Nghiên cứu tổng hợp và sử dụng một số chất có nguồn gốc tự nhiên làm tăng hiệu lực sinh học của thuốc trừ sâu BT - Pdf 13


VIỆN HOÁ HỌC CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ
CHẤT CÓ NGUỒN GỐC TỰ NHIÊN LÀM TĂNG
HIỆU LỰC SINH HỌC CỦA THUỐC TRỪ SÂU BT CNĐT: HOÀNG THÂN HOÀI THU

9016
làm một trong những lĩnh vực mà Hóa học xanh quan tâm và hướng tới.
Trong đó, thuốc trừ sâu vi sinh Bt (Bacillus thuringiensis) hiện đang chiếm
phần lớn thị trường thuốc trừ sâu sinh học ở Việt Nam cũng như trên thế giới.
Chế phẩm sinh học Bt không gây ô nhiễm môi trường, an toàn với
người và động vật có ích, không để lại dư lượng trong nông sản, nên được s

dụng rất nhiều đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp sạch.
Tuy nhiên, sử dụng Bt có nhược điểm lớn nhất là tác động chậm, 48
tiếng sau khi ăn độc tố thì sâu mới chết; thuốc dễ bị phân hủy khi có tia cực
tím của ánh sáng mặt trời và đặc biệt dễ gây hiện tượng kháng thuốc (quen
thuốc) của côn trùng. Vì vậy, tác dụng của thuốc Bt không đem lại hiệu qu

phòng trừ.
2

Đề khắc phục hiện tượng kháng thuốc và tăng hiệu quả sử dụng của
thuốc người ta thường hỗn hợp Bt với các thuốc BVTV khác có khả năng diệt
nhanh hơn hoặc gia công hỗn hợp với các chất co tác dụng hiệp đồng
(synergist). Tuy nhiên, sử dụng các chất synergist hỗn hợp với thuốc BVTV
nói chung và với thuốc trừ sâu Bt nói riêng có ưu điểm là không cần dùng
thêm các loại thuố
c khác độc hại. Bản thân các chất synergist thường không
độc hoặc ít độc với môi trường và cộng đồng, vì vậy sản phẩm hỗn hợp ít độc
hại hơn mà hiệu lực sinh học có thể tăng lên gấp nhiều lần so với Bt dùng
đơn.
Nhằm mục đích giảm hiện tượng kháng thuốc và nâng cao hiệu quả sử
dụng của thuốc trừ sâu Bt, trung tâm Hữu cơ – Viện Hóa học Công nghiệ
p
Việt Nam đã thực hiện đề tài « Nghiên cứu tổng hợp và sử dụng một số chất
có nguồn gốc tự nhiên làm tăng hiệu lực sinh học của thuốc trừ sâu vi sinh

sạch nói riêng và nền nông nghiệp bền vững nói chung.
Nhược điểm
- Tác động của thuốc trừ sâu vi sinh chậm nên hiệu quả chậm bởi vì
thuốc trừ sâu vi sinh thường có quá trình gây bệnh và nhiễm bệnh khi vào cơ
thể sâu thì thời gian ủ bệnh phải mất 1-3 ngày. Do đó hiệu quả ban đầu
không cao.
- Phổ tác dụng hẹp do tính chọn lọc cao

4

1.1.2. Tình hình sử dụng thuốc trừ sâu có nguồn gốc sinh học [5]
Thị trường tiêu thụ thuốc BVTV thế giới đã có những thay đổi trong thời
gian gần đây. Do tính chất độc hại và tồn lưu lâu trong môi trường, ảnh hưởng
tới sức khỏe con người và cộng đồng, do tính kháng thuốc của sâu bệnh đối
với những sản phẩm sử dụng nhiều lần, thời gian gần đây
đã xuất hiện những
chế phẩm mới với những phương thức tác động mới, hiệu quả phòng trừ cao
và ít ảnh hưởng tới môi trường và con người.
Bảng 1.1. Dự báo tăng trưởng thị trường thuốc phòng trừ dịch hại năm 2011
Khu vực
Thuốc
trừ cỏ
Thuốc
trừ sâu
Thuốc trừ
bệnh
Các loại
khác
Tổng
số

