ĐẶC TRƯNG PHƯƠNG THỨC TUYỂN SINH
ĐẠI HỌC VÀ SAU ĐẠI HỌC Ở HOA KỲ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2013
4
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
2
LỜI CAM ĐOAN
3
MỤC LỤC
4
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
6
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
7
PHẦN MỞ ĐẦU
8
1. Lý do chọn đề tài
8
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
11
3. Giới hạn nghiên cứu của đề tài
12
4. Câu hỏi nghiên cứu
12
5
1.1.1.5. Lý thuyết khảo thí hiện đại
21
1.1.1.6. Các bài kiểm tra tiêu chuẩn hoá
24
1.1.2. Hệ thống giáo dục đại học và sau đại học ở Hoa Kỳ
25
1.2. Tổng quan
33
1.3. Kết luận Chương 1
37 CHƯƠNG 2. TUYỂN SINH ĐẠI HỌC Ở HOA KỲ
39 2.1. Phương thức tuyển sinh đại học
39
2.2. Tiêu chuẩn tuyển sinh đại học
41
2.3. Đặc trưng của các bài kiểm tra TCH trong tuyển sinh đại học
43
2.4. Sự tranh luận về các bài kiểm tra TCH trong tuyển sinh đại học
54
2.5. Kết luận chương 2
59
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
81 1. Kết luận
81
2. Một số gợi ý về chính sách tuyển sinh đại học ở Việt Nam
82
TÀI LIỆU THAM KHẢO
86
và tự học tập của người học là quan trọng hơn rất nhiều so với việc kiểm
tra kiến thức của người học. Thứ hai, việc tổ chức thi tuyển sinh tập trung
theo các đợt: 1 đợt/năm đối với hệ đại học và 2 đợt/năm đối với hệ sau đại
học, vừa gây sức ép thi cử lên thí sinh, vừa gây tốn kém kinh phí cho
trường tổ chức thi và cho cả xã hội. Thứ ba, do khâu thi cử chỉ tập trung
vào đánh giá kiến thức của một số môn nhất định nên quá trình đào tạo ở
các cấp học dưới có xu hướng tập trung vào các môn thi cử, học lệch hay
học tủ, vì vậy mục tiêu phát triển toàn diện thường không đạt được. Các
hoạt động khác như dạy thêm, học thêm, luyện thi theo đó rất phát triển
nhằm đào luyện khả năng nhớ bài của học sinh và sinh viên. Đây là một
vấn đề gây rất nhiều bức xúc cho xã hội và các cơ quan quản lý.
Chỉ có thay đổi phương thức thi tuyển một cách toàn diện, đánh giá
đúng năng lực của thí sinh mới khắc phục được các vấn đề trên. Vì thế,
yêu cầu đổi mới phương thức tuyển sinh cũ theo hướng tiên tiến, hiện đại 4
là một yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học và sau
đại học, đáp ứng được yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt
Nam hiện nay. Điều đó có nghĩa là cần xem lại cách tuyển sinh đại học và
sau đại học của Việt Nam trong tương quan so sánh với giáo dục đại học
của các quốc gia phát triển trên thế giới như Hoa Kỳ.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu của
luận văn là: “Đặc trưng phương thức tuyển sinh đại học và sau đại học ở
Hoa Kỳ” với mong muốn tạo nên những gợi ý về việc xây dựng phương
thức tuyển sinh đại học và sau đại học hợp lý hơn cho nền giáo dục đại
học Việt Nam.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đây sẽ là một đề tài nghiên cứu đặc trưng phương thức tuyển sinh
đại học và sau đại học ở Hoa Kỳ. Xuất phát từ sự phân tích và đánh giá về
4. Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài này nhằm tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi: “Những đặc trưng
cơ bản của phương thức tuyển sinh đại học và sau đại học ở Hoa Kỳ là
gì?”
