Viện Kiểm định Quốc gia vắc-xin và sinh phẩm y tế Báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ:
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về tính an
toàn và đáp ứng kháng thể của vắc-xin bại
liệt bất hoạt từ chủng Sabin Chủ nhiệm đề tài: Lê Văn Phủng
7959 Hà nội - 2007
thanh toán được bệnh bại liệt năm 2000, nhưng do virut bại liệt hoang dại t
ừ
Trung Phi xâm nhập vào đã gây ra những ca bại liệt mới, lan tràn thành vụ
dịch nhỏ, có tới hơn 300 ca mắc bại liệt do virut hoang dại và hơn 40 trường
2
hợp có liên quan đến virut vắc xin. Như vậy để bảo vệ được thành quả thanh
toán bệnh bại liệt là vô cùng khó khăn. Trước tình hình đó, Tổ chức Y tế Thế
giới khuyến cáo rằng, từ nay đến 2010, tất cả các nước vẫn sử dụng OPV
hoặc IPV, nhưng từ sau 2010 chỉ sử dụng vắc xin IPV để phòng bệnh bại
liệt.
Ở nước ta, nếu sử dụng IPV nh
ập ngoại cho trẻ em dưới 1 tuổi thì rất
khó khăn về kinh phí (350 tỷ đồng /năm). Về sản xuất, với điều kiện cơ sở
vật chất chưa đảm bảo đủ độ an toàn như hiện nay, Việt Nam chưa thể dùng
chủng virut bại liệt hoang dại, vì trong quá trình này, virut hoang dại có thể
bị thải ra ngoài, là nguy cơ gây nên dịch bại liệt.
Xuất phát từ tình hình đó, Trung tâm Nghiên cứu S
ản xuất vắc xin và
sinh phẩm y tế đã nghiên cứu sản xuất vắc xin bại liệt bất hoạt dùng chủng
giảm độc lực của Sabin theo công nghệ của Nhật Bản để phục vụ cho trẻ em
của Việt Nam. Để được cấp phép sử dụng, sản phẩm phải được nghiên cứu
thử nghiệm lâm sàng. Mục tiêu của đề tài này là:
1. Thực địa giai đo
ạn 1: Đánh giá tính an toàn của vắc xin IPVs
trên người lớn tình nguyện;
2. Thực địa giai đoạn 2: Đánh giá tính an toàn và đáp ứng miễn
dịch trên trẻ em.
tiểu đơn vị được cấu tạo bởi một trong 4 chuỗi polypeptit là VP1, VP2, VP3
và VP4 [65, 77]. Bằng phương pháp hiển vi điện tử và siêu cấu trúc, người ta
biết chi tiết về cấu trúc của hạt virut hoàn chỉnh. 4
1.1.3. Tính chất miễn dịch học
Miễn dịch thụ động được truyền từ mẹ sang con. Kháng thể này chỉ xuất
hiện ở trẻ sơ sinh sau đó giảm dần và biến mất khi trẻ được 6 tháng tuổi [72].
Miễn dịch chủ động là sự đáp ứng miễn dịch (ĐƯMD) khi cơ thể bị
nhiễm virut tự nhiên hay do dùng vắc xin. Đây là loại miễn dịch quan tr
ọng
mà loài người đã biết ứng dụng để phòng bệnh bằng cách dùng vắc xin. Khi
cơ thể bị nhiễm VRBL hoặc dùng vắc xin, cơ thể sẽ tạo ra miễn dịch đặc
hiệu chống lại VRBL với miễn dịch dịch thể là chủ yếu (IgM, IgG và IgA).
Những người bị thiếu hụt miễn dịch, khi bị nhiễm VRBL, kể cả virut
vắc xin Sabin đều có nguy cơ mắc b
ệnh Bại liệt [8]. Chính vì vậy mà vắc xin
Sabin bị chống chỉ định đối với những người này. Còn đối với vắc xin IPV
có thể dùng được cả khi người đó có nguy cơ mắc bệnh cao.
