Nghiên cứu công nghệ sản xuất men giả màu đồng cho gốm sứ mỹ nghệ xuất khẩu - Pdf 13

BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU SÀNH SỨ THỦY TINH CÔNG NGHIỆP BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CẤP BỘ:
“NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT MEN GIẢ
MÀU ĐỒNG CHO GỐM SỨ MỸ NGHỆ XUẤT KHẨU”

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: KS. TRẦN KIÊN
7608
22/01/2010

HÀ NỘI, 2009


MỤC LỤC
TIÊU ĐỀ SỐ TRANG
Mở đầu 1
Tóm tắt nhiệm vụ 3
Chương 1. Tổng quan lý thuyết 3
1.1. Men cho sản xuất gốm sứ 4
1.1.1. Phân loại men 4
1.1.2. Công thức men 5
1.1.3. Yêu cầu kỹ thuật của men 7
1.1.4. Tính chất của men 7
1.2. Men giả màu đồng 11
1.3. Nguyên liệu sản xuất 12
1.3.1. Trường thạch (feldspat) 12
1.3.2. Thạch anh (quarzit) 13
1.3.3. Cao lanh 14
1.3.4. Đôlômit 15
1.3.5. Talc 15
1.3.6. Đá vôi 16
1.3.7. Hóa chất trợ chảy 16
1.3.8 Hóa chất tạo màu, hỗ trợ khử 17
Chương 2. Thực nghiệm 18
2.1. Xác định đơn phối liệu men gốc 18
2.2 Xác định đơn phối liệu men giả màu đồng 20
2.2.1. Thí nghiệm lần 1
2.2.2. Thí nghiệm lần 2 27
2.2.3. Thí nghiệm lần 3 32
Chương 3. Sản xuất thử nghiệm 38
3.1. Quy trình sản xuất men giả màu đồng 38
3.2. Tổ chức sản xuất thử nghiệm 39
Kết luận và kiến nghị 42

vào sản xuất trong một vài năm gần đây và ngày càng phát triển mạnh mẽ tại các
Tỉnh Giang Tây, Hồ Nam, Phúc Kiến, Sơn Đông, An Huy, Quảng Đông, vv…Theo
số liệu thống kê của Hiệp hội gốm sứ xây dựng Việt Nam tại Triển lãm quốc tế
n
ăm 2007 “China International Ceramics Exhinbition” chuyên ngành gốm sứ tại
Thành phố Quảng Châu, Tỉnh Quảng Đông - Trung Quốc. Từ tháng 1 - 9/2007 tổng
kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gốm sứ Trung Quốc là 4,81 tỷ USD. Trong đó xuất
khẩu gốm sứ xây dựng là 1,556 tỷ USD chiếm 32,35%, xuất khẩu sứ vệ sinh là
0,539 tỷ USD chiếm 11,21%, xuất khẩu các sản phẩm vật liệu chịu lửa là 0,9 tỷ
USD chiếm 18,73%, xuất khẩu gố
m sứ gia dụng là 1,317 tỷ USD chiếm 27,37%,
xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ là 0,497 tỷ USD chiếm 10,34 %, trong đó sản phẩm
men giả màu đồng cho gốm sứ mỹ nghệ và gốm xây dựng cũng được sản xuất
nhiều.
Ở Việt Nam hiện nay đã có một số Cơ sở gốm sứ ở Làng nghề Bát Tràng
đang tiến hành nghiên cứu và ứng dụng loại men giả màu đồng vào sả
n xuất nhưng
đang gặp phải khó khăn do không điều chỉnh được thành phần ổn định của men và
quy trình nung rất khắt khe nên tỷ lệ thu hồi sản phẩm sau khi nung rất thấp, chỉ đạt
bình quân 50-60%. Do vậy giá thành sản phẩm của dòng men giả màu đồng rất cao,
gấp hơn 2 - 3 lần sản phẩm cùng loại dùng dòng men khác. Mặt khác cũng do chất

