thiên hướng tình dục - Pdf 13

Thiên Hướng Tình Dục
George D. Zgourides, Bác Sĩ.
Christie S. Zgourides, Thạc Sĩ.
Dịch viên: Nguyễn Hồng Trang
Không còn nghi ngờ gì nữa, thiên hướng tình dục - đặc biệt khi chúng ta nói về đồng tính
luyến ái và ái nam ái nữ - là chủ đề được thảo luận sôi nổi ngày nay. Phong trào đòi
Quyền cho người Đồng tính Nam. Giải phóng người Đồng tính Nam. Lòng tự trọng của
những người Đồng tính nam. Lực Lượng Đặc Nhiệm Đồng Tính Namvà Đồng Tính Nữ
Quốc Gia. Câu lạc bộ và quán bar giành cho những người Đồng tính nữ. "Lộ diện" hay
"Che giấu". Luật pháp "quyền bình đẳng" cho những người Đồng tính nam. Đồng tính
luyến ái trong quân đội. Cha mẹ Đồng tính Nam. Các ấn phẩm như Cái Thang, Người
ủng Hộ, Người Sinh ở New York, Ở Ngoài và thậm chí cả Tập San Của Những Người
Đồng Tính Luyến Ái. Những khía cạnh về lối sống của người đồng tính nam - và nhiều
điều nữa - là những thứ gây tranh cãi trong con mắt của rất nhiều người Mỹ. Do vậy,
chúng tôi giành toàn bộ chương này để khám phá những vấn đề phức tạp như các nguyên
nhân của xu hướng tình dục và ảnh hưởng của sự đồng tính luyến ái hay ái nam ái nữ lên
các cá nhân và xã hội.
THIÊN HƯỚNG TÌNH DỤC LÀ GÌ?
Thiên hướng tình dục là từ dùng để chỉ sự hấp dẫn về tình cảm, sự lãng mạn, trìu mến
và hấp dẫn về tình dục của một người đối với những người cùng giới, khác giới hay đối
với cả hai. Một người bị hấp dẫn bởi những người khác giới được gọi là heterosexual
(người có thiên hướng tình dục với người khác giới) (bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp heteros
có nghĩa là "khác"). Nhiều người sử dụng từ straight (thẳng) đểchỉ những nam giới hay
phụ nữ có thiên hướng tình dục với người khác giới. Một người bị hấp dẫn bởi những
người cùng giới được gọi là homosexual (đồng tính luyến ái) (bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp
homos có nghĩa là "cùng"). Nhiều người sử dụng từ gay (đồng tính nam) để chỉ những
nam giới bị đồng tính luyến ái, vàlesbian (đồng tính nữ) để chỉ những nữ giới bị đồng
tính luyến ái. Không được nhầm lẫn giữa đồng tính luyến ái với luyến ái giả trang
(transsvestites) (những người mặc trang phục của người khác giới nhằm mục đích có
được sự thoả mãn giới) hay người chuyển đổi giới tính (transsexuals) (những người bị rối
loạn nhận dạng giới, mong muốn "phẫu thuật để chuyển đổi giới tính"). Một người bị hấp

tình trạng ái nam ái nữ bị nghi ngờ. Ví dụ, hai nhà tâm lý học Robert Carson và James
Butcher (1992)
16
đã viết:
"Trên quan điểm của chúng tôi, nhiều con số mà Kinsey và các đồng nghiệp đưa ra không
khẳng định được tính phổ quát của tình trạng ái nam ái nữ như một số loại trung lập dục
tính cơ bản. Điều mà họ nêu là nhiều đàn ông từ chối không quan hệ tình dục với phụ nữ
có thể và có "sự thỏa mãn tối đa" bằng cách quan hệ tình dục với người đàn ông khác, là
do nghiên cứu của họ, giờ thì ai cũng biết, được thực hiện trên những người tù, hoặc
tương tự." (trang 375)
Điều quan trọng là cần phải nhớ rằng tình dục hướng giới tính khác cũng là vấn đề thuộc
thiên hướng tình dục, giống như đồng tính luyến ái hay ái nam ái nữ. Mặc dù nhiều người
cho rằng có thể chuyển đổi thiên hướng tình dục của một người, thường là những người
có thiên hướng tình dục với người khác giới nói về những người đồng tính luyến ái, thì
câu nói đó (dù đúng hay sai) cũng cần phải được áp dụng một cách công bằng cho tất cả
mọi người thuộc tất cả các thiên hướng tình dục. Như sẽ được thảo luận ở phần sau, việc
thay đổi thiên hướng tình dục thông qua liệu pháp tâm lý dường như là điều vô cùng khó
khăn, nếu như không muốn nói là không thể.