5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu
Tài liệu của các chuyên gia giáo dục, các nhà nghiên cứu về tuyển
sinh đại học và sau đại học của Hoa Kỳ và Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu
Đặc trưng của phương thức tuyển sinh đại học và sau đại học ở Hoa
Kỳ.
6. Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 4 năm
2012 đến tháng 4 năm 2013
+ Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung
nghiên cứu những đặc trưng cơ bản của phương thức tuyển sinh đại học và
sau đại học ở Hoa Kỳ
7. Phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đặc trưng phương thức tuyển sinh
đại học và sau đại học ở Hoa Kỳ nên trong quá trình tiến hành, đề tài sẽ
chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu liên quan đến công tác
tuyển sinh đại học và sau đại học của Hoa Kỳ và của Việt Nam.
8. Kết cấu luận văn
Phần mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về phương thức
tuyển sinh đại học và sau đại học ở Hoa Kỳ
Chương 2: Tuyển sinh đại học ở Hoa Kỳ
Chương 3: Tuyển sinh sau đại học ở Hoa Kỳ
Kết luận
ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công việc học tập của mình.
Năng lực của người học đáp ứng với yêu cầu của việc học tập là sự tổng
hợp toàn bộ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm được tích luỹ trong quá trình
học tập tại trường tiểu học, trung học và trong thời gian tham gia hoạt
động xã hội thực tế được biểu hiện qua mức độ hoàn thành việc học tập
của họ.
1.1.1.3. Đánh giá năng lực
Đánh giá năng lực học tập và kiến thức tổng hợp là phương thức thi
rất phổ biến ở các trường đại học trên thế giới. Xuất phát từ triết lý người
học đại học và sau đại học cần có năng lực tư duy sáng tạo hơn là những
khối kiến thức cụ thể, phương thức thi đánh giá năng lực chú trọng việc
đánh giá năng lực tư duy logic, khả năng lập luận, phân tích, kiến thức
tổng hợp của thí sinh và kết quả thi của thí sinh sẽ phản ánh tốt hơn năng
lực thực sự của người học trong việc theo đuổi thành công các khoá học
mà họ đã chọn.
1.1.1.4. Lý thuyết khảo thí cổ điển
Trong phần này, nội dung của Lý thuyết khảo thí cổ điển đã được đề 7
cập đến và là cơ sở quan trọng trong việc hình thành các bài test để đánh
giá khả năng và năng lực của các thí sinh.
Phương trình cơ bản trong lý thuyết khảo thí cổ điển
x
i
= t
i
+ e
i
sử dụng các bài kiểm tra tiêu chuẩn hoá nhằm đánh giá năng lực học tập
và kiến thức tổng hợp như ACT hoặc SAT (dùng cho tuyển sinh vào đại
học), GMAT, GRE (dùng cho tuyển sinh sau đại học), LSAT (dành cho
những người học ngành Luật), NBPTS (đối với những người học các
ngành Sư phạm), CLEP (Chương trình thi các môn học giáo dục đại cương
bậc đại học). Đây là những bài kiểm tra tiêu chuẩn hoá được thực hiện rất
phổ biến ở các trường đại học hàng đầu trên thế giới trong công tác tuyển
sinh.
1.1.2. Hệ thống giáo dục đại học và sau đại học ở Hoa Kỳ
Trong mục này, hệ thống giáo dục của Hoa Kỳ đã được đề cập đến, 8
trong đó nhấn mạnh đến hệ thống giáo dục đai học (Higher Education). Sự
đa dạng và phong phú về loại hình trường, đặc điểm của từng loại hình
trường và hệ thống bằng cấp được đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại
học của Hoa Kỳ cũng đã được đề cập đến trong mục này.