2
lượng không ổn định nên nhiều Cơ sở không dám sản xuất, bỏ lỡ nhiều cơ hội thực
hiện hợp đồng xuất khẩu với nước ngoài.
Theo số liệu thống kê của Hiệp hội gốm sứ Bát Tràng hiện tại ở Làng nghề
Bát Tràng có hơn 1.800 Cơ sở và Hộ gia đình sản xuất gốm sứ. Doanh thu sản xuất
năm 2008 ước đạt hơn 600 t
ỷ đồng, trong đó giá trị sản phẩm xuất khẩu ước đạt
trên 14 triệu USD. Sản phẩm men giả màu đồng đến nay cũng không còn cơ sở nào

m sứ tại
Làng nghề có nhiệt độ nung Tmax: 1220 – 1280
o
C.
- Nghiên cứu nguyên liệu sử dụng để sản xuất men gốc gồm các nguyên
liệu khoáng tự nhiên như: Fendspat, thạch anh, hoạt thạch, đolomit, đá vôi, cao
lanh,…
- Nghiên cứu hóa chất sử dụng tạo men giả màu đồng là oxit đồng đỏ
Cu
2
O để có thể khử thành Cu kim loại.
- Nghiên cứu các hóa chất khử và hỗ trợ khử để khử Cu
2
O thành Cu kim
loại như Li
2
CO
3
, FeCl
3
, TiO
2
, V
2
O
3
, ZrO
2
,….
- Nghiên cứu quy trình nung sản phẩm và quy trình làm nguội sản phẩm.

a. Phân loại theo thành phần:
* Men chì:
- Men không chứa Bo.
- Men có chứa Bo
* Men không chứa chì:
- Men có chứa Bo.
- Men không chứa Bo: Men kiềm (có chứa hàm lượng kiềm cao) và men có
chứa hàm lượng kiềm thấp.
b. Phân loại theo phương pháp sản xuất:
- Men sống.
- Men Frit: bao gồm chủ yếu là men nấu chảy đã được frit hóa.
- Men muối: Men được tạo thành do các chất bay hơi bám lên trên bề mặt
sản phẩm tạo nên lớp men.
- Men tự tạo: Phối liệu trong quá trình nung hình thành trên bề m
ặt sản phẩm
một bề mặt tương đối phẳng nhẵn và bóng.

5
c. Phân loại theo nhiệt độ nung:
- Men khó chảy: Men có nhiệt độ nóng chảy cao trong khoảng 1250 –
1450
o
C, có độ nhớt lớn, thường là men kiềm thổ, men feldspat hoặc men đá vôi.
Men này thường có hàm lượng SiO
2
cao và hàm lượng kiềm thấp. Nguyên liệu sản
xuất men thường là Quart, Feldspat, đá vôi, đá phấn, đôlômit, talc,… Đó là các loại
nguyên liệu không tan trong nước nên phương pháp sản xuất loại men này là sản
xuất men sống. Loại men này thường được tráng lên sản phẩm sứ, sành, sành dạng
đá.

Trong công thức này RO là tổng các oxit bazơ, tổng các phần mol của các
oxit này luôn bằng 1, còn R là biểu hiện cho các kim loại sau: Pb, K, Na, Ca, Mg,
Ba, Li, Zn. Với men màu có thể là Co, Ni, Cu, Mn, Fe,… Oxit lưỡng tính nằm xen
kẽ giữa oxit bazơ và oxit axit, nhóm này chủ yếu là oxit nhôm. Oxit axit gồm SiO
2

là chính, ngoài ra có thêm B
2
O
3
. [1-90]
Các phần mol của oxit lưỡng tính và oxit axit tính quy đổi theo tổng oxit
bazơ làm chuẩn.
Trong một số men đơn giản công thức men chỉ bao gồm RO. SiO
2
.

