Ngoại khoa Cơ sở, Học viên Quân Y - Pdf 13

2
mục lục
Phần I
: ngoại khoa cơ sở
1. Lịch sử phát triển ngoại khoa
2. Các nguyên tắc ngoại khoa cơ bản
3. Vô khuẩn trong ngoại khoa
4. Đại cơng gây tê
5. Gây mê
6. Cân bằng nớc - điện giải
7. Sốc
8. Cấp cứu ngừng tim - phổi
9. Liền vết thơng
10. Vận chuyển ngời bị thơng
11. Cố định tạm thời
12. Cầm máu tạm thời
13. Chăm sóc bệnh nhân truớc v sau mổ
Phần II
: triệu chứng học
1. Triệu chứng học cơ quan vận động
1.1.Kỹ thuật v thăm khám cơ quan vận động
1.2.Đại cơng gẫy xơng
1.3.Đại cơng sai khớp
1.4.Khám chi trên
1.5. Cách khám khung chậu v chi dới
2. Triệu chứng học cơ quan tiêu hoá, tiết niệu sinh dục
2.1. Triệu chứng học v thăm khám bệnh thực quản
2.2. Khám bụng trong ngoại khoa

6. Nguyễn Văn Đại - BS CKII Chủ nhiệm Khoa Chấn thơng chỉnh hình
Bệnh Viện 103
7. Đặng Ngọc Hùng- PGS.TS. Giám đốc Bệnh Viện 103
8. Lê Trung Hải - PGS.TS. Chủ nhiệm khoa Phẫu thuật bụng- Bệnh Viện
103
9. Mai Xuân Hiên- TS. Chủ nhiệm khoa Hồi sức - Bệnh Viện 103
10. Lê Nam Hồng - ThS. Phó chủ nhiệm khoa Hồi sức - Bệnh Viện 103
11. Đặng Văn Hợi- Ths. Phó chủ nhiệm bộ môn gây mê - Bệnh Viện 103
12. Phạm Gia Khánh- GS.TS - Giám đốc Học Viện Quân Y
13. Tô Vũ Khơng- Phó chủ nhiệm bộ môn Hồi sức - Bệnh Viện 103
14. Vũ Hùng Liên- PGS.TS. Chủ nhiệm khoa Phẫu thuật thần kinh - Bệnh
Viện 103
15. Ngô Văn Hong Linh. - TS. Chủ nhiệm khoa Phẫu thuật lồng ngực -
Bệnh Viện 103
16. Vũ Huy Nùng - PGS.TS. Phó chủ nhiệm bộ môn Phẫu thuật bụng -
Bệnh Viện 103
17. Phạm Đăng Ninh. TS. Phó chủ nhiệm bộ môn Chấn thơng chỉnh hình
- Bệnh Viện 103
18. Nghiêm Đình Phn. PGS.TS Chủ nhiệm bộ môn Ngoại dã chiến - Bệnh
Viện 103
19. Nguyễn Đức Thiềng. TS. Chủ nhiệm bộ môn Gây mê - Bệnh Viện 103
20. Phạm Vinh Quang. GS.TS. Phó chủ nhiệm bộ môn Phẫu thuật lồng
ngực - Bệnh Viện 103
21. Bùi Quang Tuyển. PGS.TS. Chủ nhiệm bộ môn Phẫu thuật thần kinh -
Bệnh Viện 103
22. Vũ Thắng. BS CKII Phó chủ nhiệm bộ môn Phẫu thuật tiết niệu - Bệnh
Viện 103
23. Nguyễn Văn Xuyên. TS. Giáo vụ bộ môn Phẫu thuật bụng - Bệnh Viện
103


Phạm Vinh Quang
1.
lịch sử ngoại khoa
Ngoại khoa có một bề dầy lịch sử v sự phát triển nh ngy nay l nhờ sự
đóng góp to lớn của nhiều lĩnh vực.
ở thời tiền cổ, thuật ngữ "ngoại khoa" không chỉ l các phơng pháp điều
trị bệnh m còn l các biện pháp để thực hiện các nghi lễ (cúng quỷ thần, lễ
siêu thoát) .
Vo khoảng 4000 năm trớc công nguyên, ngời cổ đại đã biết cách thắt
v khâu buộc, cầm máu vết thơng. Từ 3000 năm trớc công nguyên, ngời Ai
Cập đã biết sử dụng những loại chỉ đợc chế tạo từ ruột động vật để khâu vết
thơng v chữa gẫy xơng, khoan sọ để giải thoát " thần kinh" cho ngời bệnh.
Vo thời kỳ La Mã cổ đại, Hippocrate (ngời Hi Lạp, sinh năm thứ 460
trớc công nguyên) đã xuất bản hơn 70 cuốn sách y học về gẫy xơng, sai khớp
v những bệnh cần điều trị ngoại khoa.
Trong thời kỳ của các nền văn minh cổ đại, Hippocrate đã biết dùng nớc
đun sôi để nguội v rợu để rửa các vết thơng, cố định ổ gẫy để chữa gãy xơng,
nắn chỉnh để chữa sai khớp, áp nhiệt để đốt các búi trĩ v cầm máu bằng các dùi
sắt nung đỏ, chích tháo mủ để điều trị các ổ áp xe Trong cuốn sách " Corpus
Hippocratum", ông đã mô tả các đặc điểm của thoát vị, bệnh loét dạ dy.
Năm 1478, Aulus Cornelius Celsus - nh
bách khoa ton th ngời La Mã
ở nửa đầu thế kỷ thứ nhất trớc công nguyên đã mô tả tình trạng nhiễm trùng với
4 đặc điểm: " sng, nóng, đỏ, đau, về một số phơng pháp điều trị ngoại khoa.
ở thời kỳ ny, nh danh y Hi Lạp Herophile ( sinh năm thứ 320 trớc công
nguyên ) đã tiến hnh phẫu tích tử thi để nghiên cứu về giải phẫu ngời.
Erasistrate ( sinh năm thứ 310 trớc công nguyên) đã đề xuất phơng
pháp chữa tắc ruột v thoát vị nghẹt bằng mổ bụng. Clauduis Galen ( sinh vo
năm thứ 130 trớc công nguyên ) đã biết luộc dụng cụ trớc khi sử dụng cho
phẫu thuật, sử dụng chỉ để thắt mạch máu, chữa các vết thơng cơ, thần kinh,