ợp.
Trên rau và lúa, nông dân đã đầu tư nhiều cho thuốc trừ sâu có nguồn
gốc sinh học. Họ đã nhận thấy được lợi ích của loại thuốc này, là biện pháp
chủ yếu để sản xuất rau an toàn, lương thực, thực phẩm sạch. Vì thế, thuốc
sinh học tuy giá thành hơi cao nhưng vẫn được ưa chuộng.
Tình hình sử dụng thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học trên rau được
thể hiệ
n ở bảng 1.2 dưới đây :
Bảng 1.2. Tình hình sử dụng thuốc trừ sâu sinh học trên rau
Thời gian Tỷ lệ (%)
2000-2005 <1%
2006 5%
2007 7,5%
2008 10,1%
(Nguồn : Báo cáo của Viện Môi trường Nông nghiệp 2009)
Số thuốc sinh học đăng ký qua các năm được thể hiện qua bảng 1.3
dưới đây :
Bảng 1.3. Số lượng thuốc sinh học đăng ký qua các năm
Số lượng đăng ký
Năm
Sinh học Hóa học
Tỉ lệ (%) thuốc sinh học
so với thuốc hóa học
Đến 1992 2 99 2,00
1995 4 213 1,85
1997 20 246 8,1
6

2001 30 304 9,8
2003 51 366 13,94

phủ tiêm mao không dày. Tế bào đứng riêng rẽ và xếp thành từng chuỗi, chứa
7

tinh thể độc có khả năng diệt sâu. Bt phát triển trong điều kiện nhiệt độ 15-
45
0
C nhưng thích hợp nhất từ 29-30
0
C. Tế bào vi khuẩn Bt bao gồm các tinh
thể (crystal) và bào tử (spore). Bào tử dạng hình ovan hoặc hình trứng dài 1,2-
1,6 µm, có thể nảy mầm sinh dưỡng khi gặp điều kiện thuận lợi (Hình 1.2,
1.3) Hầu hết là các chủng Bt có một hoặc nhiều gien tiền độc tố. Cơ sở gây
bệnh cho côn trùng chính là các gien Cry khác nhau. Các gien này tạo các tinh
thể có khả năng diệt các côn trùng khác nhau.
1.2.2. Đặc điểm tinh thể độc
Tinh thể
độc của Bt có dạng hình thoi, hình quả trám hoặc hình tháp
mang bản chất protein và có độc tính cao với rất nhiều loại côn trùng, chiếm
30% trọng lượng khô của tế bào (hình 1.4). Tinh thể độc rất bền ở nhiệt độ
cao, có trọng lượng phân tử là 5000 đơn vị. Trong quá trình bảo quản, nếu để
lâu Bt sẽ mất hoạt tính do tinh thể độc bị biến dạng hoặc phân huỷ. Dung dịch
formandehit 20% và tia tử ngoại có thể làm mất ho
ạt tính của tinh thể độc
.