Chúng ta cũng cần phân biệt giữa thiên hướng tình dục (hay sự hấp dẫn) với hành vi tình
dục (hay sự thể hiện). Một người có thể có hoặc có thể không lựa chọn việc thể hiện thiên
hướng tình dục của mình thông qua các hành vi. Nói cách khác, anh ta hay cô ta có thể có
thiên hướng tình dục của người đồng tính luyến ái nhưng lại chọn cách không thể hiện
điều đó với bạn tình. Tất nhiên, nguyên tắc này cũng được áp dụng đối với những người
có thiên hướng tình dục với người khác giới và người ái nam ái nữ.
Suy Nghĩ Cá Nhân
Đâu là những vấn đề có liên quan đến việc định nghĩa tình dục hướng giới tính khác,
đồng tính luyến ái, và ái nam ái nữ?Bạn hãy chú ý đến những lý lẽ tán thành và phản
đối liên quan đến việc định nghĩa thiên hướng tình dục như sự tồn tại dọc theo thể
liên tục.
HÀNH VI ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI PHỔ BIẾN NHƯ THẾ NÀO?

Suy Nghĩ Cá Nhân
Bạn sẽ phản ứng như thế nào nếu một người bạn thân cùng giới với bạn tiết lộ cho
bạn biết rằng anh ta hay cô ta là người đồng tính nam, đồng tính nữ, hay ái nam ái nữ
? Bạn sẽ phản ứng thế nào nếu một người bạn thân khác giới cũng nói với bạn như
vậy?
CÁC HỌC THUYẾT VỀ ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI
Những nguyên nhân chính xác gây ra hiện tượng đồng tính luyến ái, cũng như nguyên
nhân thiên hướng tình dục hướng người khác giới và thiên hướng tình dục nói chung vẫn
tiếp tục là thách thức đối với các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, cũng có một số học thuyết
được đưa ra. Những học thuyết này chia thành các nhóm về sinh học, tâm lý học, và học
thuyết tương tác.
Các Học Thuyết về Sinh Học
Đến nay, những nỗ lực nhằm nhận biết chính xác các nguyên nhân sinh lý gây ra hiện
tượng đồng tính luyến ái vẫn chưa có kết quả. Các học thuyết sinh học truyền thống thì
cho rằng đó là do có quá ít hooc môn testosterone ở nam giới, quá nhiều hooc môn
testosterone ở nữ giới, sự mất cân bằng hooc môn, và những lỗi sinh học trước khi sinh ra
do căng thẳng ở người mẹ. Những học thuyết gần đây hơn còn bao gồm cả nguyên nhân
di truyền và gien, các khi nhiễm sắc thể, và những dị thường ở phía trước vùng đồi dưới
não (nghĩa là nhân tế bào khe thứ ba).
Những phát hiện từ các nghiên cứu tập trung vào nguyên nhân sinh học cần phải được
giải thích một cách thận trọng. Đầu tiên, hầu hết các đối tượng được lấy làm ví dụ không
phải là đại diện cho dân số nói chung, vì tất cả những đối tượng đó đều là nam giới. (Điều
này không có gì là mới. Đa số các nghiên cứu về đồng tính luyến ái thường được thực
hiện trên nam giới nhiều hơn phụ nữ). Thứ hai, hầu hết các phát hiện đều mới chỉ nói đến
các kết hợp tương quan của những biến số chứ không phải là nguyên nhân. Ví dụ, có phải
liệu một phần nhỏ dị thường ở vùng đồi dưới gây ra tình trạng đồng tính luyến ái hay
ngược lại? Hay liệu bất kỳ nguyên nhân nào gây ra sự dị thường ở một phần nhỏ vùng
đồi dưới cũng gây ra hiện tượng đồng tính luyến ái? Cần có nhiều nghiên cứu cụ thể hơn
nữa trước khi đưa ra các kết luận hợp lý về ảnh hưởng của các yếu tố sinh học khác nhau
lên việc hình thành thiên hướng tình dục.

