Nghiên cứu thực trạng dạy-học môn Đạo đức y học trong đào tạo bác sĩ tại các trường Đại học Y và đánh giá kết quả can thiệp thử nghiệm - Pdf 13

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Lê Thu Hòa
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG DẠY-HỌC MÔN
ĐẠO ĐỨC Y HỌC TRONG ĐÀO TẠO BÁC SĨ
TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y VÀ ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ CAN THIỆP THỬ NGHIỆM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Hà Nội - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Lê Thu Hòa
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG DẠY-HỌC
MÔN ĐẠO ĐỨC Y HỌC TRONG ĐÀO TẠO BÁC SĨ
TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y VÀ ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ CAN THIỆP THỬ NGHIỆM
Chuyên ngành Vệ sinh xã hội học và tổ chức y tế
Mã số 62.72.73.15
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. PGS.TS. Nguyễn Đức Hinh
2. PGS.TS. Lê Thị Tài
Hà Nội - 2013
2
3
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy hướng dẫn khoa học
của tôi trong luận án này:
- PGS.TS. Nguyễn Đức Hinh, Hiệu trưởng trường Đại học Y Hà Nội
- PGS.TS. Lê Thị Tài, Phó trưởng bộ môn Giáo dục sức khỏe, Viện đào

học Y Hà Nội và Đại học Y Thái Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ và tham
gia vào nhóm nghiên cứu
- Giảng viên và sinh viên tại các trường Đại học Y đã tham gia vào
nghiên cứu cùng chúng tôi.
Tôi xin được bày tỏ sự tri ân tới các thầy, cô tại Trường Đại học Y Hà Nội;
các bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên và hỗ trợ tôi trong những năm
tháng qua.
Con luôn ghi nhớ và biết ơn Gia đình đã yêu thương, chăm sóc và động viên
con trong suốt cuộc đời.
Hà Nội, tháng 1 năm 2013
Lê Thu Hòa
4
5
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi. Tất cả số liệu và kết quả thu thập được trong nghiên cứu này là
trung thực, và chưa được công bố bởi bất kỳ ai.
Hà Nội, tháng 1 năm 2013
Người cam đoan
Lê Thu Hòa

5
6
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt trong luận án
Danh mục các bảng và biểu đồ

17
21
39
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU …
44
2.1. Đối tượng và thời gian nghiên cứu ………………………
2.2. Phương pháp nghiên cứu …………………………………
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu ………………………………………
2.2.2. Cỡ mẫu …………………………………………………
2.2.3. Chọn mẫu ………………………………………………
2.3. Nội dung và các biến số nghiên cứu ……………………….
44
44
44
44
6
7
2.3.1. Mục tiêu 1. Nghiên cứu thực trạng dạy-học đạo đức y học
trong đào tạo bác sĩ tại tám trường Đại học Y năm học
2009-2010 ………………………………………………
2.3.2. Mục tiêu 2. Đề xuất chương trình, tài liệu, phương pháp
dạy-học, phương pháp lượng giá môn Đạo đức y học …
2.3.3. Mục tiêu 3. Đánh giá kết quả can thiệp thử nghiệm tại hai
trường Đại học Y Hà Nội và Đại học Y Thái Nguyên …
2.4. Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu ………………………
2.4.1. Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu cho nghiên cứu mô tả
thực trạng ……………………………………………
2.4.2. Phương pháp sử dụng cho đề xuất giải pháp can thiệp ….
2.4.3. Kỹ thuật, công cụ thu thập số liệu cho nghiên cứu can
thiệp thử nghiệm …………………………………………

59
60
7
8
3.1.4. Mong muốn của sinh viên và giảng viên về dạy-học
Đạo đức y học ………………………………………………
3.2. Chương trình, tài liệu, phương pháp dạy-học, phương pháp
lượng giá môn Đạo đức y học …………………………………….
3.2.1. Chương trình và tài liệu môn Đạo đức y học …………
3.2.2. Phương pháp dạy-học môn Đạo đức y học ……………
3.2.3. Phương pháp lượng giá môn Đạo đức y học ………….
3.3. Kết quả can thiệp thử nghiệm tại hai trường Đại học Y Hà
Nội và Đại học Y Thái Nguyên ……………………………………
3.3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu …………….
3.3.2. Hiểu biết của sinh viên và nguồn thông tin về Đạo đức
y học ………………………………………………………….
3.3.3. Chương trình và nội dung dạy-học môn Đạo đức y học
3.3.4. Phương pháp dạy-học …………………………………
3.3.5. Phương pháp lượng giá ………………………………
61
66
72
72
74
75
75
75
76
76
84