Có 4 loại tinh thể độc
+ Ngoại độc tố: α-exotoxin hay phospholipase

nay, Bt là một trong những sản phẩm chủ yếu sử dụng trong các chương trình
phòng trừ tổng hợp IPM ở một số nước [4].
1.2.3. Hoạt tính sinh học và ứng dụng
Bt là loại thuốc vị độc, không có hiệu lực tiếp xúc và xông hơi. Trong
ruột, các đạm tinh thể với khối lượng phân t
ử lớn bị bẻ gãy bởi dịch kiềm và
các enzym thành phân tử nhỏ có hoạt tính như tiền độc tố. Ở liều gây chết, các
tiền độc tố này sẽ phá hoại các nếp nhăn của ruột giữa, làm hoạt tính của
màng ruột bị ngừng trệ và giảm dần, gây tử vong cho côn trùng. Vi khuẩn Bt
còn gây cho côn trùng tính chán ăn hay ngừng ăn. Vì vậy, tuy hiệu lực diệt
sâu của Bt chậm nhưng ngay sau khi phun thuốc, sâu
đã ngừng gây hại. Có
hai loại thuốc Bt, loại chứa tinh thể độc tố và bào tử (khoảng 10
7
bào tử/mg)
và loại thuốc Bt chỉ chứa tinh thể độc tố. Sau khi phun, tinh thể độc tố gây
hiệu lực ngay và sau đó phân hủy giải độc còn bào tử thì có thể tồn tại lâu (1-
2năm).
9

Cơ chế tác động của tinh thể độc:
- Khi được phun lên lá cây, protein độc tố dưới dạng tinh thể sẽ diệt
những loại sâu hại nhất định. Cụ thể là sau khi sâu hại ăn phải các tinh thể
tiền độc tố, dưới tác dụng của một loại enzym tiêu hoá trong dịch ruột của
sâu, tiền độc tố bị hoà tan thành những phân tử nhỏ có hoạt tính độc. Các độc
tố này bám vào màng vi mao trong ruột, tạo ra các lỗ rò để cho nước chảy
vào, làm sâu mọng nước, ngừng ăn và chết. (Hình 1.6)
-Bằng con đường tiêu hoá sâu ăn thức ăn có lẫn Bt chỉ sau khoảng thời
gian 1-6 h sâu non bị tê liệt toàn thân.
- Sau 2-3 ngày sâu bị chết có màu đen, toàn thân khô cứng (Hình 1.5)

Nam)…
Tại Việt Nam, sử dụng các thuốc Bt để trừ các loài sâu hại sau đây:
- Trừ sâu tơ
, sâu ăn tạp, sâu xanh da láng, sâu khoang, trên rau cải, cà
chua, dưa leo, đậu cô ve, hành.
- Trừ sâu xanh, sâu xanh da láng, sâu khoang, sâu đục hoa, đục quả trên
đậu xanh, đậu nành, lạc.
- Trừ sâu xanh, sâu ăn tạp, sâu đo, sâu loang, sâu hồng trên thuốc lá,
bông vải, đay.
1.2.4. Ưu điểm và hạn chế khi sử dụng thuốc trừ sâu Bt
a. Ưu điểm
- Không gây ô nhiễm môi trường.
- Bt có hiệu lực cao đối với sâu đã kháng các loại thuốc gốc lân,
cacbamat…
11

- Tinh thể độc do Bt tạo ra không hoà tan trong dịch dạ dày của người nên
thuốc hoàn toàn không độc đối với người cũng như với các động vật có ích
khác như cá, ong và các loài thiên địch.
- Thời gian cách ly ngắn.
b. Hạn chế
- Dễ gây hiện tượng kháng thuốc.
- Chỉ diệt được sâu non khi chúng ăn lá, không diệt được trứng, nhộng và
bướm.
- Dễ bị phân huỷ bởi tia cực tím có trong ánh mặt trời.
- Chỉ có tác dụ
ng vị độc, không có tác dụng nội hấp, tiếp xúc.
- Hạn chế lớn nhất của thuốc trừ sâu Bt là phát tác chậm, 48 tiếng sau khi
ăn độc tố thì sâu mới chết.
1.2.5. Các biện pháp làm tăng hiệu quả phòng trừ của thuốc trừ sâu Bt