Dường như cả những nhân tố sinh học lẫn những sự kiện cụ thể từ thời thơ ấu đều không
phải là những nhân tố duy nhất phải chịu trách nhiệm cho sự phát triển của tình trạng
đồng tính luyến ái. Học thuyết Tương tác về đồng tính luyến ái chỉ ra rằng thiên hướng
tình dục phát triển nhằm phản ứng lại với sự tương tác phức tạp của các nhân tố sinh học,
tâm lý học và xã hội - một phối cảnh tâm sinh lý xã hội cơ bản. Trọng lượng tương đối
của những nhân tố khác nhau này trong việc quyết định thiên hướng tình dục ở một cá
nhân cụ thể hiện vẫn chưa được xác định.
Có lẽ học thuyết tương tác được chấp nhận rộng rãi nhất là học thuyết của John Money.
John Money đã giải thích sự phát triển của đồng tính luyến ái theo một quá trình gồm hai
bước. Theo Money, các hooc môn trước khi sinh đầu tiên ảnh hưởng đến bộ não của phôi
thai hay bào thai, tạo nên bẩm chất sinh học đối với một thiên hướng tình dục cụ thể. Sau
khi sinh ra, trong suốt thời kỳ thơ ấu ban đầu các yếu tố xã hội-kiến thức trong môi
trường ảnh hưởng đến đứa trẻ, ngăn cản hoặc tạo điều kiện cho bẩm chất. Cuối cùng
thiên hướng tình dục hình thành được củng cố thêm nhờ cực khoái tình dục, điều này
khiến cho việc định hướng lại thiên hướng tình dục càng trở nên khó khăn khi thời gian
qua đi.
SỰ ĐIỀU CHỈNH TÌNH TRẠNG ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI
Các quan điểm đầu tiên về đồng tính luyến ái là quan điểm thần học.Từ những kết án của
người Do Thái cổ về hành vi đồng tính luyến ái, đến sự ám chỉ của Thánh Thomas
Aquinas coi đó là "hành vi thú tính trái với tự nhiên", các xã hội Do Thái - Thiên Chúa
Giáo truyền thống đều coi hành vi đồng tính luyến ái là tội lỗi. Bắt đầu từ cuối thế kỷ 19
đầu thế kỷ 20, cộng đồng bác sĩ về sức khỏe tinh thần, đặc biệt là những người bị ảnh
hưởng bởi học thuyết của Freud, bắt đầu coi đồng tính luyến ái là bệnh tinh thần hay là
những rối loạn liên quan đến tinh thần.
Tuy nhiên, do có nhiều bằng chứng cho thấy những điều ngược lại, và do các quan điểm
thoáng hơn về tình dục gia tăng ở Mỹ nên năm 1973, Hiệp hội Tâm thần Mỹ đã bỏ phiếu
tán thành việc loại bỏ đồng tính luyến ái coi đó như một dạng bệnh tâm thần ra khỏi
Triệu Chứng Và Sách Chỉ Dẫn Thống Kê Về Các Rối Loạn Tinh Thần (DMS). Trong
cuốn DMS-III (1980) chỉ có duy nhất một tham chiếu dành cho đồng tính luyến ái, đó là
Đồng Tính Luyến Ái Bản Ngã - Dystonic, chuẩn đoán này được đưa ra cho người cảm

đồng tính luyến ái. Nhưng vấn đề không đơn giản như vậy. Còn những người đồng tính
nam và đồng tính nữ, những người muốn thay đổi thiên hướng tình dục của mình thì sao,
chẳng hạn như vì lý do tôn giáo? Liệu các nhà trị liệu có bắt buộc phải đưa ra những dịch
vụ chữa trị nếu có thể hay không? Một số bác sĩ phản đối việc dùng liệu pháp chuyển đổi
thiên hướng tình dục cho các khách hàng đồng tính luyến ái bởi vì những liệu pháp chữa
trị này có thể khuyến khích định kiến của xã hội chống lại những cá nhân đó. Ngược lại,
một số người khác lại lập luận rằng cần chữa trị cho những người có yêu cầu chính đáng
bất kể quan điểm của bác sĩ coi đồng tính luyến ái là sự bất thường. Từ chối khách hàng,
những người yêu cầu được chữa trị bằng liệu pháp chuyển đổi thiên hướng là vi phạm
"quyền được chữa trị" cơ bản của họ. Tất nhiên, bác sĩ trị liệu phải có nghĩa vụ thông báo
cho khách hàng về tính hiệu quả tương đối của liệu pháp chuyển đổi.