4.3.3. Chương trình và nội dung dạy-học môn Đạo đức y học
4.3.4. Phương pháp dạy-học ……………………………………
4.3.5. Phương pháp lượng giá…………………………………
4.4. Một số hạn chế của nghiên cứu ………………………………
108
110
110
110
110
111
112
124
133
138
KẾT LUẬN ……………………………………………………………
139
KHUYẾN NGHỊ ………………………………………………………
141
DANH MỤC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN VỚI ĐỀ TÀI ……………
142
TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………
143
PHỤ LỤC ………………………………………………………………
154
9
10
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
ĐH …………………………… đại học
ĐHY …………………………… Đại học Y
ĐHYD …………………………. Đại học Y Dược

dạy-học cho sinh viên trong chương trình đào tạo
67
Bảng 3.11 Ý kiến giảng viên về phương pháp dạy-học mong muốn
trong môn Đạo đức y học
70
Bảng 3.12 Ý kiến giảng viên về phương pháp lượng giá mong muốn
trong môn Đạo đức y học
72
Bảng 3.13 Số lượng sinh viên tham gia nghiên cứu can thiệp 75
Bảng 3.14 Khái niệm đạo đức y học theo ý kiến của sinh viên 76
Bảng 3.15. Mong muốn của sinh viên về hình thức tổ chức môn học 82
Bảng 3.16 Tác động của phương pháp dạy-học đến tính tích cực của
sinh viên
88
Bảng 3.17 Hiệu quả của sử dụng tình huống trong bài giảng 88
Bảng 3.18. Mong muốn của sinh viên về các tình huống trong bài
giảng
89
DANH MỤC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
Số thứ tự Tên biểu đồ Trang
11
11
12
Biểu đồ 3.1 Phương pháp dạy-học của giảng viên tại tám trường 62
Biểu đồ 3.2. Phương pháp lượng giá môn Đạo đức y học tại tám trường 65
Biểu đồ 3.3. Ý kiến sinh viên và giảng viên về mức độ cần thiết dạy-học
Đạo đức y học
66
Biểu đồ 3.4. Lựa chọn nội dung Đạo đức y học cần được dạy-học theo ý
kiến của giảng viên và sinh viên

(1)
92
Biểu đồ 3.20. Mức độ hài lòng của sinh viên với phương pháp lượng giá
(2)
93
12
12
13
Biểu đồ 3.21. Phương pháp lượng giá mà sinh viên mong muốn (1) 94
Biểu đồ 3.22. Phương pháp lượng giá mà sinh viên mong muốn (2) 94
13
13
14
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trách nhiệm cao cả của các nhân viên y tế là chăm sóc sức khỏe con
người, vì lợi ích chung của cộng đồng và xã hội. Từ nhiều năm nay, các tổ chức
quốc tế nói chung và y học nói riêng trên thế giới như Hội Y học Thế giới, Liên
hiệp quốc, Hội đồng Điều dưỡng quốc tế, Tổ chức Y tế Thế giới, Tổ chức quốc tế
về Giáo dục-Khoa học-Văn hóa… đã phê chuẩn, tuyên bố và điều chỉnh nhiều
quy định liên quan đến các nguyên lý và tiêu chí đạo đức trong thực hành và
nghiên cứu y học như Quyền con người; Thực hành y học tốt; Trách nhiệm
chuyên môn và quan hệ với đồng nghiệp của người điều dưỡng; Quyền của
người bệnh … [69],[70],[78],[90][106],[111],[112],[123].
Ở Việt Nam, năm 1955 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong ‘Thư gửi Hội
nghị cán bộ y tế’ rằng “Lương y như từ mẫu” [16]. Năm 1989, Quốc hội Việt
Nam đã thông qua ‘Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân’ [25] và Bộ Y tế đã đưa ra
quy định về việc thực hiện ‘12 điều y đức’ [4]. Mặc dù đây là một trong những
tiêu chuẩn quan trọng của người thầy thuốc được nhà nước và xã hội quan tâm,
nhưng cho đến nay, bên cạnh những thành tựu mà ngành y học Việt Nam đã đạt
được trong nhiều năm qua, thì y đức vẫn còn là một vấn đề rất cần được cải thiện