6
Theo kết quả thực nghiệm các nhà nghiên cứu thấy rằng cứ tăng thêm 0,1
mol SiO
2
thì nhiệt độ chảy của men sẽ tăng thêm 20
O
C. Tăng thêm 0,1 mol Al
2
O
3

thì nhiệt độ chảy của men sẽ tăng thêm 40 - 60
O

2

0,7 CaO
2. SK8 0,3 K
2
O
(1250
O
C ) 0,33 Al
2
O
3
3,5 SiO
2

0,7 CaO
3. SK9 0,3 K
2
O
(1280
O
C ) 0,40 Al
2
O
3
4,0 SiO
2

0,7 CaO


oxit làm tăng độ nhớt như SiO
2
, Al
2
O
3
, ZrO
2
, Cr
2
O
3
, SnO
2
, MgO, CaO (riêng MgO
và CaO chỉ làm tăng độ nhớt khi hàm lượng đưa vào lớn), B
2
O
3
dưới 12% làm tăng
độ nhớt, nếu trên 12% sẽ làm giảm độ nhớt. CaO khi đưa vào men với hàm lượng
nhỏ thì hầu như không ảnh hưởng đến độ nhớt, hàm lượng tăng lên thì độ nhớt mới
tăng. SrO với hàm lượng nhỏ có tác dụng làm giảm độ nhớt, với hàm lượng trên
20% thì sẽ làm tăng độ nhớt.
Đối với sản xuất men cho gốm sứ thì điều quan trọng cầ
n chú ý là phải tính
toán được men có khoảng chảy mềm rộng để cho men có thể nóng chảy hoàn toàn
và bám chắc vào xương mà không có hiện tượng chảy dồn (men có độ chảy dàn
đều tốt), có nghĩa là men có thành phần phù hợp để độ nhớt ít thay đổi hoặc thay
đổi chậm trong một khoảng nhiệt độ nhất định phù hợp với khoảng nhiệt độ kết

/SiO
2
(tỷ lệ càng lớn, nhiệt độ men càng giảm)
- Phụ thuộc độ nghiền mịn của men, men càng mịn, nhiệt độ nóng chảy càng
giảm, và phụ thuộc thành phần khoáng của phối liệu (thí dụ Na
2
O cho vào ở dạng
Na
2
CO
3
thì men có nhiệt độ thấp và hoạt tính cao hơn là cho vào dưới dạng trường
thạch).
Để xác định khoảng nhiệt độ nóng chảy của men, có thể dùng công thức tính
gần đúng hoặc dùng phương pháp thực nghiệm:
Công thức xác định khoảng nóng chảy của men: có dạng sau
K=
Trong đó
- a
1
,a
2
,…

: là hằng số nóng chảy đối với các ôxit dễ chảy
- n
1,
n
2
,…: là hàm lượng các ôxít dễ chảy, tính theo % trọng lượng

3
0,80
NaSiF
6
0,8 FeO 0,80 Fe
2
O
3
0,80
CoO 0,8 NiO 0,80 Mn
2
O
3
0,80
Sb
2
O
5
0,6 Cr
2
O
3
0,60 CaO 0,50
Al
2
O
3
<5% 0,5
Bảng hệ số nóng chảy của oxit hoặc hợp chất khó chảy:
Tên Trị số Tên Trị số