Bảng 1.1. Cách thức đạt được bằng cấp
trong các loại hình trường tại Hoa kỳ
Loại hình trường
Bằng cấp đạt được
Các trường cao đẳng và các
trường đại học (2151
trường) – Đào tạo 4 năm
- Cử nhân
- Thạc sĩ
- Tiến sĩ
Các trường cao đẳng kỹ
9
Tiêu chuẩn
tuyển sinh
Đại học
công lập
Cao đẳng
kỹ thuật
công lập
Đại học
tư thục
Cao đẳng
kỹ thuật
tư thục
Kết quả thi
tuyển sinh
92.8 %
39.8 %
86.7 %
69.3 %
Thứ hạng
bậc THPT
68.4 %
6.4 %
66.1 %
32.0 %
Tuyển sinh
tự do
7.5 %
bằng cử nhân mà có thể học liên thông từ bậc đào tạo thấp lên bậc đào tạo
cao hơn. 10
CHƯƠNG 2. TUYỂN SINH ĐẠI HỌC Ở HOA KỲ
2.1. Phương thức tuyển sinh đại học
Nói đến tuyển sinh đại học ở Hoa Kỳ là nói đến quá trình nộp đơn
xin học hàng năm của các ứng viên để theo đuổi chương trình đại học ở
các trường đại học và cao đẳng. Quá trình này thường được diễn ra vào
năm cuối của học sinh ở bậc trung học phổ thông.
Trong khi nộp đơn, thí sinh phải nộp đơn riêng rẽ cho từng trường
mà họ muốn theo học. Các trường đại học và cao đẳng thường có các mẫu
hồ sơ tuyển sinh riêng của mình. Không có giới hạn về số lượng các
trường đại học và cao đẳng mà mỗi thí sinh có thể nộp đơn xin học trừ phi
họ nộp đơn theo các chương trình “quyết định sớm” (early decision) hoặc
một vài chương trình “hành động sớm” (early action).
Chương trình “quyết định sớm” cho phép thí sinh nộp đơn sớm hơn
một vài tháng. Các thí sinh đăng ký vào một trường đại học theo chương
trình “quyết định sớm” sẽ được thông báo kết quả được nhận hay không
vào giữa tháng 12. Thí sinh được chấp nhận theo chương trình “quyết định
sớm” của một trường đại học thì bắt buộc phải theo học tại trường đại học
đó và rút hồ sơ khỏi các trường khác.
Chương trình “hành động sớm” về cơ bản là giống với chương trình
“quyết định sớm”. Thí sinh có thể nộp hồ sơ xin học sớm và biết được kết
quả có được nhận hay không hoặc hoãn sang năm sau vào khoảng giữa
tháng 12. Trong đa số các trường hợp, không giống như thí sinh nộp hồ sơ
theo chương trình “quyết định sớm”, thí sinh được chấp nhận vào một
trường đại học theo chương trình “hành động sớm” không bắt buộc phải
STT
Tiêu chuẩn tuyển sinh
Mức độ quan trọng
tương đối (%)/năm
1999
2000
1
Kết quả học tập bình quân của các khoá
dự bị đại học của ứng viên
84.0
77.8
2
Kết quả bài thi tuyển sinh tiêu chuẩn hoá
của ứng viên
54.0
57.7
3
Điểm trung bình của ứng viên ở bậc
THPT
42.0
42.6
4
Thứ hạng trong lớp học ở bậc THPT
42.0
33.6
5
Các bài luận của ứng viên
32.0
19.6
1.0
0.9
Nguồn: National Association for College Admission Counseling (2001) 12
Mức độ quan trọng tương đối của các tiêu chuẩn tuyển sinh cụ thể
thay đổi theo thời gian. Trong khoảng thời gian 12 năm từ 1989 đến 2000,
các cuộc khảo sát của NACAC đã chỉ ra rằng mức độ quan trọng tương
đối của 4 tiêu chuẩn tuyển sinh quan trọng nhất đã có sự thay đổi.
