Trường Đại học Ngoại Thương
Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế
Tiểu luận môn: Kinh tế phát triển
Đề tài:
Qu¶n lÝ nî c«ng ë ViÖt Nam
Giai ®o¹n 2005 – 2011
Sinh viên thực hiện : Nhóm 1
Lớp : KTE406(1-1112).1_LT
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Hải Yến
Hà Nội, tháng 11/2011
Tiểu luận: Quản lí nợ công ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011
Mục lục
Mục lục 2
Danh mục các chữ viết tắt 3
Lời mở đầu 4
Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế đang diễn ra nhanh chóng với quy mô ngày càng lớn trong
tất cả mọi lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội đòi hỏi các quốc gia cần phải nhanh chóng và thức
thời trong chính sách của mình nhằm tránh khỏi tình trạng lạc hậu so với Thế giới. Để phát
triển kinh tế, các quốc gia cần có nguồn lực mà vốn là yếu tố cực kì quan trọng đặc biệt là đối
với những nước đang và kém phát triển. Ở nước ta, nguồn thu chủ yếu là từ thuế, phí và lệ
phí; muốn mở rộng phát triển thì phải tiết kiệm. Tuy nhiên tỷ lệ tiết kiệm của nước ta lại thấp,
sản xuất chưa phát triển và đạt hiệu quả cao, chi còn nhiều hơn thu nên vấn đề thiếu vốn và
thâm hụt ngân sách là thường xuyên. Để giải quyết vấn đề này thì chính phủ và các doanh
nghiệp phải đi vay dưới nhiều hình thức khác nhau: vay từ các doanh nghiệp, vay cá nhân, các
tổ chức trong và ngoài nước. Tuy nhiên, cũng phải lưu ý rằng sử dụng vốn vay cũng chính là
tạo cho mình một khoản nợ đáng kể. Chính vì vậy chúng ta cần phải hiểu rõ việc sử dụng nợ
công rất cần có một chiến lược cụ thể, hợp lý và có chính sách quản lý nợ công cho hợp lý và
hiệu quả để tránh rơi vào tình trạng vỡ nợ 4
I.Tổng quan về nợ công và quản lý nợ công 5
DBR – Tỉ lệ Thu ngân sách Nhà nước
HIPCs - Heavily Indebted Poor Countries
Nhóm 1 Lớp KTE406(1-1112).1_LT
3
Tiểu luận: Quản lí nợ công ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011
Lời mở đầu
Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế đang diễn ra nhanh chóng với quy mô ngày
càng lớn trong tất cả mọi lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội đòi hỏi các quốc gia cần phải
nhanh chóng và thức thời trong chính sách của mình nhằm tránh khỏi tình trạng lạc
hậu so với Thế giới. Để phát triển kinh tế, các quốc gia cần có nguồn lực mà vốn là
yếu tố cực kì quan trọng đặc biệt là đối với những nước đang và kém phát triển. Ở
nước ta, nguồn thu chủ yếu là từ thuế, phí và lệ phí; muốn mở rộng phát triển thì phải
tiết kiệm. Tuy nhiên tỷ lệ tiết kiệm của nước ta lại thấp, sản xuất chưa phát triển và đạt
hiệu quả cao, chi còn nhiều hơn thu nên vấn đề thiếu vốn và thâm hụt ngân sách là
thường xuyên. Để giải quyết vấn đề này thì chính phủ và các doanh nghiệp phải đi vay
dưới nhiều hình thức khác nhau: vay từ các doanh nghiệp, vay cá nhân, các tổ chức
trong và ngoài nước. Tuy nhiên, cũng phải lưu ý rằng sử dụng vốn vay cũng chính là
tạo cho mình một khoản nợ đáng kể. Chính vì vậy chúng ta cần phải hiểu rõ việc sử
dụng nợ công rất cần có một chiến lược cụ thể, hợp lý và có chính sách quản lý nợ
công cho hợp lý và hiệu quả để tránh rơi vào tình trạng vỡ nợ.