công ở dạng bột, bột thấ
m nước hay nhũ dầu, phòng trừ sâu bệnh trên lá đậu
tương thì tỉ lệ sâu chết tăng lên rõ rệt so với Bt chỉ dùng đơn.
Thuốc trừ sâu
Nồng độ
(ppm)
Sâu bệnh bị chết
(%)
Bt 2000 25
DMC 25 30
DDDS 250 47
Neotran 500 41
Bt + DMC 1000 + 25 100
Bt + DDDS 500 + 250 93
Bt + Neotran 500 + 500 98
- Hỗn hợp Bt và 1-(4-clorophenyl)-3-(2,6-difluorobenzoyl)- ure
Qua nghiên cứu, nhóm tác giả Abdul Rehman Chauthani [9] đã thấy
rằng khi hỗn hợp Bt và 1-(4-clorophenyl)-3-(2,6-difluorobenzoyl)- ure với tỉ
lệ từ 1:3 đến 3:1 theo khối lượng thì hiệu quả tăng lên rõ rệt. Khi Bt chiếm 50-
70% khối lượng hỗn hợp thì hiệu quả thu được là cao nhất.
Bt (%)
1-(4-clorophenyl)-3-(2,6-
difluorobenzoyl)- ure (%)
Tỉ lệ sâu chết
(%)
100 0 50
75 25 60
13

70 30 100

50
tăng lên đáng kể so với
LD
50
của Bt.
14

Hỗn hợp trên được tiến hành thử hiệu lực sinh học với côn trùng miệng
nhai và chích hút trên cải bắp, liều lượng sử dụng 1,12kg/ha. Kết quả thu được
như sau:
Tỉ lệ sâu chết khi xử lý
Loại sâu Bt Pyrethrum Hỗn hợp
Ăn lá 65% 10% 100%
Chích hút 0% 85% 85%

1.2.5.3. Hỗn hợp Bt với các chất khác có tác dụng synergist
- Hỗn hợp Bt và một số muối vô cơ
Lui Ming Qiu và cộng sự tại đại học Nông nghiệp Huazhong [20] đã
nghiên cứu 5 loại muối vô cơ Na
2
CO
3
, K
2
CO
3
, CaCl
2
, MgSO
4

rằng một số tác
nhân tạo nhũ với chất béo, tác nhân làm bền protein làm tăng hiệu lực của nội
độc tố từ 2,7 đến 21,7 lần. Một số muối được sử dụng như natri benzoat, muối
Ca, Zn, Cu của EDTA tăng hiệu lực lên 19 đến 21 lần. Vì vậy khi kết hợp với
Bt làm hoạt chất có hiệu lực cao ở nồng độ thấp khi hỗn hợp với các chất này.

15

- Hỗn hợp Bt với virus
Nhóm tác giả Nguyễn Thúy Hà, Phạm Thị Thùy [3] đã tiến hành nghiên
cứu ảnh hưởng của hỗn hợp chế phẩm sinh học Bt và virus đến khả năng diệt
sâu trên cây su hòa vụ đông xuân sớm năm 200 tại Thái Nguyên. Kết quả thấy
rằng, ở thí nghiệm dùng thuốc trừ sâu sinh học Bt hỗn hợp với virus để trừ sâu
hại rau su hào đã khống chế
được sự phát triển của sâu hại rau, giúp cây phát
triển một cách thuận lợi, nâng cao năng suất su hào. Ngoài ra các chỉ tiêu về
sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất cao hơn đối chứng chỉ
sử dụng Bt. Năng suất su hào đạt 22,5 tấn / ha tương đương với công thức
phun theo địa phương 23 tấn/ha. Phân tích nhanh dư lượng thuốc BVTV bằng
Test kit cho thấy, ở các công thức xử lý bằng chế ph
ẩm sinh học không có dư
lượng thuốc BVTV còn công thức phun theo địa phương đã phát hiện là dư
lượng ở mức không an toàn.
- Hỗn hợp BT với dầu khoáng (mineral oil)
Năm 2007, B. Amiri Besheli làm việc tại Phòng thí nghiệm Độc học,
Bộ môn BVTV, Khoa nghiên cứu Hóa nông, trường ĐH Tổng hợp
Mazandaran, Iran đã sử dụng dầu khoáng làm chất synergist cho thuốc trừ
sâu Bt để diệt loài sâu đục cành cam Phyllocnistis citrella Stainton
(Lepidptera: Gracillariidae) [11]. Vai trò của dầu khoáng có thể
làm tăng