2.3. Đặc trưng của các bài kiểm tra TCH trong tuyển sinh đại học
Năm 1925, Uỷ ban đại học (CB) đã quyết định phát triển các bài
kiểm tra năng lực mà có thể đưa ra được một chỉ số về năng lực của ứng
viên để thực hiện thành công chương trình học ở bậc đại học. Một năm sau
đó, Kỳ kiểm tra năng lực học tập (the Scholastic Aptitude Test - SAT) đầu
tiên đã được thực thi đối với 8040 ứng viên đại học. Bài kiểm tra SAT đã
được thiết kế để đo lường năng lực hoặc khả năng trí tuệ bẩm sinh của học
sinh. Năm 1959, Chương trình Thi tuyển Đại học Hoa Kỳ đã kết hợp với
Uỷ ban đại học (CB) trong việc cung cấp những bài kiểm tra khách quan
tiêu chuẩn hoá. Bài kiểm tra này được biết đến như là bài kiểm tra ACT
(Admission College Test), được thiết kế để đo lường những kỹ năng toán
học và thuyết trình, những kỹ năng được cho rằng là rất cần thiết để thực
hiện thành công quá trình học tập ở bậc đại học. Không giống như bài thi
SAT, bài thi ACT nhằm vào việc đo lường mức độ tinh thông của học sinh
trung học phổ thông về kiến thức và các kỹ năng liên quan đến bậc đại
học.
Bài kiểm tra SAT nhằm mục tiêu kiểm tra sự thành thạo của học sinh
về việc đọc, viết và toán học, những môn học được giảng dạy hàng ngày
trong các lớp học ở bậc trung học phổ thông. Những kiến thức và kỹ năng
đó là rất quan trọng cho sự thành công trong học tập ở bậc đại học và
điểm đối với việc đoán mò trong bài kiểm tra ACT, chính vì thế học sinh cần
cố gắng trả mọi câu hỏi trên bài kiểm tra ACT. Điểm số tổng hợp được báo
cáo là điểm bình quân của tất cả các bài tiểu kiểm tra và cũng có số điểm tối
đa là 36.
Các bài kiểm tra tiêu chuẩn hoá đã được tán thưởng như là một cách
thức không đắt đỏ để đánh giá một cách tin cậy đánh giá năng lực học tập
bậc đại học của các ứng viên. Sự sử dụng các bài kiểm tra tiêu chuẩn hoá
đã được tăng cường bởi sự tăng trưởng mạnh về số lượng thí sinh ghi danh
vào các trường đại học sau Chiến tranh Thế giới lần thứ Hai. Các bài kiểm
tra tiêu chuẩn hoá đã cho phép những nhân viên tuyển sinh đại học của các
trường có thể xử lý một cách hiệu quả và kinh tế hàng nghìn ứng viên đại
học. Sau đó, các bài kiểm tra tiêu chuẩn hoá nói chung và bài kiểm tra
SAT nói riêng đã hoàn thành một vai trò khác: một thước đo chất lượng
của các cơ sở giáo dục đào tạo.
Bảng 2.2. Điểm SAT bình quân của sinh viên năm thứ nhất (1998)
Tên trường đại học và cao đẳng
Điểm số SAT
Các trường có mức độ tuyển chọn thấp hơn
Đại học Denison
1020
Đại học Bang Pennsylvania
1038
Đại học Miami (Bang Ohio)
1073
Đại học Tulane
1080
Đại học Bắc California, Chapel Hill
1080
Các trường có mức độ lựa chọn cao hơn
gốc Phi và Mỹ La tinh thua kém khá nhiều so với điểm số của các ứng
viên da trắng.
Bảng 2.3. Sự khác biệt về điểm số SAT
của học sinh thuộc các tộc người khác nhau
Điểm số SAT của học sinh thuộc các tộc người khác nhau
Xuất thân
của học sinh
SAT
(Phần Ngữ văn)
SAT
(Phần Toán)
SAT
Tổng số
Gốc Á
498
560
1058
Gốc Âu
527
528
1055
Người bản xứ
484
481
965
Gốc Mỹ La- tin
463
464
1082
$70000-$79999
527
531
1058
$60000-$69999
520
523
1043
$50000-$59999
514
516
1030
$40000-$49999
505
506
1011
$30000-$39999
493
493
986
$20000-$29999
476
478
954
$10000-$19999
449
458
907
≤ $9999
bậc trung học phổ thông đối với 2 trường đại học công lập và các trường
đại học và cao đẳng thành viên của Uỷ ban đại học (CB). Trong cả ba
trường hợp, các bài kiểm tra tuyển sinh tiêu chuẩn hoá giải thích được một
tỷ lệ rất nhỏ đối với sự biến động của chỉ số GPA của sinh viên đại học.