Xác định được vấn đề vay nợ và quản lý nợ công là rất quan trọng trong tiến
trình phát triển của một quốc gia cụ thể là Việt Nam, chúng em đã chọn đề tài:“Thực
trạng và giải pháp cho công tác quản lý nợ công của Việt Nam trong giai đoạn 2005-
2011” ( mốc giai đoạn đánh dấu luật đầu tư ra đời, mở rộng các cơ chế thu hút đầu tư
vốn nước ngoài vào Việt Nam) để nghiên cứu. Bài tiểu luận gồm 3 phần chính như
sau: Tổng quan về nợ công và quản lý nợ công; Thực trạng quản lý nợ công ở Việt
Nam giai đoạn 2005-201; Giải pháp cho công tác quản lý nợ ở Việt Nam. Về lí luận,
bài viết nhằm cung cấp cho người đọc những kiến thức cơ bản về nợ công. Về thực
tiễn, bài viết nghiên cứu sâu hơn về hiệu quả công tác quản lý nợ ở Việt Nam từ đó đề
ra những giải pháp hợp lý cho công tác quản lý nợ để tiến tới mục tiêu phát triển bền
cân thanh toán quốc tế. Và ở một số khía cạnh, việc quản lý nợ nước ngoài còn nhằm
đảm bảo an ninh tiền tệ của Nhà nước Việt Nam, vì các khoản vay nước ngoài chủ yếu
bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiện thanh toán quốc tế khác.
Căn cứ theo cách phân chia của IMF: nợ công bao gồm nợ của khu vực công
và khu vực phi tài chính công
- Khu vực tài chính công: các tổ chức tiền tệ (ngân hàng Trung ương, các tổ chức tín
dụng nhà nước) và các tổ chức phi tiền tệ (các tổ chức tín dụng không cho vay mà
mang mục đích hỗ trợ phát triển)
- Khu vực phi tài chính công: chính phủ, thành phố, các tổ chức chính quyền địa
phương, các doanh nghiệp phi tài chính nhà nước.
Nhóm 1 Lớp KTE406(1-1112).1_LT
5
Tiểu luận: Quản lí nợ công ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011
Theo luật quản lý nợ của Việt Nam có hiệu lực vào ngày 1/1/2010 thì nợ công
bao gồm:
- Nợ chính phủ là toàn bộ các khoản nợ trong nước và nước ngoài của chính phủ và
các đại lý của chính phủ, các tỉnh, thành phố, các tổ chức chính trị thuộc chính phủ và
doanh nghiệp nhà nước.
- Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín
dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.
- Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương (gọi chung là UBND cấp tỉnh) ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát
hành.
2. Quản lý nợ công
2.1Sự cần thiết quản lý nợ công
Danh mục nợ của Chính phủ thường rất lớn và phức tạp, do đó có thể tạo ra rủi
ro lớn đối với cán cân thanh toán và từ đó ảnh hưởng đến tình trạng ổn định tài chính
của quốc gia cũng như mức ổn định của kinh tế toàn cầu. Nếu như các Chính phủ cấu
trúc được các khoản nợ một cách hợp lý thì sẽ giúp giảm thiểu các rủi ro, việc giảm
thiểu các rủi ro từ cấu trúc nợ thông qua đưa ra danh mục nợ có liên quan tới cấu phần
thành phần kinh tế của khu vực công với chi phí thấp nhất phù hợp với mức độ rủi ro
có thể chấp nhận được trong trung và dài hạn đồng thời đảm bảo quản lý, phân bổ và
sử dụng vốn vay có hiệu quả, đồng thời tạo điểu kiện thuận lợi cho phát triển thị
trường trái phiếu Chính phủ trong nước, tăng cường tiếp cận, chủ động tham gia thị
trường vốn quốc tế.
Khuôn khổ pháp luật
Luật Quản lý nợ công của Việt Nam (Luật số 29/2009/QH 12) có hiệu lực từ
ngày 1/1/2010 đã chính thức được thực hiện. Luật Quản lý nợ công xác định rõ các
hình thức nợ công; nội dung quản lý nhà nước về nợ công; nguyên tắc quản lý nợ công
cũng như trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong quản lý nợ công. Ngoài ra còn có
các văn bản dưới luật hướng dẫn thực hiện như nghị định số 79/2010/NĐ-CP ngày
14/7/2010, thông tư số 56/2011/TT-BTC ngày 29/4/2011.