Vo năm 1800, George III đã công nhận tr
ờng Đại học Ngoại khoa
Hong Gia ở Luân Đôn.
ở nớc Pháp, ngy 12 tháng 12 năm 1731, vua Lui thứ 15 đã phê chuẩn
thnh lập Hội ngoại khoa. Ngy 2 tháng 7 năm 1748, Viện Hn lâm phẫu thuật
của nh vua Pháp đợc thnh lập. Chơng trình đo tạo về ngoại khoa đợc Pierre
Joseph Desault ( 1744-1795) xây dựng.
Vo những thp k sau ca th k XIX, ngoại khoa đã có những bớc tiến
v sự phát triển đáng kể, lm tiền đề cho sự phát triển vợt bậc của ngoại khoa
trong thế kỷ XX.
Nm 1858, nh giải phẫu bệnh Rudolf Virchow đã a ra lý thuyt v
bnh lý t bo. Vo gia th k XVIII , Morgagni tin rằng: mi bnh đều phát
triển ở các c quan ca c th. Vo
u th k XIX, phu thut viên ngi
Pháp Xavier Bichat đã khng nh: các cơ quan của cơ thể đều đợc cấu tạo bởi
các mô, giới hạn cuối cùng của các quá trình bệnh lý khu trú ở các tế bo.
ở nớc ta, từ thế kỷ XIV đến thế kỷ thứ XVIII, vo các thời đại nh Lý,
Trần, Lê đã có những bi thuốc y học cổ truyền chữa gẫy xơng, viêm tấy phần
mềm. Tuệ Tĩnh, vị danh y ở thế kỷ thứ XIV đã dùng cao dán để điều trị các vết
thơng do dao chém, các bi thuốc để chữa bỏng, để trị dòi, bọ tại vết thơng, vết
bỏng. Hải Thợng Lãn ông (1720-1791) đã có những bi thuốc uống, thuốc rửa,
thuốc dùng tại chỗ để điều trị các thơng tích do bị đánh, bị thơng ( các vết đứt,
vết chém), các vết bỏng.

7
2. Gây mê v khử trùng

Trớc khi có các phát minh về tiệt trùng, khử khuẩn, thì tỉ lệ các vết
thơng bị nhiễm khuẩn v tình trạng tử vong do nhiễm khuẩn rất cao gây ảnh
hởng lớn đến kết quả phẫu thuật trong nhiều thế kỷ.

3. phẫu thuật bụng.
Lịch sử phát triển của phẫu thuật bụng đã có từ rất lâu. Từ thời kỳ cổ đại,
Hippocrate đã có những ti liệu mô tả chứng thoát vị, loét dạ dy, tá trng. Các
danh y Hi Lạp khác nh Era sistrate - sinh năm thứ 310 trớc công nguyên, đã
biết mổ bụng chữa tắc ruột v thoát vị. A.C Celsus - thế kỉ đầu của công nguyên
đã mô tả cách chữa vết thơng bụng. Hoa Đ đã tiến hnh mổ bụng v thiến,
hoạn.

8
Vo th k IX,các phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa viêm trớc khi vỡ,
phu thut điều trị ung th thc quản v d dy gây tc rut của Billroth, phu
thut điều trị thoát vị bẹn cải tiến của Bassini v Halsted đã đợc giới y học thời
kỳ ny đánh giá cao.