trường Đại học Y năm học 2009-2010.
2. Đề xuất chương trình, tài liệu, phương pháp dạy-học và phương pháp
lượng giá môn Đạo đức y học.
3. Đánh giá kết quả can thiệp thử nghiệm tại trường Đại học Y Hà Nội và
Đại học Y Thái Nguyên.
15
15
16
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Khái quát lịch sử phát triển của đạo đức y học
Đạo đức y học luôn gắn liền với người thầy thuốc. Không một ngành nào
được nhắc nhiều đến vấn đề đạo đức nghề nghiệp như ngành y và được gọi theo
một danh từ riêng là “Y đức”. Từ những năm trước công nguyên, Hyppocrate,
ông tổ của ngành y đã có lời thề nổi tiếng nói đến những tiêu chí đầu tiên về đạo
đức trong thực hành nghề y [77].
1.1.1. Khái niệm đạo đức và đạo đức y học
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam:
“Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm
những chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ với toàn
xã hội” [31].
Theo Hội Y học thế giới:
“Đạo đức là sự nghiên cứu về giáo lý – sự phản ánh một cách thận trọng, hệ
thống và sự phân tích các quyết định lương tâm và hành vi, trong quá khứ, hiện
tại hoặc tương lai” [124].
Đạo đức là mặt giá trị của việc ra quyết định và hành vi của con người.
Ngôn ngữ của đạo đức bao gồm các danh từ như “quyền”, “nghĩa vụ”, “đức
hạnh”, “lương tâm”, “thiện”, “ác”, “công bằng”… và các tính từ như “tốt”, “xấu”,
“đúng”, “sai”, “gần đúng”, “không đúng”… Đạo đức đề cập đến tất cả các mặt
của hành vi và ra quyết định của con người. Nghiên cứu đạo đức là nghiên cứu

Mỗi cộng đồng dân cư, mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán của mình.
Đó là những giá trị văn hóa lâu đời được lưu giữ và bảo tồn đến ngày nay, kết
hợp với văn hóa hiện đại theo sự phát triển của quốc gia và thế giới. Giá trị văn
hóa của mỗi dân tộc thể hiện qua các quy định bằng văn bản và không văn bản
về đạo đức con người. Theo thời gian, phong tục tập quán của mỗi dân tộc cũng
17
17
18
có những thay đổi, do vậy cũng có những thay đổi về chuẩn mực đạo đức của
dân tộc đó.
1.1.2.3. Tuổi
Đạo đức cũng liên quan đến tuổi. Có thể nói mỗi thế hệ trong cộng đồng
ngoài việc thừa hưởng những giá trị đạo đức từ thế hệ trước, sẽ có những giá trị
đạo đức riêng cho bản thân mình. Thế hệ những người cao tuổi sẽ có những hiểu
biết và hành vi về đạo đức khác với lớp người trẻ tuổi trong cùng xã hội.
1.1.2.4. Giới tính
Đạo đức chịu ảnh hưởng của giới, mặc dù sự khác biệt này không nhiều.
Giới nam có những định hướng, hành vi thể hiện về đạo đức ít nhiều khác với
giới nữ. Nói chung, những chuẩn mực đạo đức mà cộng đồng đòi hỏi đối với nữ
giới thường khắt khe hơn so với nam giới.
1.1.2.5. Nghề nghiệp
Nghề nghiệp chi phối khá nhiều đến đạo đức. Mỗi ngành nghề đều có
những quy định riêng về đạo đức, như đạo đức của người thầy thuốc, đạo đức
của nhà giáo, đạo đức trong quân đội, đạo đức của luật sư
1.1.2.6. Đào tạo và tự đào tạo
Đạo đức của một con người được hình thành qua nhiều giai đoạn:
- Gia đình: là nơi dạy đầu tiên về đạo đức cho mỗi công dân, ngay từ lúc
mới ra đời. Gia đình nề nếp, có giáo dục là những bài học đạo đức đầu tiên
đứa trẻ được học.
- Trường phổ thông: Đạo đức được dạy từ năm đầu tiên đi học (lớp 1) cho