Nguyên tắc quản lý
Điều 5 Luật Quản lý nợ công nêu rõ:
Nhà nước quản lý thống nhất, toàn diện nợ công, từ việc
huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay đến việc trả nợ.
Bảo đảm an toàn nợ trong giới hạn được cấp có thẩm
quyền phê duyệt, bảo đảm an ninh tài chính quốc gia và cân đối vĩ mô nền kinh tế.
Bảo đảm hiệu quả trong việc vay vốn và sử dụng vốn vay;
không vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn. Vốn vay thương mại nước ngoài chỉ sử dụng
Nhóm 1 Lớp KTE406(1-1112).1_LT
7
Tiểu luận: Quản lí nợ công ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011
cho các chương trình, dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp và bảo đảm khả năng trả
nợ.
Người vay chịu trách nhiệm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả
nợ đối với khoản vay.
Thực hiện công khai, minh bạch trong việc huy động, phân
bổ, sử dụng vốn vay, trả nợ và quản lý nợ công. Chương trình, dự án sử dụng vốn vay
của Chính phủ, chính quyền địa phương phải được kiểm toán bởi Kiểm toán nhà nước
nhập của toàn bộ nền kinh tế và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm (50%)
Nợ vay thương mại nước ngoài của Chính phủ so với GDP: Chỉ số này phản ánh
quy mô nợ vay thương mại nước ngoài Chính phủ so với thu nhập của toàn bộ nền
kinh tế và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm.
Nợ được Chính phủ bảo lãnh so với GDP: Chỉ số này phản ánh quy mô nợ được
Chính phủ bảo lãnh so với thu nhập của toàn bộ nền kinh tế và được tính tại thời điểm
31/12 hàng năm.
Nghĩa vụ nợ dự phòng của Chính phủ so với thu ngân sách nhà nước: Tỷ lệ này xác
định quy mô của nghĩa vụ nợ dự phòng phát sinh từ khoản vay, phát hành trái phiếu
được Chính phủ bảo lãnh so với nguồn thu ngân sách nhà nước và được tính tại thời
điểm 31/12 hàng năm.
Nợ chính quyền địa phương so với GDP:Chỉ số này phản ánh quy mô nợ của tất cả
Chính quyền địa phương so với thu nhập của toàn bộ nền kinh tế và được tính tại thời
điểm 31/12 hàng năm.
Tuy nhiên, để đánh giá tính bền vững của nợ công, tiêu chí tỷ lệ nợ công/GDP
được coi là chỉ số đánh giá phổ biến nhất. Để bảo đảm an toàn của nợ công, các nước
thường sử dụng các tiêu chí sau làm giới hạn vay và trả nợ: (i) Giới hạn nợ công không
vượt quá 50% - 60% GDP hoặc không vượt quá 150% kim ngạch xuất khẩu; (ii) Dịch
vụ trả nợ công không vượt quá 15% kim ngạch xuất khẩu và không vượt quá 10% chi
ngân sách. Theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, tỷ lệ hợp lý với trường hợp các
nước đang phát triển nên ở mức dưới 50% GDP.
Nhóm 1 Lớp KTE406(1-1112).1_LT
9
Tiểu luận: Quản lí nợ công ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011
I. Quản lý nợ công ở Việt Nam giai đoạn 2005-2011
1. Tình hình nợ công
1.1Quy mô nợ công
Từ năm 2005 tới nay, nợ công của Việt Nam liên tục tăng về giá trị tuyệt đối, mức
nợ bình quân đầu người và tỷ lệ nợ công trên GDP.
Theo bảng thống kê trên của The Economist Intelligence Unit, nếu năm 2005,
bình từ 40-42% GDP, trong đó khu vực công chiếm khoảng 45%. Tỷ lệ đầu tư lớn,
tăng liên tục nhiều năm trong khi ngân sách luôn ở tình trạng thâm hụt “báo động đỏ”
(trên 5% GDP) khiến chính phủ phải đi vay nợ”.