đồng tác dụng.
Ưu điểm chính trong việc sử dụng các chất synergist là rất hiệu quả đối
với hiện tượng kháng thuốc của côn trùng. Sự có mặt của các chất synergist
trong thành phần hỗn hợp của thuốc loại trừ khả
năng kháng thuốc của sâu
bệnh, thậm trí tăng độ độc của hoạt chất lên nhiều lần, do vậy liều lượng sử
dụng của hoạt chất giảm đáng kể. Kết quả vừa có ý nghĩa về kinh tế, vừa giảm
thiểu ô nhiễm môi trường [4].
1.3.1.2. Cơ chế tác động của các chất synergist
Mặc dù hiện tượng synergist được khám phá cách đây trên 60 năm và
số
lượng các chất được sử dụng như những synergist cho đến nay đã lên đến
hàng nghìn, việc nghiên cứu cơ chế tác động còn tốn nhiều công sức và thời
gian vì quá trình chuyển hóa trong cơ thể côn trùng rất phức tạp [5].
Gần đây do nhu cầu, các chất synergist được nghiên cứu và áp dụng
vào thực tế tăng lên. Với nhiều thiết bị hiện đại và phương pháp nghiên cứ
tiên tiến các nhà khoa học đã có thể đ
i sâu vào tìm hiểu cơ chế tác động, sự
chuyển hóa trong cơ thể côn trùng dẫn đến khả năng phòng trừ sâu bệnh của
các chất BVTV.
Cơ chế tác động của các chất synergist có thể được giải thích theo nhiều
cách:
- Cơ chế sinh học: các chất synergist tác dụng lên hệ thống các enzym
chuyển hóa của côn trùng.
- Cơ chế hóa học: cấu trúc hóa học của các chất synergist dự trữ một
n
ăng lượng liên kết dư, có khả năng tham gia vào hiện tượng cộng hưởng
năng lượng với cấu trúc hóa học của các chất BVTV, làm tăng độc tính của
chúng lên hoặc làm giảm sự phân hủy của hoạt chất trong cơ thể côn trùng.
17

và giải độc của cơ thể côn trùng.
Vì vậy khi chọn và sử dụng các chất synergist cần lưu ý mộ
t số kỹ thuật sau:
1. Mỗi một chất synergist chỉ có thể phù hợp với một hoạt chất nhất định,
cũng như chỉ có hiệu quả đối với một số đối tượng sâu bệnh nhất định, thậm
chí cùng một đối tượng sâu bệnh nhưng chỉ vào giai đoạn sinh trưởng nhất
18

định. Vì vậy trên cơ sở tài liệu tham khảo cần tiến hành thử hiệu lực kỹ trong
điều kiện thực tế đồng ruộng.
2. Tỉ lệ hỗn hợp tối ưu giữa synergist và hoạt chất được xác định cho từng
loại. Ví dụ: chất naphto-2,3-dioxol có tác dụng synergist mạnh nhất đối với
carbaryl với tỉ lệ rất nhỏ nghiên cứu 1:1000. Lượng chất synergist
đưa vào
bao nhiêu, về kỹ thuật phụ thuộc vào khả năng kìm hãm hoàn toàn hệ thống
giải độc của côn trùng. Tuy nhiên, để đạt được trạng thái ngừng hoàn toàn các
enzym giải độc không đơn giản và phụ thuộc vào cơ chế chuyển hóa chất độc
trong cơ thể côn trùng. Vì vậy, đối với từng loại côn trùng nhất định cần xác
định hệ số hoạt tính synergist và tỉ lệ synergist/hoạt chất nhất đị
nh.
3. Cách hỗn hợp: tốc độ thẩm thấu qua thành tế bào và phân bố lượng chất
synergist trong cơ thể côn trùng cho đến khi ức chế được enzym giải độc đối
với từng cá thể khác nhau và quyết định việc sử dụng synergist đồng thời với
các hoạt chất hay không để đạt được hiệu quả cao nhất. Từ đó xác định cách
hỗn hợp và gia công cho từng loại chế phẩ
m.
1.1.3.4.Giới thiệu một số chất synergist phổ biến [5]
Các chất synergist đầu tiên được phát hiện là những hợp chất có nguồn
gốc tự nhiên được tách ra từ các chất có trong dầu thực vật. Sau đó dựa vào
cấu trúc hóa học của các chất này, người ta đã tìm cách tổng hợp các chất