4. Phẫu thuật thần kinh .
Th k XIX đánh dấu sự phát triển c biệt của Phu thut thn kinh,
Phu thut lồng ngc v Phẫu thuật cấy ghép tạng.
Các công trình nghiên cứu của Harvey Cushing, Walter Dandy đã m
ra mt giai on phát triển mi cho chuyên ngnh Phu thut thần kinh.
Phng pháp khoan s Trephin l mt phẫu thuật xuất hiện sớm nhất trong
lịch sử phát triển ngoại khoa, có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của
chuyên ngnh Phẫu thuật thần kinh. Khi mới xuất hiện, phơng pháp ny ch
c dùng iu tr chng tâm thn, để lm giảm áp lc nội sọ trong chn
thng sọ não hoc để iu tr chng ng kinh. Harvey l ngời đã sáng ch ra
mt lc giúp cho các bác sĩ gây mê có thể liên tc thu thp đợc những
thông tin v hô hấp v huyt áp ca bnh nhân. Vi năm sau ông đã sáng chế ra
máy đo huyết áp phục vụ cho các phòng mổ. Ti bệnh viện Johns Hopkins, ông
đã sáng lp ra các phòng phu thut thực hnh để có thể dạy cho sinh viên các
phơng pháp phẫu thuật thực nghiệm hiện đại trên chó.


trong của động mạch chủ, động mạch cảnh (nm 1953), l ngời đầu tiên sử
dụng các đoạn tĩnh mạch nông lm cầu nối để điều trị thnh công bệnh tắc động
mạch vnh (nm 1964).
Sự ra đời của phơng pháp gây mê nội khí quản vo nm 1910 đã giải
quyết đợc những khó khăn về kĩ thuật m chuyên ngnh Phẫu thuật lồng ngực
đã gặp phải trong suốt một thời gian di. Mặc dù John H. Gibbon đã bt u
nghiên cứu về máy tuần hon ngoi cơ thể t tr
c chin tranh thế giới lần th II,
cho n tn những nm cui ca thp k 30, thế kỷ XX máy hô hấp nhân tạo,
thit b hạ nhit v tim phi nhân to mới ra đời.
Vo những năm u thp niên 40, thế kỷ XX Blalock, Edwards A. Park
Helen Taussig, Edwards A. Park, Helen Taussig v Vivien Thomas đã phát trin
thnh công phng pháp iu tr ngoại khoa t chng Fallot.
+ Sơ lợc lịch sử phát triển của máy tuần hon ngoi cơ thể:

Năm 1812, LeGallois đã khẳng định tính khả thi của việc chế tạo máy tuần
hon nhân tạo.
Năm 1869, Ludwig v Schmidt đã tiến hnh những thử nghiệm về khả năng
cung cấp ôxy nhân tạo cho máu.
Năm 1882, Schraeder l ngời đầu tiên đã chế tạo thnh công thiết bị cung
cấp ôxy cho máu trong hệ thống tuần hon ngoi cơ thể (bubble oxygenator ).
Năm 1885, Frey v Gruber đã chế tạo thnh công mng lọc ôxy (film
oxygenator ) đầu tiên.
Năm 1916, McLean đã tìm ra heparin cho phép máu của cơ thể có thể
chảy qua hệ thống các ống nhân tạo trong một thời gian di ( m không bị đông
lại).
Năm 1934, DeBakey đã phát minh ra loại bơm cuộn (roller pump) dùng
để bơm máu, thay cho chức năng cơ học của tim trong hệ thống tuần hon ngoi
cơ thể ( máy tim - phổi nhân tạo).
Năm 1937, Gibbon đã mô tả trong cuốn sách Lịch sử ngoại khoa một

William Hunter đã đề nghị thắt động mạch ở đầu trung tâm của túi phồng
để cầm máu.
Kết quả nghiên cứu về các vòng tuần ho
n chi thể v những biện pháp cải
thiện tuần hon bên của V.N. Tonkov, V.A. Oppel, B.A. Dolgo - Saburov, Port,
Lerich đã góp phần cải thiện kết quả phẫu thuật thắt mạch máu.
6.2. Thời kỳ phẫu thuật tái tạo, phục hồi sự lu thông mạch máu:
Năm 1759, Hallowel (nớc Anh) đã khâu phục hồi thnh công tổn thơng
mặt bên của động mạch cánh tay.
Carrel đã đặt nền móng cho chuyên ngnh Phẫu thuật mạch máu vo cuối
thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đề xuất 12 vấn đề chủ yếu cần chú ý trong điều trị
thông động - tĩnh mạch lm cơ sở cho kỹ thuật cấy ghép tổ chức cơ quan sau
ny. Nhờ những cống hiến trong nghiên cứu về lĩnh vực ny m Carrel đã đợc
tặng thởng giải thởng Nobel vo năm 1912.
Năm 1879, nh phẫu thuật ngời Nga l EKK đã thực hiện thnh công miệng
nối bên - bên hai mạch máu (tĩnh mạch chủ dới v tĩnh mạch cửa).
Năm 1882, Schede đã khâu hồi phục thnh công một trờng hợp rách thnh
bên tĩnh mạch.
Năm 1895, I. Ph. Sabanhiev đã thực hiện lấy thử vật tắc ở động mạch đùi
nhng không thnh công. Mãi tới năm 1911 tại Pháp, Labey mới tiến hnh phẫu
thuật lấy bỏ vật tắc ở động mạch đùi thnh công. Sau đó phẫu thuật loại bỏ tắc
mạch ở ngã ba động mạch chủ bụng đợc Bauer thực hiện thnh công tại Thụy
Điển.