Bên cạnh đó, có một vấn đề cũng rất đáng lưu tâm, đó là thực trạng có những
đánh giá và những con số khác nhau về thực trạng nợ công của Việt Nam hiện nay.Trả
lời câu hỏi này, ông Hoàng Hải, phó cục trưởng cục Quản Lý nợ và Tài chính đối
ngoại (Bộ tài chính), nói “Tính đến 31/12/2009, nợ công so với GDP của Việt Nam là
52,6%, trong đó nợ Chính phủ/GDP là 41,9%, nợ Chính phủ bảo lãnh/GDP là 9,8%.
Con số 52,6% nợ công tại thời điểm cuối năm 2009 là chưa có quy định của Thủ tướng
về nợ công bởi Luật Quản lý nợ công có hiệu lực từ 1/1/2010. Như vậy, dù nó vượt
quá 50% GDP nhưng vì khi đó chúng ta chưa có ngưỡng an toàn nên cũng khó có thể
nói mức dư nợ đó có an toàn hay không”. Tuy nhiên, cho dù hiện nay, khi Luật quản
lý nợ công đã ban hành, và thực tế, nợ công của Việt nam so với GDP đã là 56.6%
(2010) thì chính phủ vẫn công bố nợ công của Việt Nam vẫn ở ngưỡng an toàn. Như
vậy, ngưỡng an toàn của nợ công thực tế cũng là một tiêu chí rất khó xác định, và các
chuyên gia thì vẫn cứ lo ngại cho tình trạng trả nợ công của nước ta.
1.2Cơ cấu nợ công
1.2.1 Theo đối tượng nợ
Theo Luật Quản lý nợ công Việt Nam 2009, nợ công bao gồm nợ Chính phủ, nợ
được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Với cách tính này, nợ Chính
phủ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nợ công của Việt Nam. Tỷ lệ nợ công năm 2009
Việt Nam là 52,6%/GDP, nợ Chính phủ là 41,9%, nợ Chính phủ bảo lãnh là 9,8%, nợ
chính quyền địa phương là 0,8%. Con số tương tự của năm 2010 lần lượt là 56,6%,
44,3%, 11,36% và 0,94%.
Nhóm 1 Lớp KTE406(1-1112).1_LT
11
Tiểu luận: Quản lí nợ công ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011
1.2.2 Theo nguồn vay
Nguồn cung cấp nợ nước ngoài chủ yếu của Việt Nam là các khoản vay ODA.
Theo danh mục nợ công năm 2009 của Bộ Tài chính, 60,3% nợ công là ODA và
Tiểu luận: Quản lí nợ công ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011
Vấn đề nợ công của Việt Nam, bao gồm cả nợ vay nước ngoài lẫn nợ vay trong
nước, cần được xem xét đầy đủ trong mối quan hệ mật thiết với đầu tư công. Nợ công
sẽ không quá nặng nề khi đầu tư công được cắt giảm hợp lý và có hiệu quả. Một số
liệu do Bộ Tài chính công bố cho thấy rằng trên 70% nguồn vốn ODA được sử dụng
cho đầu tư công và cung ứng vốn thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh của các tập
đoàn kinh tế nhà nước. Điều đáng tiếc là khu vực kinh tế nhà nước làm ăn thường
không hiệu quả. Các số liệu thống kê chính thức cho biết rằng khu vực kinh tế nhà
nước chiếm 70% tổng vốn đầu tư quốc gia nhưng chỉ đóng góp khoảng 30% vào tổng
sản lượng quốc gia. Điều đó có nghĩa là các khu vực tư và khu vực đầu tư nước ngoài
chỉ sử dụng 30% vốn đầu tư quốc gia nhưng lại đóng góp đến 70% tổng sản lượng.
Hiệu quả sử dụng nguồn vốn của khu vực kinh tế nhà nước như vậy là bốn lần kém
hơn các khu vực kinh tế khác, năng suất lao động kém hơn và thu nhập lao động bình
quân cũng thấp hơn, trong khi khu vực này ngoài những ưu đãi mang tính chính sách
về nguồn vốn, về lãi suất còn được hưởng các đặc quyền, các ưu thế kinh tế vượt trội
mà các khu vực khác không có.
Trên thực tế, tình hình sử dụng nợ công ở nước ta hiện nay vẫn còn rất nhiều
bất cập.