2 Hynochinin

O
H
2
C
O
O
CH
2
O
OC
O
CH
2
CH
2
Tách từ cây
ChamalcyparisTusa
Tương
đương với
sesamin
3 Piperin

Alcaloid trong cây
hạt tiêu 19


H
2
C
O
O
(CH
2
)
2
CH
3
CH
2
- O - (CH
2
CH
2
O)
2
(CH
2
)
3
CH
3

Synergist cho dãy
pyrethroid
2
Sulfoxide

ng”, trong đó ông cũng sử dụng
muối Natri hoặc Kali của 2 axit oleic và linoleic như chất synergist, hỗn
hợp với các thuốc trừ sâu dãy pyrethroid như Fenvalerate, Permetrin,
Cypermetrin để tạo ra sản phẩm “xà phòng an toàn” chống các côn trùng
như rệp, ruồi [22].
- Gần đây nhất, năm 2010, Byron I. Reid và cộng sự đã công bố công
trình nghiên cứu một cách tương đối toàn diện về sử dụng các synergist
khác nhau trong gia công thuốc trừ côn trùng y tế như gián, kiến…Các
synergist sử dụng là axit oleic, axit linoleic (1%), metyl oleat, metyl
linoleat, metyl palmitat (5%)…, còn thuốc trừ sâu là Imidacloprid [12].
- Dạng gia công bả (bait) sử dụng trong công tác phòng trừ côn trùng y
tế rất thuận tiện vì dễ dùng, ít gây ô nhiễm môi trường xung quanh. Vì vậy,
lĩnh vực này cũng được quan tâm từ lâu. Năm 1998, Barcay và công sự đã
nghiên cứu thành công bả trừ gián, kiến, rệp, ruồi, trong đó sử dụng hỗn
hợp chủ yếu là axit boric, dầu đậu nành, đường mía hoặc dịch chiết từ
21

enzym bia như những chất synergist, không cần bất cứ loại thuốc trừ sâu
nào [23].
Một hướng nghiên cứu sử dụng các dầu thực vật làm phụ gia trong gia
công thuốc BVTV cũng được quan tâm. Ngoài tác dụng synergist, các este
của axit béo còn có tính chất hoạt động bề mặt, chất dẫn hoặc thậm chí làm
dung môi hòa tan một số hoạt chất BVTV không tan trong nước. Vì vậy
chúng còn được sử dụng như các phụ gia trong gia công nông dược. Ví dụ,
công trình củ
a Alefesh Hailu và công sự đã nghiên cứu sử dụng các metyl
este của axit lauric, myristic, palmitic, stearric, oleic, linoleic làm phụ gia
gia công thuốc trừ sâu Propanil… [10].
b) Các synergist có nguồn gốc tự nhiên khác
Ngoài nguyên liệu ban đầu từ dầu béo (sau đó chuyển hóa tiếp) hoặc