Một số yếu tố làm giảm khả năng miễn dịch tại chỗ như những người
cắt bỏ tuyến giáp và tuyến hạnh nhân [8]. Trong một số vụ dịch, người ta
th
ấy, trẻ em dưới 5 tuổi, phụ nữ có thai, trẻ suy dinh dưỡng có tỷ lệ mắc
bệnh cao hơn [15, 77].
1.1.4. Sự nhân lên của VRBL trong tế bào cảm thụ
VRBL cũng giống như các virut khác, bắt buộc phải nhân lên trong tế
bào cảm thụ. Dựa vào tính chất này mà người ta đã phân lập và nghiên cứu
sâu được về virut và sản xuất vắc xin.
Sự nhân lên của VRBL đã được biết từ năm 1913. Dựa vào tính ưa tế
ca bạ
i liệt chiếm tỷ lệ 3,9/100.000 dân; đến năm 1965, tỷ lệ này chỉ còn
0,66/100.000 dân, giảm gần 6 lần [11].
Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, năm 1975 bệnh
Bại liệt xuất hiện ở nhiều nơi trong cả nước, nhất là các tỉnh phía Nam [8].
Năm 1981 Việt Nam tiến hành chương trình tiêm chủng cho trẻ dưới 1
tuổi. Đến năm 1986 chương trình được mở rộng trên phạm vi cả nướ
c và
chương trình uống vắc xin phòng Bại liệt đã đạt được kết quả cao. Trong
những năm 80 đạt 87% và trong những năm 90 đạt trên 90%. Kể từ năm 1993,
hàng năm còn tổ chức 2 đợt vào những ngày tiêm chủng toàn quốc cho trẻ
dưới 5 tuổi uống 2 liều vắc xin Bại liệt đạt trên 99%. Do đó tình hình mắc
bệnh Bại liệt giảm đi rõ rệt: Năm 1993, năm bắt đầu chiế
n dịch những ngày
tiêm chủng toàn quốc, có 152 ca Bại liệt trong toàn quốc. Năm 1994 còn 31
6
ca, năm 1995 còn 12 ca, đến 1996 chỉ còn 2 ca và năm 1997 chỉ còn 1 ca. Từ
đó đến nay không còn ca Bại liệt do virut hoang dại nào được phát hiện.
1.3. Vắc xin phòng bệnh bại liệt
1.3.1. Lịch sử vắc xin Bại liệt
Hiện nay trên thị trường có 2 loại vắc xin Bại liệt:
- Vắc xin chết (còn được gọi là vắc xin Bại liệt bất hoạt): được làm
từ những hạt virut đã bị bất hoạt không có kh
ả năng gây nhiễm trùng.
- Vắc xin sống giảm độc lực: được làm từ những hạt virut còn khả
năng gây nhiễm nhưng đã được làm giảm độc lực đến mức không còn khả
năng gây bệnh nữa.
* Trước năm 1955
Những thông báo sớm nhất về sự gây được miễn dịch cho người đối với
chứng minh một cách rõ ràng khi người ta thay thế Merthiolate bằng chất
khác.
* Sau năm 1955
Tiếp theo cuộc thử nghiệm trên thực địa tháng 4/1955, vào trước mùa
dịch Bại liệt, vắc xin Bại liệt bất ho
ạt IPV đã được dùng ở Mỹ. Đến năm
1961, số trẻ mắc bệnh giảm 90% so với giai đoạn trước khi dùng vắc xin.
Kết quả này đạt được khi 54% dân số đã nhận đủ 3 hoặc hơn 3 liều vắc xin
bất hoạt, chủ yếu là trẻ em.
Tiếp sau đó, IPV đã được sản xuất và sử dụng ở nhiều nước trên thế
giới. Cho đến nay, nó v
ẫn là một trong hai vắc xin chủ yếu phòng Bại liệt.
Do những ưu điểm của nó mà có một số ý kiến cho rằng, sau khi thanh toán
Bại liệt trên toàn thế giới sẽ chỉ dùng IPV trong 2 đến 3 năm liên tiếp.
1.3.2. Sản xuất vắc xin Bại liệt bất hoạt
Phương pháp sản xuất, tinh chế, kiểm định vắc xin Bại liệt bất hoạt đã
có nhiều tiến bộ và thay đổi so v
ới phương pháp được sử dụng trong thời
gian đầu.