Thứ nhất, tình trạng lãng phí trong việc sử dụng đồng tiền vay nợ của đầu tư
công càng ngày càng đáng báo động. Nguồn vốn vay thường được đầu tư dàn trải cho
nhiều ngành, nhiều địa phương theo sự đòi hỏi không bao giờ đủ của họ trở nên mỏng
và thiếu, dẫn đến tình trạng phổ biến ở mọi ngành, mọi nơi là đầu tư dở dang, kéo dài,
dự án đầu tư chậm đưa vào hoạt động, chi phí đầu tư ngày càng tăng.
Nếu tính cho tất cả các dự án đầu tư công trên cả nước, số thiệt hại và lãng phí
về thời gian, tiền bạc sẽ là một con số khó tưởng tượng. Đó là chưa kể đến hiện tượng
tham nhũng đã xà xẻo nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là nguồn vốn ODA ở cả hai đầu: từ
phía người đi vay lẫn người cho vay.
Thứ hai, tình hình sử dụng vốn đầu tư nói chung của Việt Nam thấp, thể hiện
qua chỉ số ICOR:
Nhóm 1 Lớp KTE406(1-1112).1_LT
không mang lại phúc lợi xã hội cao vì hiệu quả quá thấp.
Rõ ràng, nợ công nếu sử dụng khéo có thể phục vụ tốt cho phát triển đất nước, còn
sử dụng kém hiệu quả có thể dẫn nước tới nợ nần chồng chất và thế hệ mai sau phải
gánh trách nhiệm trả nợ, vì thế, phải có những biện pháp phản quản lý sử dụng nợ
công một cách đúng đắn.
1.4Tình hình trả nợ công
Từ năm 2005 tới nay, tình hình trả nợ công của nước ta không ổn định. Quy mô
của các khoản nợ ngày càng tăng (20%/năm) trong khi tỷ lệ trả nợ/tổng nợ giảm dần
qua các năm (9,1% năm 2005 xuống còn 6,53% năm 2010). Trung bình hàng năm Việt
Nam dành ra trên 3,5% GDP để chi trả nợ và viện trợ. Hơn nữa, với thực trạng sử
dụng vốn công kém hiệu quả như đã trình bày ở trên, thì khả năng trả nợ trong tương
lai của chúng ta cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Dưới đây là một số thống kê về nợ
và trả nợ công ở Việt Nam:
Bảng 2: Dư nợ và tổng trả nợ nước ngoài của Chính phủ
và được Chính phủ bảo lãnh 2006-1010 (Triệu USD)
2006 2007 2008 2009 2010
Dư nợ 15,641.33 19,252.55 21,816.50 27,928.67 32,500.51
Tổng trả nợ
trong kỳ
764.5 885.9 1,104.08 1,290.93 1,672.32
Tổng trả lãi
và phí trong
kỳ
329 381.07 424.39 484.38 616.23
Trích nguồn từ Bản tin nợ nước ngoài số 07 (11/08/2011) - Bộ Tài Chính Việt Nam
Nhóm 1 Lớp KTE406(1-1112).1_LT
15
Tiểu luận: Quản lí nợ công ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011
Nguồn: Tổng cục thống kê
Cho dù hiện nay tổng khối lượng nợ công vẫn được cho là nằm trong ngưỡng
Trong thời gian gần đây, công tác quản lý nợ của Việt Nam đã đạt được những
tiến bộ đáng kể, góp phần ổn định và phát triển kinh tế đất nước, cụ thể là: Thông qua
hoạt động vay nợ, Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp đã huy động được
nguồn vốn khá lớn cho đầu tư phát triển, đồng thời vẫn đảm bảo quản lý nợ trong các
giới hạn an toàn. Hoạt động huy động vốn trong nước của Chính phủ thông qua phát
hành tín phiếu, trái phiếu Chính phủ cũng đã giúp hình thành thị trường trái phiếu
Chính phủ trong nước, một thành tố khá quan trọng để hình thành thị trường tài chính
hoàn chỉnh. Trái phiếu Chính phủ được niêm yết và giao dịch trên thị trường chứng
khoán đã góp phần làm tăng tính thanh khoản của thị trường trái phiếu Chính phủ nói
riêng và phát triển thị trường vốn trong nước nói chung. Trong công tác quản lý nợ,
các văn bản pháp lý ngày càng được hoàn thiện, đồng bộ hơn và tiến gần đến các
chuẩn mực và thông lệ quốc tế, nhất là trong lĩnh vực quản lý nợ nước ngoài. Chính
phủ đã thực hiện nguyên tắc thống nhất quản lý nợ Chính phủ, nợ quốc gia trên cơ sở
phân công, xác định trách nhiệm rõ ràng hơn giữa các cơ quan quản lý. Công tác trả nợ
Chính phủ trong và ngoài nước luôn được thực hiện đầy đủ, đúng hạn, không để xảy ra
nợ quá hạn như những năm về trước. Việc tích cực đàm phán xử lý các khoản nợ cũ
với các chủ nợ nước ngoài đã giúp làm giảm nghĩa vụ đáng kể nghĩa vụ nợ của Việt
Nam.