1,5 756 0,8 829 0,1 1.450
1,4 758 0,7 861

c. Sức căng bề mặt:
Sức căng bề mặt hay còn gọi là năng lượng bề mặt tác dụng lên ranh giới của
pha lỏng theo chiều hướng thu nhỏ mặt pha lỏng. Đối với các pha silicat nóng chảy
sức căng bề mặt nằm trong khoảng 300 dyn/cm.
Sức căng bề mặt luôn có khuynh hướng thu nhỏ ranh giới tiếp xúc của pha
lỏng. Tại ranh giới giữa pha lỏng, rắn và khí s
ẽ hình thành sức căng bề mặt, điều
này đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình thấm ướt. Một chất lỏng có sức căng
bề mặt lớn luôn có khuynh hướng tự co lại thành hình cầu. Điều này có ý nghĩa lớn
nếu tráng hai men cách nhau hoặc chồng lên nhau thì phải tính sức căng bề mặt sao
cho hai men đó phù hợp nhau. Trường hợp cần trang trí men co có thể dựa vào sức
căng bề mặt để
điều chỉnh men cho thích hợp. Sức căng bề mặt của men lớn, khả
năng thấm ướt của men với xương kém, thường xảy ra khuyết tật như phồng rộp,
cuốn men, nứt men, vv
Dựa vào thành phần hoá của men có thể dùng phương pháp cộng để tính
được sức căng bề mặt men.
Dựa vào thực nghiệm xác định được sức căng bề mặt của men tă
ng theo dãy
sau: B
2
O
3
<ZnO<CaO<NiO<V
2
O
5

d. Sự giãn nở:
Sự giãn nở của men được biểu thị bằng sự giãn nở của một vật khi nâng lên
một độ gọi là hệ số giãn nở.
Sự chênh lệch hệ số giãn nở của men và x
ương trong phạm vi hẹp sẽ không
gây ra khuyết tật vì men có khả năng đàn hồi trong một phạm vi nhất định trước
những ứng lực sinh ra nên giữ được cho men không bị nứt, bị bong. Tuy nhiên nếu
ứng lực sinh ra lớn hơn độ bền thì sẽ có hiện tượng nứt men hoặc bong men. Do
vậy phải tính toán hệ số giãn nở nhiệt của men phù hợp với xương. Nếu men có hệ
số giãn nở
lớn hơn xương khi nung giãn nở mạnh, khi làm nguội sẽ co lại nhiều
hơn xương tạo nên ứng suất kéo làm nứt men. Trường hợp ngược lại men có hệ số
giãn nở nhỏ, khi nung sẽ nở ít, khi làm nguội co lại ít hơn xương sẽ làm bong men.
Hệ số giãn nở của men được xác định bằng thiết bị đo dilatomet hoặc theo
tính toán.
Theo thực nghiệm thì hệ số giãn nở của men tă
ng theo dãy sau:
Al
2
O
3
<K
2
O<Na
2
O<Li
2
O
Giảm theo dãy sau: CaO>ZnO>MgO>SnO
2

α = α
1.
P
1
+ α
2.
P
2
+ α
3.
P
3
+ α
4.
P
4
+……
Trong đó: P
i
: là hàm lượng % các oxit có trong men.
α
i
: các hệ số ứng với các oxit ấy.
- Phương pháp tính theo công thức của A.A.Appen
α

.10
7
=
Σ


12
g. Tỷ trọng của men:
Tỷ trọng men thường do yêu cầu của sản phẩm, phương pháp tráng men và
năng xuất tráng men quyết định. Tỷ trọng men ảnh hưởng tới tốc độ tráng men và
độ dày lớp men. Tỷ trọng men lớn tức là hồ men đặc, khi tráng men sẽ làm cho lớp
men bám trên bề mặt sản phẩm dày mỏng không đều, dễ gây ra hiện tượng nứt
men, rạn men. Tỷ trọng men nhỏ tức là h
ồ men loãng, khi tráng men sẽ làm cho lớp
men bám trên bề mặt sản phẩm ít, dễ gây ra hiện tượng mỏng men làm men không
bóng. Do vậy với mỗi phương pháp tráng men phải xác định được tỷ trọng men
hợp lý. Với phương pháp nhúng men tỷ trọng men thường là 1,4- 1,5 g/cm
3
.
1.2. Men giả màu đồng [7,8,9]
Men giả màu đồng là loại men có ánh đồng kim loại trên các sản phẩm gốm
sứ mỹ nghệ. Nhằm mục đích làm đẹp sản phẩm thay thế các sản phẩm bằng đồng
dùng để trang trí.
Về bản chất của men giả màu đồng là tạo sự kết tinh của đồng kim loại trên
bề mặt men. Về lý thuyết có hai phương pháp để tạo sự kết tinh của kim lo
ại đồng
như sau:
- Nung sản phẩm trong môi trường khử để khử từ các hợp chất của Cu thành
Cu kim loại.
- Dùng các hóa chất hỗ trợ để khử các hợp chất của Cu thành Cu kim loại.
Trong thực tế môi trường nung để tạo được men có màu đồng là rất khó ổn
định vì các loại men màu thường rất nhậy với môi trường nung. Cùng với một loại
màu như môi trường nung ô xy có màu khác với môi trường khử hay trung tính.
Th
ậm chí khử đậm hay nhạt hơn một chút cũng khác nhau.