11Sự phát hiện ra heparin của Mc Lean năm 1916 v sử dụng nó vo trong lâm
sng ở cuối những năm 30 của thế kỷ XX cùng với kỹ thuật chụp cản quang mạch
máu (C.A. Reiberg, 1924; Sicard v Foresetier, 1923; Dos Santos, 1925) v thnh

Năm 1952,Voorhees v Blakemore đã sử dụng động mạch nhân tạo
(Vinyon-N, Dacron v Gore-Tex. ) vo thực hnh lâm sng.
Từ năm 1960, Jacolson v Suarez đã tiến hnh những nghiên cứu thực
nghiệm về vi phẫu thuật. Nhờ sự hỗ trợ của kính hiển vi phẫu thuật, với các kim
khâu có kích thớc từ 50-60 micron đờng kính v các dụng cụ đốt cầm máu
lỡng cực, phẫu thuật viên có thể nối đợc các mạch máu có đờng kính dới
2mm. Sự phát triển của vi phẫu thuật đã cho phép nối mạch, nối dây thần kinh,
nối các ngón chân, ngón tay bị đứt rời, nối mạch trong ghép các mạch tự do gồm

12
da v tổ chức dới da có bó mạch thần kinh nuôi dỡng, tạo điều kiện thuận lợi
cho phẫu thuật tạo hình phát triển.
Carrel đã công b k thut khâu nối mạch máu ca mình vo nm 1902,
khi ông cha y 30 tui. Với kỹ thuật khâu nối mạch máu n giản nhng vô
cùng hiu qủa ny, ông đã đoạt giải thởng Nobel về Y học vo nm 1912.
Năm 1965, Komatu v Tâmi đã khâu nối thnh công một ngón tay cái bị
cắt đứt hon ton. J. Cobbelt đã tiến hnh chuyển một ngón chân lên để thay thế
cho một ngón tay bị đứt lìa thnh công vo năm 1968.
7. điện phân, cân bằng dịch thể, dinh dỡng, hoá trị
liệu, phẫu thuật nội tiết v X quang.
Cho n tn nhng nm 1850, nhờ kết quả các công trình nghiên cứu ca
Claude Bernard, vai trò ca máu v các dịch thể trong c th mới đợc hiểu biết
một cách đầy đủ. Ông l ngi u tiên s dng t milieu
chỉ tình trạng
nội môi của cơ thể v chỉ ra đợc những tiêu chuẩn về sinh lý học cho phép các
cơ quan có thể tn ti mt cách c lp.
Trong th k XX, Walter Cannon l ngi dã đa ra luận thuyết về n
nh ni mụ v Henderson l ngời đã đa ra lí thuyết về cơ chế cân bằng acid-
base trong cơ thể.
Nm 1952 giáo s ngoại khoa Moseley đã xut bn cun sách về phn

các loại ống thông để đa các chất dinh dỡng vo cơ thể đã đợc tiến hnh từ
thời kỳ cổ xa ở Ai Cập, Hi Lạp, v La Mã cổ đại.
Hipocrate đã mô tả phơng pháp thăm khám nội soi trực trng, âm đạo, cổ
tử cung, tai, mũi từ những năm 460-357 trớc công nguyên. Ngay từ những ngy
đầu tiên của nền văn minh nhân loại, ngời ta đã biết sử dụng nguồn sáng tự
nhiên để chiếu sáng các khoang nằm sâu trong cơ thể .
8.2. Thời kỳ sử dụng ánh sáng phản xạ tự nhiên hoặc sử dụng nguồn
sáng nhân tạo ( từ 1805-1957):
+ Giai đoạn 1: hệ thống ống mở (1805-1879).
Vo năm 1805, Phillipe Bozzini tạo ra dụng cụ soi bng quang, trực trng
với sử dụng nguồn ánh sáng từ một ngọn nến đợc phản chiếu qua một hệ thống
gơng.
Atoni J. Desormeaux đã chế tạo loại ống nội soi dạ dy v bng quang, âm
đạo v tử cung sử dụng nguồn sáng từ một ngọn đèn v một thấu kính để hội tụ
ánh sáng. Bevan đã sử dụng ống soi thực quản để lấy dị vật thực quản từ năm
1868.
Năm 1869, Pantaleoni đã soi tử cung v đốt polip bằng dung dịch nitrat
bạc thnh công cho một phụ nữ 60 tuổi.
Năm 1874, Stain đã cải biên một chiếc máy chụp ảnh để chế tạo ra loại
ống soi có khả năng chụp ảnh các tổn thơng giải phẫu bệnh của b
ng quang.
Năm 1867, Bruck l ngời đầu tiên phát minh ra loại ống soi sử dụng
nguồn sáng phát ra từ những sợi bạch kim nối với nguồn điện đặt ở trên đầu.
+ Giai đoạn 2: sử dụng ống soi cứng (1879-1936).
Năm 1879, Max Nitze đã chế tạo thnh công loại ống nội soi bng quang
sử dụng hệ thống các lăng kính v nguồn ánh sáng phát ra từ những sợi bạch
kim đặt ở trên đầu.
Năm 1880, Edison đã lắp một bóng đèn vo đầu ngoại vi của ống nội soi
bng quang v thiết kế một rãnh riêng trong lòng của ống nội soi dnh cho phẫu
thuật.