Một số bác sĩ hành nghề, các nhóm tôn giáo và khách hàng đã nói thành công với liệu
pháp chuyển đổi lại thiên hướng tình dục. Tuy nhiên, hầu hết những báo cáo của họ về
những thành công này đều chỉ là những câu chuyện, chưa được xác minh một cách khoa
học; không có đủ bằng chứng khoa học để đưa ra những đánh giá chính xác về khả năng
thành công của nó. Những câu hỏi như "Liệu có thể thay đổi thiên hướng tình dục?" và
"Có nên chữa trị cho những người đồng tính luyến ái không?" đôi khi vẫn sẽ là những
câu hỏi chưa có câu trả lời.
Ghi Chép Cá Nhân (Sam, 31 tuổi )
Cho mãi đến tận năm cuối trung học tôi mới phát hiện ra rằng mình không có một
chút hấp dẫn tình dục nào với phụ nữ cả.Từ đó trở đi, tôi hoàn toàn bị thu hút bởi
những người đàn ông. Nhưng do nền tảng, địa vị của mình, tôi không bao giờ có thể
chấp nhận mình là người đồng tính luyến ái. Bởi thế tôi đi gặp một bác sĩ tâm lý để
"thay đổi" thiên hướng tình dục của mình. Thực sự, tôi cũng khá hài lòng với sự
tiến triển của chúng tôi (tôi và bác sĩ của mình). Trải qua 13 năm, từ chỗ không có
hứng thú tình dục với phụ nữ tôi đã có thiên hướng hấp dẫn tình dục với người
khác giới. Tuy nhiên tôi phải thừa nhận rằng chúng tôi không bao giờ có thể loại bỏ
được hoàn toàn phần đồng tính nam trong con người tôi. Nó vẫn còn ở đó, đôi khi
leo nheo tôi. Nhưng tôi có thể giải quyết được nó. Tôi đoán rằng những điều mà
chúng tôi đã làm khi trị liệu đã làm tăng thêm vốn mục tình dục của tôi lên đến

chống đối việc đồng tính luyến ái hành hung. Tuy nhiên, đối với những người đồng tính
muốn xuất đầu lộ diện, thì cũng có những nhóm trợ giúp. Ngoài ra còn có cả một Ngày
Xuất Đầu Lộ Diện Quốc Gia, đó là ngày 11 tháng Mười hàng năm, vào ngày đó có một
chiến dịch nhằm giúp những người đồng tính luyến ái nói với gia đình và bạn bè của họ
về thiên hướng tình dục của mình.
Các Mối Quan Hệ và Con Cái
Nghiên cứu chỉ ra rằng có khoảng 40% đến 60% những người đồng tính nam và nữ có
liên quan đến một số dạng quan hệ gắn bó. Nhiều cặp đồng tính luyến ái đôi khi sống
chung cùng nhau còn lâu hơn những người có thiên hướng tình dục với người khác giới.
Cũng giống như những người có thiên hướng tình dục với người khác giới, những người
đồng tính luyến ái có thể có và có thể không thỏa mãn với mối quan hệ của mình.
Những mối quan hệ của người đồng tính luyến ái là như thế nào? Người đồng tính luyến
ái và người ái nam ái nữ - cũng giống như người có thiên hướng tình dục khác giới - có
thể sống chung với nhau, sống một mình, sống cùng gia đình hay bạn bè, hoặc sống với
bạn chung phòng. Họ cũng có thể đến từ những tầng lớp xã hội khác nhau, với điều kiện
kinh tế và học vấn khác nhau. Thật khó có thể đưa ra được sự khái quát chung về mối
quan hệ của những người đồng tính luyến ái hay những người ái nam ái nữ - sự lãng mạn,
về mặt xã hội, nghề nghiệp hay những cái khác - điều này cũng khó như việc đưa ra sự
khái quát chung về mối quan hệ của những người có thiên hướng tình dục hướng giới
tính khác.
Các cặp đồng tính luyến ái có thể quyết định nuôi con. Những nhà nghiên cứu chỉ ra rằng
trẻ em được những người đồng tính luyến ái nuôi dưỡng không có gì khác so với trẻ em
được các cặp khác nuôi dưỡng ở những điểm quan trọng như sự điều chỉnh cuộc sống
chung, nhận dạng giới, vai trò về giới, và sự thông minh. Họ cũng chỉ ra rằng trẻ em được
những cặp đồng tính luyến ái nuôi dưỡng không có nhiều khả năng sẽ trở thành người
đồng tính luyến ái hơn những trẻ em được nuôi dưỡng bởi những cặp có thiên hướng tình
dục hướng giới tính khác.