2.2Những chính sách quản lý đã và đang áp dụng.
Nợ công cần phải được sử dụng hợp lý, hiệu quả và đặc biệt là phải được quản lý
tốt, nếu không thì khủng hoảng nợ công có thể xảy ra với bất cứ quốc gia nào tại bất
cứ thời điểm nào và để lại những hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên phải cho đến năm
2009, Việt Nam mới có Luật Quản lý nợ nhà nước (còn gọi là nợ công). Trước đó
Nhóm 1 Lớp KTE406(1-1112).1_LT
17
Tiểu luận: Quản lí nợ công ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011
việc quản lý nợ công chủ yếu là các Nghị định của Chính phủ. Có thể liệt kê một số
văn bản có quy định liên quan đến nợ và quản lý nợ nhà nước, nợ công như sau:
Đối với vay nợ trong nước của Chính phủ và một số chủ thể khu vực công, văn
bản cao nhất điều chỉnh vay nợ trong nước của Chính phủ là Pháp lệnh số 12/1999/PL-
3. Tổ chức huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công đúng mục
đích, hiệu quả, bảo đảm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.
4. Giám sát việc huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay, trả nợ, quản lý nợ công,
quản lý rủi ro tài khoá, bảo đảm an toàn nợ và an ninh tài chính quốc gia.
5. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay, hiệu quả quản lý nợ công.
6. Tổng hợp, báo cáo, công bố thông tin về nợ công.
7. Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về quản lý nợ công.
8. Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về quản lý nợ công.
9. Xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong việc thực hiện pháp luật về
quản lý nợ công.
10.Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nợ công.
11.Hợp tác quốc tế trong quản lý nợ công.
(Điều 4, Luật quản lý nợ công ngày 17 tháng 6 năm 2009)
Luật nợ công đã ra đời nhưng để đảm bảo việc các cơ quan, ban, ngành có thể thi
hành tốt những điều lệ của Luật thì bên cạnh đó phải có những nghị định của Chính
phủ, quyết định của thủ tướng chính phủ và những thông tư của các cơ quan ngang Bộ
để hướng dẫn việc thi hành luật, và công tác xây dựng, soạn thảo các văn bản hướng
dẫn quy trình nghiệp vụ quản lý đang được khẩn trương triển khai. Sau đây là một số
nghị và thông tư đã được ban hành và đi vào thực hiện:
Nghị định về cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ.
Kể từ ngày 30/8/2010, các quy định về điều kiện, quy trình, thủ tục và trách
nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc cho vay lại nguồn vốn vay nước
ngoài của Chính phủ sẽ được thực hiện theo Nghị định số 78/2010/NĐ-CP ngày
14/7/2010. Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan
đến hoạt động cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ. Nghị định nêu rõ,
lãi suất cho vay lại vốn vay thương mại, vay ưu đãi bằng lãi suất vay nước ngoài.
Nghị định quy định về nghiệp vụ quản lý nợ công
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 79/2010/NĐ-CP ngày 14/7/2010 về
nghiệp vụ quản lý nợ công. Theo Nghị định về nghiệp vụ quản lý nợ công, Chính phủ
thống nhất quản lý toàn diện nợ công thông qua 4 công cụ. Cụ thể, các công cụ đó là:
hệ tương lai. Sự quyết định tăng hay giảm nợ công của quốc gia đều có liên quan đến
các khía cạnh đó.