lợng cao hơn v cho phép truyền ánh sáng tốt hơn, cho các hình ảnh trung thực
v rõ nét hơn.
Năm 1933, Hischowitz đã chế tạo th
nh công ống nội soi dạ dy - tá trng
đầu tiên sử dụng các bó sợi thủy tinh để dẫn truyền ánh sáng.
Năm 1962, Hischowitz đã thông báo về kinh nghiệm của mình trong soi
dạ dy- tá trng bằng loại ống soi nói trên ở 500 bệnh nhân.
+ Giai đoạn ứng dụng nội soi hiện đại trong chẩn đoán v điều trị bệnh.
Tháng 2 năm 1957, Hischowitz, Peter v Curtiss đã sử dụng loại ống soi
dạ dy tự tạo để soi thnh công cho vợ của một sinh viên nha khoa bị loét hnh tá
trng.
Năm 1961, Hischowitz đã công bố trên tờ báo Lancet về những kết quả
thăm khám nội soi dạ dy v mỏm tá trng.
Phơng pháp chẩn đoán nội soi kết hợp với siêu âm đã cho phép mở rộng
hơn khả năng chẩn đoán của phơng pháp nội soi ống mềm.
Năm 1980, tại Hội nghị nội soi tiêu hoá lần thứ t tổ chức của châu âu ở
Hamburg, Strohm v Classen đã thông báo kết quả sử dụng ống nội soi mềm kết
hợp với siêu âm kiểu xuyên tâm. Phơng pháp nội soi kết hợp với siêu âm đã góp
phần quan trọng trong chẩn đoán các khối u hạ niêm mạc dạ dy, phát hiện độ
sâu m khối u đã thâm nhiễm tới, phát hiện những di căn ung th vo tổ chức
hạch bạch huyết ở xung quanh, phát hiện những khối u có kích thớc nhỏ của tụy
tạng có đờng kính < 2cm v kiểm tra đờng mật, túi mật, thuỳ trái, thùy phải
của gan.

15
Ngoi khả năng để chẩn đoán, phơng pháp nội soi còn có khả năng điều
trị một số bệnh nh chảy máu đờng tiêu hoá trên (tiêm êphedrin, kẹp cầm máu
bằng các clip, gây dính tổ chức bằng polimer, đốt cầm máu bằng các đầu đốt điện
đơn v lỡng cực, buộc cầm máu bằng các loại chỉ chun giãn, sử dụng đầu đốt
điện, sử dụng liệu pháp gây xơ, lm đông đặc mạch máu bằng siêu âm).

hợp, trong đó chỉ có một trờng hợp bị biến chứng chảy máu nặng; Kelling miêu
tả bề ngoi của gan, các khối u v bệnh lao trên 45 trờng hợp nội soi ổ bụng .
Năm 1911, Bernkeim (ngời Mỹ) mô tả phơng pháp nội soi ổ bụng
bằng ống nội soi trực trng đa xuyên qua một vết rạch nhỏ ở thợng vị vo sâu
12mm dùng gơng soi tai-mũi-họng để kiểm tra mặt trớc dạ dy, gan v cơ
honh .
Năm 1912, Nordentoft đã chế tạo thnh công loại trocar có gắn đèn nội
soi. Korbsch (1921), Goetze( 1921) v Unverricht (1923) đã giới thiệu loại kim

16
chuyên dụng để bơm khí khoang ổ bụng v máy bơm khí vo khoang ổ bụng. Các
dụng cụ ny cho phép mở rộng tầm quan sát ảnh qua nội soi.
Năm 1920, orndoff (ngời Mỹ) đã chế tạo thnh công loại trocar có đầu
hình chóp sắc nhọn có thể dễ dng chọc qua thnh bụng.
Năm 1924, Zollikoffer đã chế tạo thnh công loại van gắn vo vỏ của
trocar có tác dụng tự động ngăn không cho khí thoát ra ngoi sau khi bơm khí
carbon dioxide vo khoang ổ bụng.
Kalk (ngời Đức) đã chế tạo thnh công loại ống nội soi có lỗ bên cho
phép quan sát tổn thơng ở một góc khoảng 45
0
-50
0
so với trục dọc, thiết kế dụng
cụ sinh thiết trong quá trình nội soi ổ bụng, l ngời đề xuất v ủng hộ kỹ thuật
chọc hai lỗ trong nội soi ổ bụng.
Năm 1938, Veress (ngời Hugari) đã chế tạo thnh công loại kim có bộ
phận gạt ở bên trong lm thay đổi hớng của lỡi cắt tạo điều kiện cho việc cắt
sinh thiết nhanh gọn, v một loại kim bơm khí khoang ổ bụng an ton .
Năm 1946, Decker đã đề xuất phơng pháp thay đổi vị trí đa ống nội soi
vo khoang ổ bụng để lm giảm thiểu các biến chứng tổn thơng ruột v mạch