Hành Vi Tình Dục
Đồng tính luyến ái, tình dục hướng giới tính khác và ái nam ái nữ, tất cả những thiên
hướng tình dục này đều trải qua cùng các giai đoạn liên quan đến hưng phấn tình dục và

Tại sao nhiều người Mỹ lại căm ghét tình dục đồng giới? Cũng giống với nhiều khía cạnh
của tình dục, nhiều quan điểm văn hóa của chúng ta bắt nguồn từ những tập tục và giá trị
Thiên Chúa giáo. Trong Kinh Cựu Ước (ví dụ như Malachi 2:1-3), phân (cứt) mang ý
nghĩa vô cùng xấu, do đó không có gì ngạc nhiên khi nó lại được gắn với sự đồng tính
luyến ái, hành vi quan hệ tình dục ở lỗ hậu môn, và kẻ ngoại đạo. Căn cứ vào nhiều giải
thích nghiêm khắc các đoạn trong Kinh Thánh liên quan đến các hành vi tình dục đồng
giới đáng lên án, không còn nghi ngờ gì nữa người Mỹ cũng kịch liệt phản đối tình dục
đồng giới. Dưới đây là giải thích của nhà nghiên cứu tình dục Alfred Kinsey và các đồng
nghiệp của ông trong nghiên cứu cổ điển, Hành Vi Tình Dục ở Phụ Nữ (1953)
18
:
"Sự kết án chung về tình dục đồng giới trong nền văn hóa của chúng ta dường như bắt
nguồn từ hàng loạt các bối cảnh lịch sử mà các bối cảnh đó rất ít khi bảo vệ các cá nhân
hay duy trì tổ chức xã hội lúc đó. Trong bộ luật thời kỳ Hittite, Chaldean, và đầu Do
Thái, không có sự kết án chung nào đối với những hành vi tình dục đồng giới, tuy nhiên
có mức hình phạt dành cho các hoạt động đồng tính luyến ái xảy ra giữa những người có
địa vị xã hội cụ thể hay tình dục đồng giới giữa những người có quan hệ huyết thống,
dưới những hoàn cảnh cụ thể, đặc biệt khi có sự tham gia của hành động cưỡng bức. Sự
kết án chung đối với những quan hệ đồng tính (đặc biệt là đồng tính nam) bắt nguồn từ
lịch sử người Do Thái vào khoảng thế kỷ thứ 7, trước Công nguyên, sau sự quay về từ
cuộc đày ải Babylon Nhiều sự kết án Talmudic được xây dựng từ sự kiện rằng những
hành động đó đại diện cho cách của Canaanite, cách của Chaldean, cách của kẻ ngoại
giáo, và chúng bị kết án dưới dạng sùng bái hơn là mội tội lỗi liên quan đến tình dục. Đến
thời đại trung cổ, đồng tính luyến ái gắn liền với dị giáo. Tuy nhiên, với sự cải cách tục lệ
(tập tục), đồng tính luyến ái đã trở thành một vấn đề liên quan đến đạo đức và cuối cùng
đồng tính luyến ái là hành động liên quan đến luật hình sự." (Trang 481-482).
Trong cuốn sách có tựa đề Hãy Hỏi Tôi Bất Kỳ Điều Gì (1992)
19
, Marty Klein đã bổ
sung:

số những nhóm đòi quyền cho người đồng tính, các cuộc tuần hành, biểu tình, các hoạt
động kỷ niệm và diễu hành tổ chức hàng năm, bao gồm cả Tuần Lễ Kiêu Hãnh của
Người Đồng Tính Nam.
Nhiều người đã nhầm khi cho rằng, phong trào đòi quyền cho người đồng tính nam bắt
đầu từ cuộc bạo loạn Stonewall, nhưng trên thực tế có hơn 40 tổ chức của người đồng
tính nam và đồng tính nữ đã tập trung ở đây thời gian đó. Hai trong số những nhóm đồng
tính rõ ràng ở những năm 50 và 60 là Mattachine Society và Daughters of Bilitis. Sau
cuộc bạo loạn Stonewall, những người đồng tính nam và đồng tính nữ tập hợp vào các
nhóm chính trị và các cơ quan phục vụ như Hành Động, Mặt Trận Giải Phóng Người
Đồng Tính Nam, Liên Minh Những Người Hoạt Động Xã Hội ủng Hộ Đồng Tính Nam,
Những Người Ủng Hộ Và Bảo Vệ Cho Người Đồng Tính, Công Cuộc Đòi Quyền Cho
Người Đồng Tính Nữ, Lực Lượng Đặc Nhiệm Đồng Tính Nam Và Nữ, Những Người
Ủng Hộ Đòi Quyền Cho Người Đồng Tính Nam Quốc Gia, Quốc Gia Đồng Tính Nam, ở
đây tôi mới chỉ nêu tên một vài tổ chức.