Trong khi đó, thành tích học tập ở bậc trung học phổ thông có thể giải
thích được tương đương hoặc tốt hơn các bài kiểm tra SAT hoặc ACT như
là những dự đoán về sự thành công của sinh viên ở bậc đại học.
Bảng 2.5. Sự tương quan giữa các tiêu chuẩn tuyển sinh
và kết quả học tập của sinh viên đại học năm thứ nhất (GPA)
Tiêu chuẩn tuyển
sinh
Cao đẳng
Utah Valley
State UVSC
* GPA
Đại học
Houston
UH * GPA
Uỷ ban đại
học (CB)
r*
% giải
thích
biến
động
r*
% giải
thích
học tập ở THPT
.44
19 %
(r*: Hệ số tương quan)
Bảng 2.6 tóm tắt mối tương quan giữa sự hoàn thiện bằng cấp ở bậc
đại học. Cũng giống như GPA, tỷ lệ phần trăm biến động giải thích được
trong việc hoàn thiện các khoá học đại học bởi điểm số các bài kiểm tra
tuyển sinh tiêu chuẩn là khá nhỏ. Một nghiên cứu đối với sinh viên của
Đại học Utah Valley State chỉ ra rằng chỉ có 9 % sự biến động trong việc
hoàn thành bằng cấp bậc đại học được giải thích bởi điểm số của bài kiểm
tra ACT. Cũng tương tự vậy, Burton và Ramist (2001) cho biết điểm số
của bài kiểm tra SAT cũng chỉ giải thích được 11 % sự biến động trong
việc hoàn thành bằng cấp bậc đại học. Sự kết hợp của SAT và thành tích
học tập ở bậc trung học phổ thông thậm chí còn kém tính dự đoán về việc 17
hoàn thành bằng cấp bậc đại học của sinh viên, chỉ giải thích được 8 % độ
biến động. Bảng 2.6. Mối tương quan giữa các tiêu chuẩn tuyển sinh
và sự đạt được bằng cấp bậc đại học
Tiêu chuẩn tuyển sinh
tập ở THPT
-
-
.29
8 %
(r*: Hệ số tương quan)
Như vậy, việc sử dụng các bài kiểm tra tuyển sinh tiêu chuẩn hoá
như là một sự dự đoán cho sự hoàn thiện bằng cấp ở bậc đại học chưa thực
đạt được như mong muốn. Bản thân Uỷ ban đại học (CB) cũng thừa nhận
rằng nhân tố quan trọng nhất chính là bảng điểm kết quả học tập của học
sinh ở bậc trung học phổ thông và các điểm số của bài kiểm tra SAT như
là phần bổ sung trong việc đánh giá năng lực và khả năng học tập ở bậc
đại học của các ứng viên trong công tác tuyển sinh (College Board, 2001).
2.5. Kết luận chương 2
Phương thức tuyển sinh đại học của Hoa Kỳ rất linh hoạt cho phép
học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông có nhiều lựa chọn để ghi danh
vào học tại nhiều trường khác nhau. Thời điểm các thí sinh làm hồ sơ dự
tuyển và nộp cho các trường đại học và cao đẳng cũng rất linh hoạt.
Điều đó làm giảm áp lực rất nhiều đối với các thí sinh tham gia dự tuyển
vào các trường của Hoa Kỳ.