nghiên cứu không được thông báo về việc họ đã bị giang mai và cũng
không được điều trị bệnh này. Trong thời gian nghiên cứu, đã có khoảng
50 người đề nghị được điều trị bệnh giang mai, nhưng Dịch vụ y tế công
cộng đã ngăn cản không cho họ được điều trị vì sợ ảnh hưởng đến kết quả
nghiên cứu. Đến năm 1943, khi Dịch vụ Y tế công cộng sử dụng
Penicilline điều trị giang mai, thì những đối tượng của nghiên cứu này
vẫn không được dùng thuốc. Nghiên cứu này bị phát hiện và đưa lên báo
chí năm 1972. Nghiên cứu Tuskegee bị đánh giá là “một trong những ví
19
19
20
dụ khủng khiếp nhất về nghiên cứu mà không hề có sự quan tâm đến các
nguyên lý về đạo đức y học” [104].
• Josef Mengele (1911-1979) là bác sĩ tại trại tập trung Auschwitz của phát
xít Đức từ năm 1943. Josef Mengele có biệt danh là “Thiên thần báo tử”,
chuyên thực hiện những cuộc thí nghiệm trên tù nhân, đặc biệt là những
cặp sinh đôi. Mengele đã tiêm hóa chất vào máu của các trẻ em xem có
làm thay đổi màu mắt không; tiêm thử nghiệm tác dụng của các loại thuốc
mới; làm đông lạnh người tù cho đến chết; nhốt người tù vào phòng hơi
ngạt; tạo ra các thương tổn khác nhau; ghép xương, ghép chi. Nhiều cặp
trẻ sinh đôi đã bị Mengele cắt và ghép tay để tạo ra những cặp sinh đôi
dính nhau. Mengele thực hiện cả các thử nghiệm thuộc về thể chất lẫn tâm
lý, những phẫu thuật thử nghiệm được thực hiện hoàn toàn không có gây
mê. Mengele cho truyền máu từ cá thể này sang cá thể khác trong cặp
sinh đôi; tiêm các mầm bệnh gây chết vào các cơ thể thí nghiệm; phẫu
thuật chuyển đổi giới tính; lấy bỏ các tạng; thụ tinh loạn luân (cùng huyết
thống). Mengele đã thực hịên thí nghiệm trên khoảng 3000 cặp sinh đôi
tại trại Auschwitz trong chiến tranh thế giới thứ hai. Chỉ một vài cặp sinh
đôi trong số 3000 cặp còn sống sót và sau 50 năm họ đã kể lại câu chuyện
của mình. Cho đến bây giờ, những cặp sinh đôi này vẫn không biết và

Năm 1953, Hội đồng Y học đa khoa của Anh đã đưa ra những tiêu chí cụ
thể liên quan đến đạo đức trong “Thực hành y học tốt” đối với các bác sĩ làm
việc trong các cơ sở chăm sóc sức khỏe. Quy định này được bổ sung gần đây
nhất vào năm 2006 và đã đề cập đến những yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp đối với
bác sĩ “Người bệnh cần bác sĩ giỏi. Bác sĩ giỏi coi việc chăm sóc người bệnh là
mối quan tâm hàng đầu của mình: bác sĩ phải có năng lực, cập nhật kiến thức
và kỹ năng, thiết lập và duy trì mối quan hệ tốt với người bệnh và đồng
nghiệp…” [71].
Năm 1953, Hội đồng Điều dưỡng Quốc tế (ICN) thông qua “Quy tắc
quốc tế về y đức dành cho điều dưỡng viên”. Quy tắc này được bổ sung gần đây
nhất vào năm 2005. Như vậy, đạo đức nghề nghiệp không chỉ dành riêng cho bác
sĩ mà còn cho điều dưỡng và các nhân viên y tế khác “…Điều dưỡng cần phải
tôn trọng quyền con người, bao gồm các quyền về văn hoá, quyền được sống và
lựa chọn, quyền tự chủ và được cư xử tôn trọng” [78].
21
21
22
Năm 1964, Hội Y học Thế giới tuyên bố “Tuyên ngôn Helsinki. Các
nguyên tắc đạo đức trong các nghiên cứu y học có liên quan đến con người”
(được sửa đổi gần nhất là năm 2008). Tuyên ngôn quy định đạo đức và trách
nhiệm của người thực hiện các nghiên cứu khoa học y học.
Trách nhiệm của bác sĩ khi tham gia vào các nghiên cứu y học là bảo vệ cuộc
sống, sức khỏe, phẩm chất, giá trị, quyền tự quyết, sự riêng tư và bảo mật thông
tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu [123].
Năm 1981, “Quyền của người bệnh” được Hội Y học Thế giới đề cập đến
11 quyền lợi của người bệnh khi cần được chăm sóc sức khỏe. Quyền của người
bệnh được sửa đổi gần đây nhất tại Hội nghị lần thứ 47 tháng 10/2005.
Người bệnh trưởng thành có năng lực tâm thần có quyền đồng ý hoặc từ chối
đối với bất kỳ quá trình chẩn đoán và điều trị nào. Người bệnh có quyền được
biết các thông tin cần thiết để tự đưa ra quyết định [119].