3.1 Về tính ổn định của nợ công
Xác định mức độ ổn định nợ và dịch vụ nợ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc
quyết định xem nên tăng thêm nợ hay giảm nợ, hoặc lựa chọn nguồn vốn nào tài trợ
cho thích hợp.
Nhóm 1 Lớp KTE406(1-1112).1_LT
20
Tiểu luận: Quản lí nợ công ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011
3.1.1 Đánh giá nợ nước ngoài:
Việc đánh giá tính bền vững của nợ nước ngoài được thực hiện qua các chỉ tiêu
sau:
-Tỷ lệ nợ nước ngoài/xuất khẩu (NPV/X): Đo lường giá trị hiện tại ròng của nợ
nước ngoài liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia lấy từ nguồn thu xuất khẩu.
-Tỷ lệ nợ nước ngoài/thu ngân sách Nhà nước (NPV/DBR): Đo lường giá trị
hiện tại ròng của nợ nước ngoài liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia lấy từ
nguồn thu ngân sách Nhà nước.
Tuy nhiên, chỉ tiêu thứ hai chỉ được sử dụng nếu như đáp ứng được hai điều
kiện: tỷ lệ xuất khẩu /GDP (X/GDP) phải lớn hơn hoặc bằng 30%; tỷ lệ thu ngân sách
nhà nước/GDP (DBR/GDP) phải lơn hơn 15%. Một quốc gia được xem là an toàn nếu
tỷ lệ NPV/X nhỏ hơn 150% và tỷ lệ NPV/DBR nhỏ hơn 250% (theo tiêu chuẩn của
HIPCs).
Bảng 3: Một số chỉ số đánh giá tính ổn định của nợ nước ngoài của Việt
Nam năm 2005 -2010 theo mức ngưỡng của HIPCs (%)
2005 2006 2007 2008 2009 2010 Trung bình
NPV/X 51,03 50,91 45,96 35,44 51,41 40,49 47,19
NPV/DBR 92,48 89,96 81,29 67,56 137,74 101,28 98,10
NPV/GDP 31,28 33,07 30,72 24,12 30,79 28,43 30,10
X/GDP 61,28 64,95 66,84 68,06 59,88 70,23 64,28
DBR/GDP 33,82 36,76 37,79 35,71 22,35 28,08 31,75
Nợ trong nước/DBR cũng thấp hơn nhưng khá sát với ngưỡng an toàn 92%. Do đó, nợ
trong nước của Việt Nam được đánh giá là ổn định.
3.2 Tính công bằng về gánh nặng nợ liên thế hệ
Hiện giờ, tuy nợ công của Việt Nam đúng là vẫn còn nằm trong tầm kiểm soát,
nhưng nhìn lại những năm gần đây, món nợ công này đã tăng nhanh một cách đáng
ngại, khoảng 23% tính từ năm 2007 đến cuối năm 2010, tức là trung bình tăng gần 6%
mỗi năm ( Số liệu Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia: nợ công 2007: 33,8% GDP,
2008: 36,2% GDP, 2009: 41,9%, 2010: 56,7% GDP và 2011 dự báo 58,7% GDP ). Nợ
công tăng nhanh trong bối cảnh mà ngân sách của Việt Nam luôn bị thâm hụt, buộc
chính phủ phải vay nợ thêm, cho nên nợ nần sẽ chồng chất, lãi mẹ đẻ lãi con. Hơn nữa,
có thể thấy rằng Việt Nam vay nợ để đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội, song hiệu
quả đầu tư thấp khiến nguồn thu hồi để trả nợ trong tương lai từ các dự án này thấp và
bị hạn chế. Các khoản vay và chi tiêu hiện tại của chính phủ không tạo nên nguồn thu
hiệu quả trong tương lai, chúng làm tăng sức ép lên bội chi mới. Điều này vi phạm một
nguyên tắc cơ bản của quản lý nợ công, đó là nợ ngày hôm nay phải được trang trải
bằng thặng dư ngân sách ngày mai. Hậu quả là, thế hệ tương lai sẽ phải chịu gánh
nặng nợ cao hơn thế hệ hiện tại. Hay nói cách khác, tính công bằng liên thế hệ về gánh
nặng nợ ở Việt Nam được đánh giá là thấp.