mảnh, dụng cụ ngăn cản sự thất thoát khí CO
2
đợc bơm vo khoang ổ bụng,
kỹ thuật thắt buộc chỉ trong phẫu thuật nội soi, thiết bị tới rửa, hút, loại kéo nhỏ,
dụng cụ gắn clíp, kẹp hình thoi.
Năm 1982, Semm đã chế tạo thnh công các dụng cụ khâu vi phẫu nội soi
điều trị chửa ngoi tử cung, triệt sản , cắt vòi trứng, cắt buồng trứng , tách dính
vòi buồng trứng, tách tua loa vòi trứng, thiết bị gây dính mạc nối, thiết bị khâu
ruột, thiết bị cầm máu nội mạc tử cung, sinh thiết khối u, tái tạo v tạo hình sau
thủng tử cung v cắt bỏ ruột thừa nội soi.
Năm 1970, Steptoe v Edwards lần đầu tiên đã lấy đợc noãn bo để thụ
tinh trong ống nghiệm bằng phẫu thuật nội soi.
Năm 1972, Hulka đã tiến hnh triệt sản bằng phơng pháp cơ học sử
dụng các chíp có thể co giãn đợc.
Năm 1978, Hasson đề xuất phơng pháp phẫu thuật nội soi ổ bụng mở.
Những ứng dụng của laser CO
2
trong phát triển các dụng cụ điện đông
lỡng cực đối với phẫu thuật nội soi đã đợc Maurice Bruhat, James Daniell ứng
dụng thnh công vo thực hnh lâm sng để cắt bỏ các khối u nằm sâu trong
niêm mạc tử cung, điều trị chửa ngoi tử cung , tách dính, rạch tháo dịch vòi tử
cung, rạch v hút các nang của buồng trứng (hội chứng Stein-Leventhal), lm tiêu
các dây chằng tử cung điều trị chứng đau do kinh nguyệt.
Hope (1937) đã công bố những ti liệu đầu tiên về việc sử dụng nội soi ổ
bụng để chẩn đoán phân biệt chửa ngoi tử cung. Anderson (1937) đã sử dụng đốt
điện để triệt sản. Power v Barnes (1941) đã trình by kỹ thuật đốt qua ống nội
soi để triệt sản. Palmer (1947) đã sử dụng phơng pháp nội soi để chẩn đoán
nguyên nhân chứng vô sinh ở phụ nữ v chế tạo thnh công loại kẹp sinh thiết
khoan để sinh thiết buồng trứng. Frangenheim (1959) đã cải tiến thnh công dụng
cụ quang học sử dụng trong phẫu thuật nội soi ổ bong. Kalk (1929) đã chế tạo

mở cơ thực quản (Cuschieri , 1990), mở cơ tim bằng đờng bụng (Cuschieri,
1991), cắt dạ dy bán phần (Goh,1992), cắt dạ dy-ruột, cắt bỏ lách , soi ống mật
chủ v lấy sỏi ống mật chủ qua da , tạo vnh hậu môn giả , tạo tấm bọc trong
thoát vị
Phẫu thuật nội soi trong những năm gần đây đã phát triển hết sức nhanh
chóng v chiếm lĩnh rất nhiều chuyên khoa khác nhau.
9. Cấy ghép cơ quan.
Phẫu thuật cy ghép cơ quan đã có t rt lâu. Từ thời xa xa, những
ngi Hindus c ã biết sử dụng da vùng mông phẫu thuật chnh sa mi v

tai. Vo năm 700 trớc công nguyên, ngời ấn độ đã sử dụng vạt da chuyển từ
vùng trán hoặc vùng má phục vụ cho các phẫu thuật tạo hình mũi ( phẫu thuật tạo
hình mũi kiểu ấn Độ)
Cấy ghép da l một mốc quan trọng trong lch s phát triển của phu thut
cấy ghép cơ quan. Nhng nghiên cu v phát hin trong lnh vc cy ghép t bo
v cấy ghép mô dị loại l nn tng cho s phát trin ca y học v phu thut hc
trong th k XX. (Trong thế kỷ IX, loi ngời đã ghép cnh v ghép phôi thnh
công).
Ross G. Harrison đã bắt đầu nghiên cứu cy ghép mô từ những thp k
u tiên ca th k
XIX. Ông l ngời đã đa ra nhng nguyên tc cơ bn trong
cy ghép mô hin i m ngy nay vẫn đợc s dng ht sc rng rãi.
Harrison có nhiều công trình nghiên cứu v s phát trin ca các t bo
thần kinh, v phng pháp sinh trởng t bo c lp, l ngời sáng chế ra những
dụng cụ quan sát trc tip s phát trin ca mô thn kinh phôi thai ch.
Sau những thnh công trong nuôi cấy mô thực nghiệm v nuôi cấy cơ
quan. Từ năm 1902 n 1912, Carrel đã bắt đầu nghiên cứu về vấn đề cy ghép
c quan. Các công trình nghiên cứu ca ông l
một s kt hợp rất cht ch gia


Phẫu thuật ghép gan lần đầu tiên đợc Thomas Starzl tiến hnh vo năm
1963.
Phẫu thuật ghép phổi đã đợc các tác giả Jean Hardy (1963), Mac Govem
(1964) v Derom(1968) tiến hnh .
ở Việt nam các nh ngoại khoa đã quan tâm đến vấn đề ghép tạng rất
sớm, vo cuối những năm 60 v đầu 70 của thế kỷ trớc, GS Tôn Thất Tùng v
các học trò của ông đã nghiên cứu ghép gan thực nghiệm trên chó. Các trung tâm
y học lớn nh Bệnh viện Việt Đức, Bạch Mai, Bệnh viện Trung ơng quân đội
108, Bệnh viện 103 đã tiến hnh ghép thận thực nghiệm; song do hon cảnh
chiến tranh v nhiều lý do khác nên các công trình nghiên cứu ny phải dừng lại.
Phải đến gần 30 năm sau việc nghiên cứu ghép tạng ở Việt Nam mới lại
tiếp tục, bắt đầu bằng sự ra đời của ủy ban ghép thận Quốc gia (2/1991) v
chơng trình ghép thận Quốc gia (12/1990). Ngy 4/6/1992 với sự giúp đỡ của