Ban đầu vắc xin được sản xuất trên nuôi cấy tế bào thận khỉ tiên phát
trong những chai nhỏ (Chai dẹt, dung tích 1,2-1,5 lít). Nhưng ngày nay nó đã
được nuôi cấy trên những bình lớn (Tank) với những vật mang vi thể
(Microcarier) [45] . Đó là những hạt thủy tinh hình cầu có kích thước khoảng
1 micro mét. Có 3 loại tế bào được sử dụng, đó là tế bào thận khỉ thứ phát
8
(đã được cấy truyền), tế bào Vero có nguồn gốc từ tế bào thận khỉ xanh châu
Phi, và tế bào lưỡng bội có nguồi gốc từ người (MRC-5). Chất lượng của
kháng nguyên được tạo ra từ những dòng tế bào này đều như nhau. Bước
tiếp theo của qui trình sản xuất là cô đặc nước nổi, tinh chế và bất hoạt bằng
số người được bảo vệ bằng vắc xin đã được thực hiện vào năm 1959. Vào
9
năm 1955, một vụ dịch Bại liệt đã bùng nổ ở Mỹ mà người ta nghi là do liên
quan đến số liều vắc xin được tiêm. Nhưng thực tế đây là do vắc xin không
đủ độ an toàn.
Bảng 1.1: Tỷ lệ trẻ 0-4 tuổi mắc Bại liệt liên quan đến số liều vắc xin tiêm
Không
tiêm
Tiêm 1
mũi
Tiêm 2
mũi
Tiêm 3
mũi
Tiêm 4
mũi
Số người (triệu) 4,7 1,3 3,6 7,4 3,6
Số ca mắc 1508 234 209 267 51
Tỷ lệ/
100.000 dân
32,1 18,0 5,8 3,6 1,4
Bảng 1.1 chỉ ra con số ước tính của các cá thể từ 0-4 tuổi không được
tiêm vắc xin hoặc nhận 1 hay nhiều liều vắc xin và số ca mắc Bại liệt trong
mỗi nhóm. Với những số liệu này có thể suy ra, vắc xin được sử dụng từ
năm 1955-1959 có thể bảo vệ gần 55% sau liều thứ nhất, 80% sau 2 liều,
91% sau 3 liều và 96% sau 4 liều, còn lại 4% không được bảo vệ. Từ mối
quan hệ
này có gợi ý rằng vắc xin có hiệu giá cao hơn có thể sẽ bảo vệ với tỷ
lệ lớn hơn với số liều ít hơn, và theo lý thuyết thì sẽ có một vắc xin mà có
của virut ở hầu họng và ruột được. Khi bị nhiễm virut Bại liệt hoang dại,
những người được tiêm IPV vẫn đào thải virut ra ngoài và trở thành một
nguồn lây nguy hiểm. Hay nói cách khác, IPV chỉ có thể bảo vệ cho từng cá
nhân riêng lẻ.
Vắc xin sống giảm độc lực (OPV)
OPV đã được sử dụng rộng rãi vì rất dễ sử
dụng và giá thành rẻ. OPV
không chỉ tạo ra kháng thể trong huyết thanh mà còn tạo ra kháng thể tại chỗ
ở ruột và tạo ra kháng thể bền vững giống như bị nhiễm virut tự nhiên.
TCYTTG đã dùng OPV cho chương trình TCMR trên toàn thế giới.
Khoảng trên 80% trẻ em dưới 1 tuổi trên thế giới đã được gây miễn dịch cơ
bản bằng OPV và virut Bại liệt hoang dại đã dần dần không còn tồn tại trong
tự nhiên nữ
a.
Sự ĐƯKT của trẻ sơ sinh thấp hơn so với những trẻ lớn hơn. Khoảng
70% số trẻ sơ sinh có ĐƯMD tại chỗ trong ruột và 30-50% trẻ sơ sinh tạo
được kháng thể trong máu đối với 1 hoặc 3 typ. Nhưng những trẻ này sẽ tạo
được miễn dịch đầy đủ trong những lần uống OPV tiếp theo.