a. Các axit béo không no và muối của nó
Gaudet và cộng sự đã công bố công trình sử dụng mu
ối của các axit
béo không no C
18
như axit oleic, linoleic làm chất synergist cho thuốc trừ
sâu vi sinh Bt phòng trừ sâu Halisidota argentata [17]. Kết quả giảm đáng
kể hàm lượng Bt sử dụng đồng thời giảm thời gian knock out, làm cho sâu
chết nhanh hơn, khắc phục nhược điểm của thuốc trừ sâu Bt.
b. Dầu chiết từ cây ngải thân đỏ (Artemisia scoparia) synergist với Bt để
phòng trừ ấu trùng bướm trên cây cải bắp
Hòa trộn dịch dầu thô chiết xuất t
ừ cây ngải thân đỏ (Artemisia
scoparia) với Bt để diệt trừ ấu trùng bướm trắng trên cải bắp với tỉ lệ 1:8,8 (Bt
loại 1,5x10
9
UI/mg) trong cùng điều kiện ánh sáng. Kết quả hệ số synergist
thu được là 208,4. Sau 72h, tỉ lệ ấu trùng chết đạt 76,3% [18].
c. Hợp chất avidin và Bt trừ sâu trên cây bông
Việc sử dụng cây bông có gen Bt trở nên phổ biến. Ngày nay, nhằm
nâng cao hiệu quả và giảm sự kháng côn trùng của Bt, người ta sử dụng
avidin như là một chất synergist cho Bt. Avidin là một protein trong lòng
trắng trứng. Avidin là một protein trong lòng trắng trứng, có thể liên kết với
biotin (vitamin H) làm mất hoạt tính của biotin nh
ưng an toàn với động vật
bậc cao. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sự có mặt của avidin trong thức ăn
có thể giảm sự tăng trưởng của côn trùng bộ cánh phấn. Vì avidin là protein
có hoạt tính sinh học nên khi kết hợp với Bt, gen của nó được chèn vào bộ
gen của cây bông hay xếp chồng lên nhau với các gen của Bt. Zhu, Yu
Cheng và các cộng sự đã xác định tỉ lệ tử vong của 3 loài côn trùng bộ cánh

như sâu khoang và sâu tơ. Sử dụng thuốc trừ sâu vi sinh Bt phù hợp với vùng
sản xuất rau sạch, vì vậy đề tài lựa chọn nội dung nghiên cứu tổng hợp chất
synergist cho thuốc trừ sâu Bt là hỗn hợp muối kali của axit oleic và linoleic
(được chiết tách từ d
ầu thực vật) do:
- Không độc, không ô nhiễm môi trường.
- Hầu hết các dầu thực vật sẵn có ở Việt Nam đều chứa hàm lượng khá
cao hai axit trên. Quá trình tách chúng không quá phức tạp.
- Các hợp chất này không độc, dễ phân hủy sinh học, không để lại dư
lượng trong nông phẩm và môi trường, rất phù hợp cho đối tượng sử dụng.
1.3.4. Các phương pháp chiết tách axit béo từ dầu thực vật
Trên thế
giới hiện nay thường sử dụng các phương pháp sau để tạo các
sản phẩm axit béo có hoạt tính sinh học cao:
24 Hình 1.7. Sơ đồ các phương pháp chiết axit oleic và linoleic từ dầu thực vật
-Phương pháp 1: Sử dụng các phương pháp hóa học để tinh chế axit
oleic và linoleic
-Phương pháp 2: Tách trên cột Silicagen, tráng bạc AgNO
3
. Phương
pháp này phù hợp với quy mô nghiên cứu nhỏ cho phân tích thí nghiệm,
không phù hợp với quy mô sản xuất vì AgNO
3
có giá thành rất cao.
-Phương pháp 3: Dùng sắc kí lỏng cao áp pha đảo C18. Phương pháp
này tiêu tốn lượng lớn dung môi tinh khiết, chi phí lớn dẫn tới giá thành sản
phẩm sẽ cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status