20
chuyên gia nớc ngoi v sự hợp tác của các nh y học trong cả nớc, ca ghép
thận đầu tiên ở Việt Nam đã thực hiện thnh công tại Bệnh viện 103, Học viện
Quân y. Tính đến tháng 11/2001 cả nớc đã có 8 trung tâm ghép thận với 140
trờng hợp đợc ghép.
Ngay sau khi ghép thận thnh công, ghép gan bắt đầu đợc nghiên cứu từ
năm 1996. Nhờ hai đề ti nghiên cứu cấp nh nớc về ghép tạng v ghép gan do
Học viện Quân y chủ trì. Ngy 31/1/2002 với sự giúp đỡ của chuyên gia Nhật
Bản ca ghép gan đầu tiên ở Việt Nam đã thực hiện thnh công tại Học viện Quân
y.
10. Một số phẫu thuật khác.

+
Phẫu thuật lạnh đợc dựa trên nguyên lý sử dụng nhiệt độ lạnh để điều
trị bệnh. Những tổn thơng do lạnh cóng gây nên đã đợc đề cập tới trong y văn
từ thời cổ đại. Bác sĩ ngời Anh James Arnott đã sử dụng không khí hoá lỏng để

quản , bng quang Dao mổ Laser còn đợc sử dụng khá rộng rãi trong các phẫu
thuật phụ khoa, phẫu thuật thần kinh, cắt bỏ các khối u ở da, cắt bỏ các hoại tử
bỏng

21
+ Phẫu thuật ngoi cơ thể trong thời gian gần đây khá phát triển nhờ những
loại máy mới đợc phát minh cho phép phá đợc các sỏi thận ( máy phá sỏi,
1984)
+ Các phẫu thuật lm nghẽn hoặc gây tắc mạch bao gồm : những can thiệp
phẫu thuật không chảy máu nhờ sự trợ giúp của các máy X quang có mn hình
quang tăng sáng, phẫu thuật viên có thể luồn các ống thông nhỏ vo các mạch
máu v gây bít tắc hoặc nghẽn các mạch máu .

pháp khử trùng thích hợp.
1.2. Bệnh nhân:
Bệnh nhân l
nguồn ô nhiễm quan trọng nhất trong phòng mổ. Phân loại
phẫu thuật vô trùng hay hữu trùng l dựa vo tình trạng ô nhiễm vi khuẩn sẵn có
tại trờng mổ trên cơ thể bệnh nhân.
Chuẩn bị da ở vùng mổ của bệnh nhân: l một trong những biện pháp quan
trọng bậc nhất để lm giảm nhiễm trùng vết mổ.
+ Nên cho bệnh nhân tắm với chất x phòng kháng khuẩn vo đêm trớc
ngy mổ. Có thể đặt một miếng gạc vô trùng lên vùng da định mổ v băng lại,
miếng gạc ny sẽ đợc bỏ ra khi bệnh nhân đã nằm trên bn mổ. Phải cạo lông ở
vùng da định mổ nhng nên thực hiện tại phòng mổ ngay trớc khi tiến hnh thủ
thuật, nên dùng kem tẩy lông hoặc dao cạo điện để tránh lm xây xát da.

23
+ Sát trùng da bệnh nhân trớc khi rạch da: sát trùng da theo đờng vòng
tròn đi rộng dần từ vùng định rạch da ra ngoi, không bao giờ đa miếng gạc sát
trùng từ vùng ngoại vi trở lại chỗ vết định rạch da. Miếng gạc dùng rồi phải bỏ đi,
không đợc chấm trở lại dung dịch sát trùng.
Khả năng đề kháng của bản thân bệnh nhân đối với các vi khuẩn cũng
đóng vai trò rất quan trọng. Các yếu tố nh tuổi, béo phì, đái đờng, xơ gan, tăng
urê máu, các rối loạn của tổ chức liên kết, yếu tố di truyền, tình trạng suy giảm
miễn dịch cơ thể đều ảnh hởng đến tỉ lệ nhiễm trùng vết mổ.
1.3. Kíp mổ:
Sự chuẩn bị v triển khai của kíp mổ đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong
việc đảm bảo vô trùng phẫu thuật.
+ Rửa tay trớc mổ: ton bộ thnh viên kíp mổ phải rửa tay ngay trớc khi
mổ từ ngón đến khuỷu bằng dung dịch sát trùng. Các chất nh iodophors v
chlorhexidine kết hợp với một chất tẩy có tác dụng rất tốt cho mục đích ny.
+ Đeo khẩu trang: trong khi mổ mọi nhân viên phải mang khẩu trang, bao