11
Nhược điểm cơ bản của OPV là có thể gây ra bệnh Bại liệt do vắc xin
với tỷ lệ khoảng 1 trường hợp trên 1 đến 2 triệu liều được uống. Trong khi đó
IPV không gây ra tai biến này.
Vấn đề kết hợp hai loại vắc xin này:
Ở một số nước như Đan Mạch, Israel, người ta đã kết hợp 2 loại vắc
xin IPV và OPV trong việc gây miễn dịch cho tr
ẻ. Chiến lược này đã được
thực hiện thành công ở một số vùng có nguy cơ cao ở Trung Đông, nơi có
khả năng du nhập virut hoang dại từ ngoài vào. Một nghiên cứu trên những
thanh niên trẻ ở Israel năm 1988 đã chỉ ra rằng: Nếu chỉ dùng IPV thì không
- Đối với những nước dùng OPV: Phải điều tra xem virut Sabin có độc
lực có trở lại lưu hành không sau khi đã ngừng uống OPV.
+ Nếu có: Từ năm 2003 ph
ải chuyển toàn bộ sang dùng IPV cho đến
hết năm 2004.
+ Nếu không: Tiếp tục cho uống OPV cho đến năm 2005. Hoặc từ
năm 2003 cho uống BOPV (chỉ có Sabin 1 và 3) cho đến năm 2005. Hoặc
cho uống Sabin đơn giá typ 1 và typ 3 cho đến năm 2005. Trong thời gian đó
giám sát hoạt động của virut polio typ 2 trong tự nhiên.
1.4. Thanh toán Bại liệt ở Việt Nam
Việt Nam đã đưa OPV vào sử dụng từ trên 40 năm nay. Khả năng bảo
vệ của OPV do nướ
c ta sản xuất đạt >90% và bệnh bại liệt đã giảm đến mức
không còn nữa. Số ca mắc bại liệt đã giảm dần kể từ khi có vắc xin. Năm
1993 có 157 ca bệnh bại liệt do virut bại liệt hoang dại. Đến năm 1994 còn
31 ca, năm 1995 còn 12 ca, năm 1996 còn 2 ca và năm 1997 còn 1 ca. Từ đó
đến nay chưa phát hiện một trường hợp bại liệt do virut hoang dại nào nữa.
Từ năm 1993 đến nay t
ỷ lệ uống OPV3 luôn đạt >90% và tỷ lệ uống bổ sung
cho trẻ <5 tuổi luôn đạt gần 100%. Chúng ta có 2 phòng thí nghiệm chuẩn
thức để chẩn đoán virut bại liệt ở Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, và một hệ
thống giám sát liệt mềm cấp đến tận cơ sở với hệ thống sổ sách theo dõi cẩn
thận, chế độ báo cáo thường xuyên. Kết quả của việc sử dụng vắ
c xin OPV
là Việt Nam đã thanh toán được bệnh Bại liệt vào tháng 10 năm 2000.
13
- Sự cô đặc virut bằng siêu lọc còn lại 60 - 80%.
- Sự cô đặc virut bằng siêu ly tâm còn lại 50-75%.
- Kháng nguyên D thu được trước và sau khi bất hoạt là 70-80%.
- Tổng số thu được từ virut ban đầu đến khi bất hoạt xong khoảng 30-
50%. Trong một liều 0,5 ml kháng nguyên D có:
Typ I: 3 đơn vị
Typ II và III: 100 đơn vị
14
- Sau quá trình tinh chế (làm sạch), các thông số thu được tương tự như tiêu
chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới đòi hỏi.
- Tính ổn định của vắc xin IPV sản xuất từ chủng Sabin: được nghiên
cứu ở các nhiệt độ -20
o
C, 4
o
C, và 36
o
C.
+ Ở 4
o
C ổn định, không giảm hiệu giá sau 2 năm.
+ Ở 36
o
C hiệu giá giảm từ từ, nhưng không quá 12 tháng.
+ Giữ ở - 20
0
C, không thích hợp với S-IPV và không bền ở 37
0
C.
quan đến vắc xin.
1.6. Tình hình sử dụng IPV và OPV ở Mỹ và các nước khác
- Vắc xin bại liệt bất hoạt hiện nay đượ
c khuyến cáo sử dụng ở Mỹ.