Tóm lại, về quản lý nợ công, có thể khẳng định rằng Việt Nam đang lựa chọn
chiến lược phòng thủ nợ, cố gắng đưa các chỉ số nợ nằm trong giới hạn an toàn theo
mức ngưỡng của các nước HIPCs, chứ chưa hướng đến xây dựng một chiến lược thích
nghi với tình hình mới trong bối cảnh hội nhập của nền kinh tế. Các dự án đầu tư từ
Nhóm 1 Lớp KTE406(1-1112).1_LT
22
Tiểu luận: Quản lí nợ công ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011
nguồn vốn khu vực công, trong đó có nợ, mặc dù có sự đóng góp đáng kể đến tăng
trưởng kinh tế trong thời gian qua. Song, nếu tính đến bài toán công bằng giữa các thế
hệ thì quản lý nợ công của Việt Nam còn kém hiệu quả, cần phải được cải thiện trong
thời gian tới.
Nhóm 1 Lớp KTE406(1-1112).1_LT
rằng các yếu tố tâm lý tác động rất nhiều đến thị trường Việt Nam, vấn đề ở đây không
phải là tâm lý đám đông mà là niềm tin – niềm tin của người dân vào đồng nội tệ. Qua
bài học Hy Lạp, giới đầu tư và thế giới tỏ ra rất nhạy cảm với lối cư xử thiếu minh
bạch của chính quyền đi vay. Kiểu tính toán không đúng, không đủ có hệ thống luôn
Nhóm 1 Lớp KTE406(1-1112).1_LT
24
Tiểu luận: Quản lí nợ công ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011
ẩn chứa sự khuất tất, thiếu thiện chí trong chi trả. Những số liệu khập khiễng được
công bố trong nước chỉ dẫn đến bế tắc, vô giá trị trong việc tái dựng toàn cảnh thực
trạng nợ công Việt Nam. Ứng dụng các số liệu bên ngoài là cách bất đắc dĩ khi bàn
chuyện nội tình, song tính đến thời điểm hiện nay, đó là phương cách ứng dụng khả tín
nhất.
Hai là, chúng ta cần xây dựng kế hoạch vay nợ công phù hợp với chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch thu, chi ngân sách nhà nước trong từng giai
đoạn, thời kỳ. Trong một bài phỏng vấn tháng 10/2011, chuyên gia kinh tế Bùi Kiến
Thành cho rằng: Muốn làm giảm nợ công thì trước nhất “ Nhà nước phải xem lại tất cả
các công trình đầu tư, cái nào cần và cái gì chưa cần. Vừa qua phân cấp, phân quyền
cho các địa phương nhưng địa phương làm vì quyền lợi của địa phương chứ không
phải vì quyền lợi của toàn quốc gia. Dẫn đến mỗi địa phương lại có một cái cảng, địa
phương đua nhau làm sân bay ” Cho nên, cần xác định rõ mục đích vay (để tài trợ
thâm hụt ngân sách, tái cơ cấu nợ và cho vay lại, tài trợ cho các chương trình, dự án
đầu tư quan trọng, hay nhằm đảm bảo an ninh tài chính quốc gia), mức huy động vốn
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn theo từng đối tượng vay với hình thức huy động vốn và
lãi suất thích hợp. Kế hoạch về vay nợ công cũng cần quy định rõ đối tượng sử dụng
các khoản vay, hiệu quả dự kiến; xác định thời điểm vay, số vốn vay từng giai đoạn,
tránh tình trạng tiền vay không được sử dụng trong thời gian dài hoặc chưa thực sự có
nhu cầu sử dụng.
Ba là, đảm bảo tính bền vững về quy mô và tốc độ tăng trưởng của nợ công,
có khả năng thanh toán trong nhiều tình huống khác nhau và hạn chế rủi ro, chi
phí. Muốn vậy, cần thiết lập ngưỡng an toàn nợ công; đồng thời thường xuyên đánh