội
thể hiện khao khát duy trì nét văn hóa độc đáo của dân tộc cũng như hướng tới tương lai của họ.
4.2.2. Các giá trị khác
Có thể nói, tất cả những gì được thể hiện trong những sinh hoạt văn hóa cộng đồng Ma Coong đã
mang lại nhiều giá trị như: giá trị cộng đồng, giá trị hướng về cội nguồn, giá trị cân bằng đời sống tâm linh,
giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hoá, giá trị bảo tồn Các nghi thức cộng đồng luôn góp phần nhắc nhở
các thành viên trong gia đình, dòng họ, cộng đồng làng bản về nguồn gốc, tổ tiên, các mối quan hệ và các
cách ứng xử Điều đó có ý nghĩa rất quan trọng trong giáo dục nhân cách và bồi dưỡng ý thức nguồn cội,
tinh thần gắn kết cộng đồng
Ngoài ra, lễ hội đập trống và lễ tế trâu còn để người Ma Coong tỏ lòng tôn kính, thân thiện với các
thần linh Đặc biệt, các sinh hoạt văn hóa cộng đồng ấy còn là nơi chứa đựng, thể hiện gần như tất cả các
loại hình nghệ thuật truyền thống của người Ma Coong; sử dụng hầu hết các loại nhạc cụ dân gian của cộng
đồng như trống, chiêng, thanh la, chiêng núm, đàn lồ ô phản ánh được phần lớn các giá trị văn hoá - nghệ
thuật độc đáo của người Ma Coong.
Tiểu kết chương 4
20
Qua các tư liệu và chuyện kể, hình ảnh ông chủ đất và dòng họ chủ đất luôn gắn liền với những dấu ấn
trong quá trình hình thành nên các hoạt động sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người Ma Coong, chứng tỏ
chủ đất có vai trò rất lớn đối với việc tạo ra những hoạt động văn hóa mang tính cộng đồng.
Cả lễ hội đập trống và lễ tế trâu đều là nơi hội tụ, thể hiện và duy trì nhiều giá trị văn hóa truyền thống
của người Ma Coong. Những nét văn hóa được thể hiện trong công tác tổ chức và quản lý xã hội; mối quan
hệ, ứng xử giữa con người với con người và giữa con người với các lực lượng siêu nhiên; các loại hình nghệ
thuật, diễn xướng truyền thống; các trò chơi dân gian Đây là những dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng tiêu
biểu, thể hiện rõ cốt cách, phong tục tập quán, quan niệm về thế giới thần linh, đặc điểm tín ngưỡng cũng
5.2. Bàn luận
Những điều cần bàn luận ở đây chính là vai trò của chủ đất người Ma Coong trong bối cảnh hiện nay
dưới sự tương tác, tác động bởi các chủ trương và chính sách của Nhà nước, nhất là sự nhìn nhận của các cấp
chính quyền đối với vai trò chủ đất, niềm tin của người dân đối với chủ đất và dòng họ chủ đất Đây là
những vấn đề liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống - xã hội của cộng đồng Ma Coong nơi đây, và
cũng là mối quan tâm chung của các cấp, các ngành đối với việc quản lý tài nguyên thiên nhiên, an ninh biên
giới, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống
5.2.1. Vấn đề tiếp tục phát huy vai trò chủ đất người Ma Coong trong việc duy trì sự ổn định xã hội
và an ninh biên giới
Những ảnh hưởng của chủ đất cũng như việc ông ta dựa vào các mối quan hệ truyền thống để quản lý
và ứng xử với người dân Ma Coong trong bối cảnh hiện nay, về cơ bản, không gây trở ngại hay mâu thuẫn
23
mà còn hỗ trợ rất hiệu quả khi giải quyết một số vấn đề nói trên dựa trên cơ sở của pháp luật. Vì vậy, nếu có
sự phối hợp hài hòa giữa chính quyền địa phương với ông chủ đất cũng như có những chính sách, động viên
kịp thời cho ông chủ đất, chắc chắn sẽ phát huy được vai trò của ông trong việc góp phần duy trì sự ổn định
chính trị - xã hội ở cộng đồng người Ma Coong huyện Bố Trạch.
5.2.2. Vấn đề tiếp tục phát huy vai trò của chủ đất người Ma Coong trong việc bảo tồn các giá trị
văn hóa truyền thống
Cộng đồng Ma Coong hiện nay vẫn rất tôn trọng ông chủ đất, luôn chấp hành tốt các quy định, luật tục
mà ông chỉnh sửa cho phù hợp với bối cảnh cuộc sống và nhận thức người dân dần được nâng cao. Tuy
nhiên, 10 hoặc 15 năm nữa điều gì sẽ xảy ra với các khu rừng nguyên sinh ở vùng người Ma Coong, kể cả
những giá trị văn hóa hội tụ trong các hoạt động sinh hoạt lễ hội của cộng đồng người này, nếu niềm tin của
người Ma Coong về quyền uy của các đấng thần linh, về ông chủ đất - chủ tế lễ không còn tồn tại hoặc bị
giảm sút? Ông chủ đất và dòng họ chủ đất do nhiều nguyên nhân không đứng ra tổ chức, duy trì thực hành
các nghi thức trong các sinh hoạt văn hóa cộng đồng này? Đây là những vấn đề chúng ta cần suy ngẫm, dự
báo hệ quả của sự tác động và sớm có những giải pháp thích hợp.
5.3. Một số kiến nghị nhằm phát huy vai trò chủ đất trong ổn định, phát triển cộng đồng người
Ma Coong trong giai đoạn hiện nay
1. Cần có những chính sách hỗ trợ và đãi ngộ thích đáng đối với ông chủ đất và những đóng góp của
ông.
Đến nay đã có không ít bài viết, ấn phẩm của nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập đến dân tộc
Bru-Vân Kiều. Song, người Ma Coong - một nhóm địa phương của dân tộc Bru-Vân Kiều, đặc biệt là vai trò
người thủ lĩnh của họ trong việc ổn định và phát triển cộng đồng, rất hiếm được nghiên cứu.
Ở nước ta hiện nay, người Ma Coong có khoảng 400 hộ với 1.950 khẩu, cư trú chủ yếu tại 19 bản rải
rác dọc biên giới Việt - Lào, thuộc hai xã Thượng Trạch và Tân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về tên gọi, thời gian xuất hiện và địa bàn cư trú của các nhóm
địa phương của dân tộc Bru-Vân Kiều, trong đó có người Ma Coong. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, các