2
O
3
+ 3Cl
2
Tuy nhiên môi trường nung là rất khó ổn định do vậy Cu sẽ dễ bị oxi hóa
trở lại Cu
2
O, và có thể thành CuO. Do vậy để tránh hiện tượng bị oxi hóa
trở lại, sẽ phải sử dụng các chất có tác dụng hỗ trợ khử và ổn định trạng
thái nguyên tử Cu. Các chất ổn định thường được sử dụng là : Li
2
CO
3
,
ZrO
2
, TiO
2
,…. Các chất này có tác dụng như chất xúc tác giúp cho phản
ứng xảy ra dễ dàng hơn và ổn định hơn.
Nhóm thực hiện sẽ tiến hành nghiên cứu cả hai phương pháp trên.
Với phương pháp dùng các hóa chất hỗ trợ để khử các hợp chất của Cu thành
Cu kim loại, nhóm thực hiện sẽ nghiên cứu sử dụng các loại hóa chất có tính khử
mạnh và ổn định ở nhiệt độ cao như Li
2
CO
3
, FeCl
3

2
O
3
.6 SiO
2
- Trường thạch kali (octoclaz) K
2
O. Al
2
O
3
.6 SiO
2

- Trường thạch canxi (anorthit) CaO.Al
2
O
3
.2 SiO
2

Trong thực tế ít tồn tại trường thạch nguyên chất mà thường gặp dạng hỗn
hợp của các loại khoáng trên.
* Tính chất chung:
Trường thạch là một loại đá có độ cứng 6 - 6,5 theo thang Mohr, tỷ trọng
2,56 - 2,76 g/cm
3
.

14

là khi nhiệt độ tăng thì độ nhớt của nó giảm rất chậm.
Nhiệt độ nóng chảy của trường thạch natri nguyên chất là 1120
o
C và ngay
lập tức chuyển thành pha lỏng đồng nhất có độ nhớt rất bé.
Nhiệt độ nóng chảy của các loại trường thạch khác nhau phụ thuộc vào thành
phần và lượng tạp chất có trong nguyên liệu. Dưới tác dụng của nhiệt độ cao trường
thạch có khả năng hoà tan các loại nguyên liệu khác như thạch anh, đất sét, cao
lanh, vv…để tạo pha thuỷ tinh.
Trường thạch kali có tác dụng tốt cho xương sứ vì cho phép hạ th
ấp nhiệt độ
nung, song lại có khoảng nung rộng nên sứ ít bị biến hình (được gọi là trường thạch
xương). Trường thạch natri lại thích hợp cho men sứ do có độ nhớt bé, men dễ
chảy, bóng láng hơn (được gọi là trường thạch men).
* Yêu cầu chất lượng của trường thạch cho sản xuất gốm sứ:
Trường thạch là loại nguyên liệu chính cung cấp thành phần K
2
O và Na
2
O
cho sản xuất gốm sứ. Trường thạch tốt phải có tổng hàm lượng K
2
O và Na
2
O
không nhỏ hơn 10%, Fe
2
O
3
không lớn hơn 0,1%, TiO