+ Đa dụng cụ: cần phải rất tinh tế để chúng đến đợc tay của phẫu thuật
viên một cách an ton v ở t thế hoạt động đợc ngay. Khi dùng xong, phải đặt
dụng cụ đó ở vị trí phù hợp để sẵn sng sử dụng lần tiếp sau.
2. Các thao tác phẫu thuật.
Thuật ngữ phẫu thuật (surgery) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp l
cheirergon, có nghĩa l công việc của bn tay. Một phẫu thuật viên luôn phải
nhớ rằng : nếu không hết sức cẩn thận thì bn tay của mình có thể gây nên những
hậu quả đáng tiếc cho ngời bệnh. Bên cạnh sự đồng cảm với những lo lắng của
ngời bệnh v gia đình họ, ngời phẫu thuật viên còn phải giữ cho mình đủ tỉnh
táo để tìm ra giải pháp phẫu thuật thích hợp nhất cứu chữa cho ngời bệnh.
2.1. Đờng rạch da:
Nguyên tắc cơ bản để chọn đờng rạch da l phải đảm bảo bộc lộ thoả
đáng cơ quan bị bệnh đồng thời sẹo mổ phải ít ảnh hởng nhất đến chức năng v
thẩm mỹ.
Vì vậy cần phải tính toán trớc về hình dáng, hớng, kích thớc của
đờng rạch. Nói chung, đờng rạch nên đi theo các nếp da bình thờng. Trong
các trờng hợp mổ lại, cần cố gắng sử dụng đờng rạch lần trớc. Phải đảm bảo
mép đờng rạch không bị gấp khúc, độ sâu đờng rạch da vừa đủ v đều đặn,
vách của đờng rạch thờng phải vuông góc với mặt da.
2.2. Bóc tách tổ chức:
Bóc tách tổ chức theo các lớp tự nhiên l
cách ít gây chấn thơng nhất.
Ngón tay trỏ l phơng tiện tự nhiên nhất dùng để bóc tách. Đôi khi có thể dùng
gạc thấm nớc hoặc bông cầu để bóc tách các tổ chức dính nhiều. Kéo đầu tù
cũng l phơng tiện bóc tách rất tốt đối với các lớp tổ chức quá chắc không thể
bóc tách bằng ngón tay hay bông cầu đợc. Đối với các tổ chức sẹo quá xơ dy
thì có thể dùng kéo nhọn.
Gần đây một kỹ thuật bóc tách mới đã đợc phát triển cùng với phơng
pháp phẫu thuật nội soi, đó l bóc tách nội soi đợc theo dõi trên mn hình. Kỹ
thuật ny ít gây tổn thơng tổ chức, ít bị nhiễm trùng v sẹo mổ rất nhỏ.

đợc cơ chế đề kháng với nhiễm trùng.
Không đợc để lại các khoảng trống trong vết thơng vì dịch sẽ tiết vo v
đọng lại, tạo môi trờng cho vi khuẩn phát triển. Trong các trờng hợp vết mổ
mất da rộng, khâu thông thờng sẽ gây căng v dẫn tới hoại tử mép da, có thể
dùng các thiết bị đặc biệt có thể điều chỉnh đợc độ căng của các mối chỉ khâu để
kéo giãn da ra dần dần, tránh đợc tình trạng hoại tử mép da vết mổ.
2.6. Các mối khâu vết mổ:
+ Mối khâu rời đơn: l loại mối khâu thờng đợc dùng nhất. Nó có thể
khép kín các mép vết mổ, sửa chỉnh mọi so le v chênh lệc của đờng khâu. Các
mối khâu da cần phải cng sát mép vết mổ cng tốt. Đờng xuyên kim phải lấy
đợc đến lớp hạ bì của da để lm các mép da hơi đợc nâng cao lên tạo điều kiện
thuận lợi cho quá trình liền vết thơng. Các mối khâu bằng chỉ nhỏ gần nhau sẽ
có đờng khâu chắc hơn so với các mối khâu chỉ to cách xa nhau. Với một lực
kéo nhất định thì các mối khâu rời vuông góc với đờng mổ sẽ ít gây căng vết mổ
nhất.
+ Các mối khâu vắt:
- Mối khâu vắt trong da: đợc khâu trong biểu bì sát với mặt da để rút bỏ
sau mổ. Phải dùng loại chỉ dai v
trơn nh chỉ polypropylene hoặc nylon.
- Mối khâu vắt biểu bì: có thể đóng da nhanh chóng v dễ cắt bỏ sau mổ.
Tuy nhiên nó dễ gây thiếu máu các mép da v để lại sẹo xấu, nếu có một mối
buộc bị lỏng hoặc bị đứt thì ton bộ đờng khâu sẽ bị hở.
+ Các mối khâu có đệm: thờng đợc dùng để đóng các vết mổ ở bụng v
thnh ngực.
- Mối khâu có đệm theo chiều dọc: vừa có tác dụng kéo sát đợc hai mép
da cách xa nhau lại vừa nằm sát đợc với mép da. Tuy nhiên nó có thể gây sẹo
vết chỉ khâu nếu để lâu quá 5-7 ngy.
- Các mối khâu đệm theo chiều ngang: cũng có tác dụng kéo sát đợc hai
mép da cách xa nhau nhng có thể gây hoại tử một phần của mép da.
2.7. Băng vết mổ:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status