(1724-1791) đã dạy học trò theo học nghề thuốc“Chín điều y huấn cách ngôn”
để “…Chớ nên vì giàu sang hay nghèo hèn mà nơi đến trước, chỗ đến sau hoặc
bốc thuốc lại phân biệt hơn kém ” [14].
Năm 1948, trong “Thư gửi hội nghị quân y”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
viết “Người ta có câu: “Lương y kiêm từ mẫu”, nghĩa là một người thầy thuốc
đồng thời phải là một người mẹ hiền” [15]. Đến bức thư gửi “Hội nghị cán bộ
y tế” năm 1955, Người đã viết:
Thương yêu người bệnh. Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô
các chú. Chính phủ phó thác cho các cô các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức
khỏe của đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán bộ cần phải
thương yêu săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn
cũng như mình đau đớn. "Lương y phải như từ mẫu", câu nói ấy rất đúng [16].
Năm 1989, Quốc hội Việt Nam thông qua “Luật Bảo vệ sức khỏe nhân
dân Việt Nam”. Luật quy định “Thầy thuốc phải có y đức, có tinh thần trách
nhiệm, tận tình cứu chữa người bệnh; chấp hành nghiêm chỉnh các quy định
chuyên môn ” [25].
23
23
24
Năm 1996, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị
quyết “Định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân đến
năm 2000 và 2020”. Nghị quyết nêu rõ “Tiêu chuẩn hóa các yêu cầu về đạo đức
và về chuyên môn đối với những người hành nghề Y – Dược [12].
Năm 1996, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Quyết định về “12 điều Y đức” quy
định về “Tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế”.
Y đức là phẩm chất tốt đẹp của người làm công tác y tế, được biểu hiện ở tinh
thần trách nhiệm cao, tận tuỵ phục vụ, hết lòng thương yêu chǎm sóc người
bệnh, coi họ đau đớn như mình đau đớn Y đức phải thể hiện qua những tiêu
chuẩn, nguyên tắc đạo đức được xã hội thừa nhận [4]
Năm 2008, Bộ Y tế ban hành “Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội

mạng, phụ nữ có thai [30].
Lịch sử của đạo đức y học được phát triển và hoàn thiện dần qua từng thời
kỳ thăng trầm của các quốc gia và thế giới nói chung. Từ sau chiến tranh thế giới
thứ II, vấn đề quyền con người đã được nhấn mạnh và bắt đầu khởi nguồn cho
các hướng dẫn quốc tế về đảm bảo tôn trọng quyền con người và phải có đạo đức
trong mọi nghiên cứu y học có liên quan hoặc không liên quan đến con người.
Những tuyên bố về tiêu chuẩn trong thực hành chăm sóc sức khỏe đã quy định
rất cụ thể về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của nhân viên y tế trong mọi
hoạt động chăm sóc sức khỏe con người. Việt Nam đã có cơ sở pháp lý là các bộ
Luật với những nội dung liên quan đến đạo đức nghề y mà mỗi nhân viên y tế
phải có trách nhiệm thực hiện. Nhìn lại khái quát lịch sử, chúng ta có thể thấy
đạo đức y học phát triển ngày càng hoàn thiện theo xu hướng tôn trọng con
người hơn, công bằng hơn và tốt đẹp hơn.
1.2. Bốn nguyên lý cơ bản của đạo đức y học
Nhiều tác giả đã viết về các nguyên lý của đạo đức y học như Beauchamp
L.T. và Childress F.J. (1977), Engelhardt H.T. (1986), Mitchell K.R. (1996),
Kerridge I. (1998), Laurence D.J. (2007) … [50],[81],[84],[93]. Nhưng
Beauchamp L.T. và Childress F.J. là hai tác giả đầu tiên đã tách riêng thành bốn
25
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status