vô định hình là diatomit, nó là tập
hợp các gel SiO
2
nên mịn và xốp. Loại này dùng để sản xuất gốm xốp, vật liệu lọc
và vật liệu cách nhiệt, vv…
* Tính chất chung:
Thạch anh thuộc loại đá cứng có độ cứng 7 theo thang Mohr, tỷ trọng thay
đổi tuỳ theo dạng kết tinh thường từ 2,21-2,65 g/cm
3
.
Thành phần hoá học chủ yếu của thạch anh là SiO
2
thường chiếm 95-99%
ngoài ra còn chứa một số tạp chất khác như Al
2
O
3
, Fe
2
O
3
, vv…
Nhiệt độ chịu lửa của thạch anh từ 1713- 1770
o
C phụ thuộc vào dạng kết tinh
và lượng tạp chất có trong nguyên liệu, lượng tạp chất nhiều sẽ hạ thấp độ chịu lửa
của thạch anh.
* Yêu cầu chất lượng của thạch anh cho sản xuất gốm sứ:
Thạch anh loại tốt phải có hàm lượng SiO
2

.4SiO
2
.H
2
O+ nH
2
O) và nhóm khoáng chứa
Alkali, nhóm này còn được gọi là illit hay khoáng sét chứa mica, các dạng mica

16
thường gặp ngâm nước là: muscovit (K
2
O.3Al
2
O
3
.6SiO
2
.2H
2
O), biotit
(K
2
O.4Mg
2
O.Al
2
O
3
.6SiO

cơ học, men trắng, có độ bóng láng tốt. Nếu sử dụng nhiều đôlômit trong men cũng
sẽ làm cho men dễ bị ám khói, gây vàng sản phẩm.
*Yêu cầu kĩ thuật của Đôlômit đưa vào trong men:
Đôlômit loại tốt sẽ có hàm lượng tạp chất sắt ít Fe
2
O
3
< 1%. Đôlomit có
màu xám nhạt hoặc trắng xanh, lẫn ít tạp chất đất cát, tạp chất hữu cơ,… Sau khi
nung đôlomit có màu trắng, hàm lượng CaO > 30%, MgO > 21%.
1.3.5 Talc [3-14]
Talc hay còn gọi là Hoạt thạch có công thức chung là 3MgO.4SiO
2
.H
2
O.
nguồn gốc của hoạt thạch là do sự tác động nhiệt dịch của các chất có chứa CO
2
với
đá giàu Magie.
Talc là loại đá mềm, có độ cứng 1 theo thang Mohr, tỷ trọng từ 2,7 -2,8
g/cm
3
. Màu sắc của hoạt thạch thường có màu trắng, xám nhạt hoặc phớt hồng. Đặc
điểm của talc là dễ cắt gọt, sờ vào có cảm giác trơn tuột, thường phải nung lên
trước khi dùng để khử tính trơn.
Việc đưa talc vào trong men sẽ có tác dụng làm cho men chịu được nóng
lạnh đột ngột tốt, tăng độ bền cơ, tạo cho men có màu trắng đục, có thể che phủ rất
tốt nh
ững sản phẩm có xương không trắng.

chất tạo màu và hỗ trợ khử vào sẽ làm thay đổi nhiệt độ chảy của men, thường là
làm tăng nhiệt độ chảy của men, vì vậy để đảm bảo nhiệt độ chảy c
ủa men phù hợp
với nhiệt độ nung của sản phẩm, nhóm thực hiện đề tài sẽ đưa vào trong men frit
chì (hay còn gọi là thủy tinh chì). Đây là phế phẩm tại các nhà máy sản xuất bóng
đèn. Việc sử dụng loại frit chì này vào trong men vừa giúp hạ thấp nhiệt độ chảy
của men phù hợp với nhiệt độ nung của sản phẩm gốm sứ mỹ nghệ, vừa tận dụng
được nguồn ph
ế phẩm từ các nhà máy sản xuất bóng đèn thủy tinh.
Thành phần hóa của frit chì:
ĐVT: % Khối lượng
SiO
2
Al
2
O
3
CaO MgO Fe
2
O
3
Na
2
O K
2
O PbO ZnO
56.71-
60
1.34 –
2.0