Như đã trình bày ở đầu chương này, thiên hướng tình dục - đặc biệt là đồng tính luyến ái
và ái nam ái nữ - là chủ đề hiện nay được tranh luận sôi nổi. Bất kỳ cuộc đấu tranh nào
cũng có mặt tích cực bất kể ý kiến của người khác thế nào. "Vấn đề đồng tính luyến ái"
tạo cơ hội cho người Mỹ suy nghĩ một cách nghiêm túc về cuộc sống ở thế kỷ 21. Nó
giúp cho con người học cách chung sống với những người mà có thể họ không đồng tình.
Nó thúc đẩy họ phải xem xét quan điểm của mình và quyết định xem những quan điểm
đó có hợp lý hay không. Đồng tính luyến ái theo con người suốt trong một thời gian dài.
Người Mỹ bây giờ đã chú ý một cách đầy đủ đến vấn đề này.
Suy Nghĩ Cá Nhân
Đâu là những ý kiến đồng tình và phản đối việc làm luật "quyền bình đẳng" cho
những người đồng tính?Còn việc làm luật "quyền đặc biệt" thì sao?
NHỮNG ĐIỂM CHÍNH
1. Thiên Hướng Tình Dục là từ dùng để chỉ sự hấp dẫn về tình cảm, sự lãng mạn, trìu mến
và hấp dẫn về tình dục của một người đối với những người cùng giới, khác giới hay đối
với cả hai. Một người bị hấp dẫn bởi những người khác giới được gọi là heterosexual
(người có thiên hướng tình dục với người khác giới) Một người bị hấp dẫn bởi những

chung, nhận dạng giới, vai trò về giới, và sự thông minh. Họ cũng chỉ ra rằng trẻ em được
những cặp đồng tính luyến ái nuôi dưỡng không có nhiều khả năng sẽ trở thành người
đồng tính luyến ái hơn những trẻ em được nuôi dưỡng bởi những cặp có thiên hướng tình
dục hướng giới tính khác.
7. Đồng tính luyến ái, tình dục hướng giới tính khác và ái nam ái nữ, tất cả những thiên
hướng tình dục này đều trải qua cùng các giai đoạn liên quan đến hưng phấn tình dục và
phản ứng. Những người đồng tính nam và những người đồng tính nữ phản ứng với các
kích thích tình dục và tham gia vào các hành vi tình dục giống với người có thiên hướng
tình dục hướng tới giới khác và người ái nam ái nữ.
8. Những người đồng tính nam và nữ đã thể hiện mình là người đồng tính thường phải
đối mặt với những công kích bằng lời nói, hành động và sự hành hung tình dục của
những cá nhân bị ám ảnh bởi sự đồng tính. Ám ảnh đồng tính (Homophobia) là từ không
những chỉ sự sợ hãi vô lý của những người sợ bị người khác coi là người đồng tính luyến
ái, mà nó còn là từ chỉ sự kinh bỉ dai dẳng và căm ghét những người đồng tính luyến ái.
Ám ảnh đồng tính luyến ái khiến một số người đánh những kẻ đồng tính nam hoặc chửi
rủa và/hoặc đối xử tàn ác đối với những người đồng tính luyến ái hoặc cả người có thiên
hướng tình dục hướng giới khác nhưng bị nhầm là người đồng tính.
9. Những người đồng tính nam và đồng tính nữ đang tích cực làm việc với tất cả các cấp
xã hội để nhằm thay đổi luật pháp, chống lại sự phân biệt đối xử trong công việc, sự quấy
rối tình dục, loại bỏ sự ám ảnh đồng tính và đánh những người đồng tính nam, vận động
gây quỹ phòng chống AIDS, giáo dục công chúng về tình dục đồng giới và đồng tính
luyến ái. Phong trào đòi quyền cho người đồng tính bắt đầu phát triển rầm rộ với cuộc
nổi loạn Stonewall năm 1969. Sau cuộc bạo loạn Stonewall, những người đồng tính nam
và đồng tính nữ tập hợp vào rất nhiều nhóm chẳng hạn như Lực Lượng Đặc Nhiệm Đồng
Tính Nam và Nữ Quốc gia.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status