- Cho đến những năm gần đây, Mỹ vẫn dùng OPV vì nó dễ cung cấp, giá
không đắt và bảo vệ người trong cộng đồng hiệu quả hơn IPV. OPV là vắc xin
15
dạng nước dùng cho trẻ em qua đường uống, chứa virut sống giảm độc nhưng
cũng có một số rất nhỏ có thể đột biến và gây nên liệt cho trẻ em sau khi dùng vắc
xin. Cứ khoảng 3 triệu trẻ em được uống vắc xin có thể có 1 trẻ bị liệt.
- Ở Mỹ, OPV được dùng với qui mô lớn và thấy hiệu quả hơn IPV, khi
virut bại liệt hoang dại vẫn có mặt. Hiện nay, virut b
ại liệt hoang dại đã được
thanh toán khỏi miền Bắc và miền Nam nước Mỹ, IPV được khuyến cáo để thay
cho OPV bởi vì IPV chứa virut chết, nó không thể đột biến và gây nên tai biến
liệt. Vì vậy, sẽ không có rủi ro liên quan đến tiêm vắc xin IPV.
- Mặc dù virut bại liệt hoang dại được thanh toán ở Mỹ đã trên 20 năm,
nhưng các quốc gia ở Tây bán cầu và một số nơi khác trên thế giới bệnh vẫn
còn rấ
t phổ biến. Các vụ dịch bại liệt vẫn còn xuất hiện ở châu Á, châu Phi. Vì
vậy nước Mỹ vẫn tiếp tục dùng vắc xin.
- Theo Tổ chức Y tế Thế giới, mục tiêu đặt ra là hướng tới thanh toán bệnh
Bại liệt trên toàn thế giới vào năm 2005. Nếu mục tiêu đó đạt được và có thể
khẳng định rằng bại liệt đã được thanh toán, thì vắc xin bại liệt s
ẽ không cần thiết
phải sử dụng lâu dài nữa (giống như vắc xin phòng bệnh đậu mùa), nhưng cho
đến nay bệnh bại liệt do virut hoang dại đang còn lưu hành ở một số nước như Ấn
Độ, Pakistan, vùng Caribe và châu Phi. Gần đây nhất đã có tới hơn 300 ca mắc bại
liệt ở Indonesia, do vậy việc dùng vắc xin uống vẫn cần thiết. Tuy nhiên, ở một số
Foamy, kháng thể bại liệt
3 typ
Tách tế bào
thận khỉ tiên
phát
Nuôi trên chai
thuỷ tinh
- Quan sát tế bào đối
chứng
- Hấp phụ hồng cầu
Mẫu nước nổi được kiểm
tra:
- Vô trùng
- Phát hiện trực khuẩn
Lao
- Tác nhân ngoại lai trên
4 loại tế bào: Hep
2
C,
Vero, thận khỉ cùng loài,
thận thỏ sơ sinh
Tế bào vero (ATCC)
Vero đời cấy truyền thứ 124: 1 ampul
↓
Cô đặc vắc xin Kiểm tra vô trùng
bằng hệ thống siêu lọc Kiểm tra hiệu giá (phương pháp vi lượng)
(Ultra filtration) Thử nghiệm nhận dạng
Cô đặc virut vắc xin bằng Kiểm tra hiệu giá của virut
siêu ly tâm
(Ultra centrifugation)
36.000vòng/phút/4giờ
Tinh khiết Kiểm tra tính tinh khiết của virut
(cột DEAE Sepharose CL-6B)(Bằng điện di hoặc kính hiển vi điện tử)
Bất hoạt Kiểm tra độ bất hoạt
(Formalin tỷ lệ 1:4000) Kiểm tra virut bại liệt sống tồn dư
37
0
C/12 ngày
Vắc xin đơn giá Kiểm tra vô trùng
sau bất hoạt Định lượng D-antigen
Thử nghiệm nhận dạng
Sản phẩm vắc xin cuối cùng Kiểm tra vô trùng
(pha vắc xin tam liên Định lượng D-antigen
và đóng ống) Kiểm tra chất gây sốt
Kiểm tra lượng Formaldehyde tồn dư
Đo pH
Kiểm tra độc tố trên chuột nhắt
Kiểm tra tính gây miễn dịch trên khỉ
Kiểm tra Protein toàn phần 18
1.8. Chiến lược sử dụng vắc xin IPV trên thế giới - liều dùng khuyến cáo
- Trẻ em dùng 4 liều IPV ở các lứa tuổi:
19
- Bất kỳ ai đã bị ốm nặng trong lịch trình tiêm phải chờ khỏi mới tiêm
IPV. Tuy vậy, nếu cảm lạnh thì vẫn có thể tiêm được.