2
(hàng công nghiệp 99%)
- Oxit Titan TiO
2
(hàng công nghiệp 99%)
- Oxit zircon ZrO
2
(hàng công nghiệp 99%)

19
CHƯƠNG 2. THỰC NGHIỆM
Nhằm mục đích thu được lớp men giả màu đồng, có hai phương pháp để tạo
sự kết tinh của đồng kim loại trên bề mặt men:
- Nung sản phẩm trong môi trường khử để chuyển Cu
2
O thành Cu kim loại.
- Dùng các hóa chất để khử từ Cu
2
O thành Cu kim loại.
2.1. Xác định đơn phối liệu men gốc
Ta lựa chọn nhiệt độ nung men giả màu đồng trong lĩnh vực sứ dân dụng và
sứ mỹ nghệ trong khoảng nhiệt độ 1220
o
C – 1280
o
C. Theo lý thuyết công thức men
nêu ở trang 6, nhóm thực hiện đề tài chọn bài men gốc có công thức Serge SK8 làm
bài men gốc để tính toán cho men giả màu đồng như sau:
Công thức men SK8 : 0,3 K
2

CaO MgO Na
2
O K
2
O MKN
% 58.15 11.69 0.29 12.38 0.18 1.18 2.21 12.86
Nhóm thực hiện đề tài lựa chọn những nguyên liệu tốt để nghiên cứu, các
nguyên liệu lựa chọn được phân tích thành phần hóa tại phòng thí nghiệm phân tích
hóa, Viện Nghiên cứu Sành sứ Thủy tinh Công nghiệp. Thành phần hóa được đưa
ra trong bảng 2.

20
Bảng 2. Thành phần hóa các loại nguyên liệu men gốc.
ĐVT: % Khối lượng
Nguyên
liệu
Quartz
(%)
Cao
lanh
1
(%)

Cao
lanh
2
(%)
Trường
thạch 1
(%)

O
3

0.00 0.23 0.38 0.78 0.07 0.08 0.12 4.19
Na
2
O
0.00 0.30 0.48 0.99 3.17 0.10 0.09 0.01
K
2
O
0.01 0.36 1.33 6.05 11.59 0.01 0.06 0.01
PbO
0 0 0 0 0 0 0 0
ZnO
0 0 0 0 0 0 0 0
TiO
2

0 0.03 0.08 0.80 0.01 0.13 0.21 0.78
MKN
0.03 13.94 12.59 0.28 0.32 44.09 40.96 5.03
Sau khi có kết quả phân tích thành phần hóa các mẫu nguyên liệu, từ những
cơ sở nghiên cứu bài men gốc, nhóm thực hiện đề tài tính toán và xác lập đơn phối
liệu men gốc trong bảng 3 dưới đây.

21
Bảng 3. Đơn phối liệu men gốc
ĐVT: % Khối lượng


3
5

22
Bảng 4. Đơn phối liệu men giả màu đồng lần 1
ĐVT: % Khối lượng
Thành phần
TT Loại nguyên liệu
MĐ MĐ-1
1 Men gốc
78 62
2 Frit chì
18 18
3 Cu
2
O
4 4
4 MnO
2

- 10
5 V
2
O
3

- 2
6 TiO
2


10
-7
(K
-1
)
74.87
65.79
* Quá trình thí nghiệm được thực hiện như sau:
- Phối liệu được cân trộn theo đơn.
- Nghiền mịn trong máy nghiền bi siêu tốc khoảng 45 phút.
- Độ ẩm men : 55%.
- Độ nhớt: 18” ( Ford Cup)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status