Tiêu chuẩn tuyển sinh của các trường đại học và cao đẳng của Hoa
Kỳ rất đa dạng, trong đó điểm số của các kỳ thi đầu vào được đánh giá là
tiêu chuẩn quan trọng nhất để các trường tuyển chọn sinh viên. Các kỳ thi 18
đầu vào trong tuyển sinh vào các trường cũng rất đa dạng và được tổ chức
thường xuyên bởi các trung tâm tổ chức thi hoàn toàn độc lập với các
trường. Ngoài tiêu chuẩn về điểm số của các kỳ thi đầu vào, các trường đại
học và cao đẳng của Hoa Kỳ còn chú trọng đến kết quả học tập của các
2, 3 vòng trong một năm. Các ứng viên được khuyến khích nộp hồ sơ
online trên internet. Mỗi một vòng tuyển sinh cho các khoá sau đại học
đều được các trường thông báo cụ thể về tiêu chuẩn tuyển sinh, thời hạn
nộp hồ sơ cũng như các lời khuyên cần thiết cho các ứng viên. Các trường 19
của Hoa Kỳ thường tổ chức tuyển sinh cho các khoá sau đại học rất sớm
so với thời điểm khai giảng của khoá học. Điều đó tạo điều kiện cho các
ứng viên có đủ thời gian để hoàn thiện tất cả những yêu cầu cần thiết của
trường mà các ứng viên nộp đơn cũng như điều kiện của chính các ứng
viên cho việc theo đuổi một chương trình sau đại học.
3.2. Tiêu chuẩn tuyển sinh sau đại học
Đối với tuyển sinh sau đại học, các trường đại học sẽ đánh giá các
ứng viên dựa trên những tiêu chuẩn sau: thành tích và sự chuẩn bị về học
thuật phù hợp, những lý do thuyết phục để theo đuổi các chương trình sau
đại học ở các trường đại học và sự liên quan của ứng viên trong các hoạt
động ngoại khóa. Để có cơ hội tốt nhất được tuyển vào một trường đại học
có tính cạnh tranh cao cho các chương trình sau đại học, các ứng cử viên
cần phải có kết quả học tập tốt ở bậc đại học, điểm số bài thi tuyển sinh
tiêu chuẩn hoá cao và một bộ hồ sơ được chuẩn bị kỹ lưỡng có đầy đủ các
bài luận hoặc đơn trình bày cá nhân, các thư đề cử và một bộ lý lịch đề cập
tới tất cả những tiêu chuẩn tuyển chọn của trường đại học.
Các trường đại học của Hoa Kỳ trước hết sẽ quan tâm đến sự chuẩn
bị về học thuật phù hợp, thành tích và tiềm năng của các ứng viên. Những
điều này sẽ được đánh giá bởi kết quả học tập ở bậc đại học hoặc có thể ở
bậc sau đại học của các ứng viên thể hiện thông qua bản sao học bạ, những
nhận xét của giảng viên hay cố vấn học tập và các điểm số bài thi tuyển
sinh tiêu chuẩn hoá của các ứng viên (thông thường là điểm số của các bài
thi GRE hoặc GMAT).
Phần đầu tiên luôn là phần viết phân tích liên quan đến vấn đề theo thời
gian riêng rẽ và các nhiệm vụ tranh luận. Năm phần tiếp theo bao gồm 2
phần lập luận ngôn ngữ, 2 phần lập luận định lượng, và một phần hoặc là
nghiên cứu hoặc là thử nghiệm. Phần ngôn ngữ nhằm mục đích đánh giá
khả năng đọc hiểu, lập luận phê bình và cách sử dụng từ vựng. Phần định
lượng để đánh giá những kỹ năng lập luận và kiến thức toán học cơ bản
bậc trung học phổ thôn. Phần viết phân tích gồm 2 bài luận, một bài luận
vấn đề và một bài luận phê bình. Phần thử nghiệm có thể là hoặc một
phần ngôn ngữ, phần định lượng hoặc là phần viết phân tích có những câu
hỏi mới mà ETS cân nhắc sử dụng trong tương lai.