Những rủi ro khi dùng IPV:
- Sưng tại chỗ tiêm, ngoài ra hiện nay chưa phát hiện có vấn đề gì
khác khi tiêm IPV
Dùng IPV
- An toàn cho bệnh nhân bị HIV (suy giảm miễn dịch) và mang thai.
Không dùng OPV cho những bệnh nhân trên.
Những khuyến nghị sử dụng vắc xin Bại liệt hiện nay (WHO- 2002
và CDC Atlanta - Mỹ
)
Có 3 cách sử dụng vắc xin (dùng 4 liều theo thời gian ghi trên)
Cách 1: 2 liều tiêm IPV và 2 liều tiếp theo là OPV (Liều 1,2: IPV; liều
3,4: OPV)
Cách 2: Dùng hoàn toàn IPV (4 liều đều tiêm IPV).
Cách 3: Dùng hoàn toàn OPV (4 liều đều dùng OPV).
* Các nước đã sử dụng vắc xin bại liệt bất hoạt (IPV): Mỹ, Ireland,
Đức, Pháp, Đan Mạch, Nhật Bản.
* Giá vắc xin IPV
- Do xu hướng trên thế giới sử dụng vắc xin hỗn hợp vắc xin bại liệt bất
hoạt v
ới các vắc xin khác như bạch hầu, ho gà, uốn ván, nên không có đơn giá
của vắc xin bại liệt bất hoạt.
- Vắc xin bại liệt bất hoạt được Sanofi Pasteur chào với giá một liều
vắc xin bán thành phẩm là khoảng 3 USD. Tại Việt Nam, 1 liều vắc xin bại
liệt bất hoạt giá (đại lý): 54.500đ/liều; Giá đến người sử dụng: 70.000đ/liều
(2005). CDC cho rằng vắc xin bại liệt bất hoạt (IPV)
đắt gấp 5 lần vắc xin
phải đạt các tiêu chuẩn về lựa chọn đối tượng.
Cho thử nghiệm giai đoạn 2:
- Trẻ em từ 2-7 tuổi, khỏe mạnh, không mắc những bệnh gây suy giảm
miễn dịch, không bị suy dinh dưỡng, không bị dị tật bẩm sinh, không
mắc những bệnh cấp tính.
21
- Trẻ có bố hoặc mẹ, hoặc người bảo trợ của trẻ đồng ý cho trẻ tham gia
vào nhóm nghiên cứu.
- Trẻ được khám sức khỏe trước khi tham gia vào nghiên cứu và phải
đạt các tiêu chuẩn về lựa chọn đối tượng.
2.2.3. Tiêu chuẩn loại trừ (chung cho cả 2 giai đoạn)
- Đang tham gia vào một nghiên cứu về thuốc hoặc vắc xin khác,
- Sử dụng thuốc gi
ảm miễn dịch trong vòng 6 tháng trước khi bắt đầu
tiêm vắc xin,
- Mắc các bệnh suy giảm miễn dịch,
- Sử dụng một vắc xin khác trong vòng 30 ngày trước khi bắt đầu tiêm
vắc xin nghiên cứu,
- Có tiền sử dị ứng với bất cứ thành phần nào của vắc xin,
- Đang bị bệnh cấp tính,
- Sử dụng globulin miễn dịch hoặc các chế phẩm củ
a máu trong vòng 3
tháng trước khi tiêm vắc xin.
- Có xét nghiệm HIV dương tính.
2.3. Vắc xin nghiên cứu
2.3.1. Vắc xin sử dụng cho nhóm nghiên cứu
Là vắc xin IPV do Trung tâm Nghiên cứu Vắc xin và Sinh phẩm Y tế sản
xuất.