Bài kiểm tra GMAT là một bài kiểm tra tiêu chuẩn hoá được thực
hiện trên máy tính. Điểm số GMAT được xem như là một tiêu chuẩn
tuyển chọn ứng viên cho các chương trình sau đại học về ngành quản. Các
bài kiểm tra GMAT gồm 4 phần: Phần định lượng, phần ngôn ngữ, phần
lập luận tổng hợp và phần đánh giá viết phân tích. Phần định lượng của bài
kiểm tra GMAT đo lường năng lực lý giải định lượng, giải quyết các vấn
đề định lượng, và giải thích các dữ liệu đồ hoạ. Phần ngôn ngữ nhằm đo
lường khả năng đọc và tổng hợp các tài liệu viết, lý giải và đánh giá các
tranh luận và chỉnh sửa các tài liệu viết để diễn đạt các ý tưởng một cách
hiệu quả theo tiêu chuẩn văn viết trong Tiếng Anh. Phần lý luận tổng hợp
là một phần mới được thiết kế để đo lường khả năng của thí sinh để đánh
giá dữ liệu được diễn đạt bằng nhiều cách thức từ nhiều nguồn khác nhau.
Phần viết phân tích gồm một nhiệm vụ viết trong thời gian 30 phút – phân
tích một sự tranh luận. Điều quan trọng là thí sinh có thể phân tích sự lý
luận đằng sau một sự tranh luận cho trước và viết một phê bình về tranh
luận đó. 21
3.4. Tuyển sinh sau đại học ở một số trường đại học danh tiếng tại Hoa
đích học tập không chính xác hoặc đệ trình các tài liệu sai theo yêu cầu
của bộ hồ sơ, thì các hành động phù hợp của nhà trường sẽ được đưa ra.
Chỉ có người đứng đầu các cơ sở đào tạo sau đại học mới có quyền cấp
giấy trúng tuyển cho các ứng viên.
3.4.2. Đại học Pennsylvania (University of Pennsylvania)
Đại học Pennsylvania (tên gọi tắt là Penn hoặc UPenn) là đại học
tư thục nằm tại thành phố Philadelphia, bang Pennsylvania, Hoa Kỳ.
Penn là một thành viên của Ivy League với thế mạnh về các ngành khoa 22
học cơ bản, nhân chủng học, luật học, y dược, giáo dục học, kỹ thuật và
kinh doanh.
Penn là trường đứng vị trí thứ 6 về mức độ tuyển chọn trong công
tác tuyển sinh tại Hoa Kỳ. Ở bậc sau đại học, tỷ lệ tuyển sinh của Penn
cũng giống như phần lớn các trường đại học khác thay đổi đáng kể phụ
thuộc vào các trường và các chương trình đào tạo. Các chương trình đào
tạo có mức độ tuyển chọn cao nhất của Penn bao gồm trường luật, các
trường về chăm sóc sức khoẻ (dược, dược nha, y tá, và thú y), và trường
kinh doanh. Các ứng viên cho các chương trình Thạc sĩ và Tiến sĩ phải có
bằng cử nhân (BA) từ một trường hoặc một trường đại học được kiểm
định trước khi có quyết định trúng tuyển vào Penn. Các ứng viên cho các
chương trình Tiến sĩ vẫn chưa có bằng Thạc sĩ có thể được chấp nhận
thẳng vào các chương trình Tiến sĩ và những ứng viên này có thể đạt được
bằng Thạc sĩ khoa học trong khoá học của họ.
Những yêu cầu đối với các ứng viên khi nộp đơn đăng ký dự tuyển
bao gồm: thông tin về tiểu sử của ứng viên; bản tuyên bố cá nhân; 2 hoặc
3 thư giới thiệu chính thức; một bảng điểm chính thức đựng trong thư có
đóng dấu từ mỗi trường đại học hoặc cao đẳng mà ứng viên đã học; bảng
điểm chính thức của bài kiểm tra GRE; cùng với bảng điểm GRE, tất cả