Số lô: 0105
tiêm phải theo dõi sự kiện bất lợi sau tiêm trong thời gian 1 tháng. Thu thập
số liệu dựa trên phiếu theo dõi sự kiện bất lợi sau tiêm. Kết quả nghiên cứu
giai đoạn 1 được đưa ra thẩm định và đánh giá trước Hội đồng Khoa học Bộ
Y tế. Sau khi kết quả giai đoạn 1 đạt yêu cầu mới tiếp tục tiến hành thử
nghiệm lâm sàng giai đoạn 2.
Phác đồ tiêm vắc xin giai
đoạn 1:
Khám
SK
Mũi 1 Theo dõi
30 ngày
Mũi 2 Theo dõi
30 ngày
Mũi 3 Theo dõi
30 ngày
2.4.1.2. Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2
Áp dụng thiết kế nghiên cứu ngẫu nhiên, có đối chứng, 1 lần mù: vắc xin
dùng để thử lâm sàng là vắc xin bại liệt bất hoạt do Polyvac sản xuất, vắc xin
23
dùng cho nhóm chứng là vắc xin bại liệt bất hoạt của Pháp - IMOVAC
POLIO, do Aventis Pasteur sản xuất.
Giai đoạn 2 cũng tiến hành tiêm 3 mũi vắc xin, cách nhau một tháng và sau
mỗi lần tiêm phải theo dõi sự kiện bất lợi sau tiêm trong thời gian 1 tháng.
Thu thập số liệu dựa trên phiếu theo dõi sự kiện bất lợi sau tiêm. Các đối
tượng được lấy máu xét nghiệm kháng thể bại liệt trước khi tiêm mũi 1 và
sau khi tiêm mũi 3 là 1 tháng
Phác đồ tiêm vắ
đình có trẻ ở lứa tuổi 2-7 nằm trong danh sách lựa chọn.
- Tổ chức cho bố mẹ hoặc người bảo trợ của trẻ ký phiếu tình nguyện về
việc đồng ý cho trẻ tham gia nghiên cứu sau khi đã đọc kỹ thông tin về
24
vắc xin, bản mô tả quyền lợi và nghĩa vụ của người nghiên cứu, mỗi
đối tượng được gắn với một mã số duy nhất và không trùng lặp.
- Đối tượng được tổ chức khám sức khỏe trước khi tiêm vắc xin 4 ngày,
và chỉ những đối tượng đủ tiêu chuẩn mới được đưa vào danh sách
nghiên cứu. Tổng số có 207 đối tượng đủ tiêu chuẩn đưa vào nghiên
cứ
u.
- Lập danh sách của 207 đối tượng này, xếp thứ tự theo vần họ tên của
trẻ, sau đó dùng tính năng lựa chọn ngẫu nhiên trong phần mềm
EXCEL để phân bổ ngẫu nhiên các đối tượng trên vào 2 nhóm nghiên
cứu và đối chứng với kết quả có 103 đối tượng được phân vào nhóm
nghiên cứu và 104 đối tượng vào nhóm đối chứng.
b) Lựa chọn cán bộ y tế thực hiện tiêm phòng vắc xin:
- Là cán bộ
y tế khoẻ mạnh, có tay nghề tiêm chủng thành thạo, không bị
các bệnh nhiễm trùng ngoài da. Có khả năng chẩn đoán và xử lý sơ bộ
khi có sự cố (ví dụ: chẩn đoán và xử lý sốc theo đúng phác đồ điều trị
của Bộ Y tế).
- Đã được tập huấn về công tác chuẩn bị, tiêm vắc xin và theo dõi sau
tiêm trước khi tiến hành thử nghiệm.
- Tuân thủ các quy định kỹ
thuật: Bảo quản vắc xin đúng quy định; Kiểm
tra sơ bộ lọ vắc xin trước khi tiêm về nhãn mác, màu sắc, ; Thực hiện
quy trình vô trùng đúng kỹ thuật; Tiêm đúng liều, đúng đường tiêm và
tuân thủ thực hành an toàn trong tiêm chủng (vệ sinh tay, quần áo bảo