thực trạng và GIẢI PHÁP KHAI THÁC HUY ĐỘNG vốn CHO CÔNG TY cổ PHẦN VIỆT NAM - Pdf 13

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Với mỗi công ty thì để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì
công ty cần có vốn để hoạt động. Vốn là một nhân tố sản xuất quan trọng
sống còn, quyết định đến sự thành bại của công ty. Vốn càng lớn thì tiềm lực
của công ty càng lớn, nó tạo điều kiện cho công ty dễ dàng hơn trong các
quyết định đầu tư, trong các dự án đầu tư mới như tham gia vào lĩnh vực kinh
doanh mới…
Mặc dù các công ty cổ phần cũng có các kênh huy động vốn khác như đi
vay tín dụng thương mại từ các đối tác. Mặc dù đây là một kênh huy động
vốn hiệu quả nhưng nó lại bị hạn chế vì phụ thuộc vào quy mô vốn của công
ty cổ phần nên phần vốn mà công ty có thể huy động được từ đây vẫn chưa
đáp ứng được nhu cầu hoạt động.
Một kênh huy động vốn khác mà công ty cổ phần đã tiếp cận là vay tín
dụng ngân hàng. Đây là một kênh huy động vốn có tiềm năng khi mà lượng
vốn vay từ đây có thể có số lượng lớn nhưng nó lại chịu nhiều rằng buộc khi
mà muốn vay được tiền từ ngân hàng hay các tổ chức tài chính thì phải đáp
ứng được các điều kiện rằng buộc như có tài sản thế chấp hay hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty phải ổn định và có hiệu quả. Do vậy mà kênh
huy động vốn này công ty cổ phần tuy đã tiếp cận nhưng vẫn còn có nhiều
rào cản.
Đó là những kênh huy động vốn mà các công ty cổ phần hiện nay đang
tiếp cận. Mặc dù từ những kênh huy động vốn này mà công ty đã huy động
được một số lượng vốn nhất định nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cho
các hoạt động trong công ty.1
Qua tìm hiểu tại các công ty cổ phần tôi thấy rằng các công ty cổ phần
Việt Nam còn có thể tiếp cận được với nhiều kênh huy động vốn khác hay là
mở rộng kênh huy động vốn hiện tại. Do vậy mà đề tài đi vào nghiên cứu các

mà có thể tìm cách áp dụng những bài học kinh nghiệm, xem kinh nghiệm
nào là phù hợp để ứng dụng cho các hoạt động vốn có khả năng thu lai hiệu
quả cao nhất, là khả thi với các Công ty cổ phần nhất, tránh thực trạng là cứ
thấy một hoặc một số công ty khác áp dụng thành công một kênh huy động
vốn mới, tạo ra được nhiều vốn cho công ty thì các công ty khác theo sau thấy
thế mà áp dụng khi không có sự tìm hiểu nghiên cứu. Điều này là rất nguy
hiểm vì điều kiện của các công ty là khác nhau, hoạt động trong những điều
kiện khác nhau, trình độ của mỗi công ty là khác nhau cả về trình độ con
người cũng như là trình độ công nghệ. Từ đó sẽ dẫn đến thất bại gây thiệt hại
cho công ty. Vì vậy mà cần phải có những nghiên cứu tìm hiểu phân tích
trước khi áp dụng.
Thứ hai là đề tài tìm ra được những điểm mạnh, điểm yếu của các kênh
huy động vốn hiện tại mà các Công ty cổ phần đang áp dụng đề từ đó có
những giải pháp để khắc phục hay phát huy những điểm yếu điểm mạnh đó.
Vì nhiều khi việc mở ra một kênh huy động vốn mới đối với công ty là chưa
cần thiết khi mà ta chưa khai thác hết tiềm năng các kênh huy động vốn hiện
tại điều đó sẽ gây lãng phí cho công ty vì vậy mà ta phải xem xét kỹ càng các
kênh huy động vốn hiện tại của công ty đang áp dụng xem xét tìm hiểu những
kênh huy động vốn này liệu đã thực sự khai thác hết tiềm năng hay chưa. Nếu
thấy tiềm năng của kênh huy động vốn vẫn còn thì tại sao không tiếp tục khai
thác, hoặc tìm hiểu xem tại sao ta chưa khai thác hết tiềm năng để từ đó đề ra
những giải pháp để khai thác hết tiềm năng của những kênh huy động vốn
này. Còn nếu sau khi xem xét thấy rằng các kênh huy động vốn hiện tại ta đã
khai thác hết tiềm năng rồi không còn có thể mở rộng hơn được nữa thì từ đó3
ta mới có phương án cân nhắc xem xét đến việc mở ra một kênh huy động
vốn mới.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.

kinh nghiệm của các Công ty cổ phần khác nhau.
5. Kết quả nghiên cứu dự kiến đạt được.
Với đề tài nghiên cứu này kết quả dự kiến đạt được sẽ là tìm ra được một,
một số kênh huy động vốn mới phù hợp với các công ty cổ phần Việt Nam
hiện nay .Và từ đó đề xuất những giải pháp hợp lý để có thể áp dụng thành
công các kênh huy động vốn mới này.
6. Bố cục đề tài.
Bài viết được chia thành ba phần.
Phần một: Lời nói đầu
Phần hai: Nội dung đề tài
Chương 1: Lý thuyết chung về nguồn vốn và công tác huy động vốn trong
Công ty Cổ phần
Chương 2: Thực trạng huy động vốn trong Công ty cổ phần Việt Nam
hiện nay.
Chương 3: Định hướng và giải pháp khai thác huy động vốn đầu tư trong
nước
Phần ba: Kết luận và kiến nghị.5
CHƯƠNG I
LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGUỒN VỐN VÀ CÔNG TÁC HUY
ĐỘNG VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN.
1.1.Khái quát về nguồn vốn trong doanh nghiệp
1.1.1.Tổng quan về nguồn vốn doanh nghiệp
Trong mọi doanh nghiệp, vốn đều bao gồm hai bộ phận: Vốn chủ sở hữu
và nợ; mỗi bộ phận này được cấu thành bởi nhiều khoản mục khác nhau tuỳ
thuộc tính chất của chúng. Tuy nhiên, việc lựa chọn nguồn vốn trong các
doanh nghiệp khác nhau sẽ không giống nhau, nó phụ thuộc vào một loạt các
nhân tố như :

Nhà nước. Chủ sở hữu của các doanh nghiệp Nhà nước là Nhà nước. Hiện
nay, cơ chế quản lý tài chính nói chung và quản lý nguồn vốn của doanh
nghiệp Nhà nước nói chung và quản lý vốn vủa doanh nghiệp Nhà nước nói
riêng đang có những thay đổi để phù hợp với tình hình thực tế.
Đối với các doanh nghiệp,theo Luật doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp phải
có một số vốn ban đầu cần thiết để xin đăng ký thanhg lập doanh nghiệp
Chẳng han, đối với công ty cổ phần, vốn do các cổ đông đóng góp là yếu
tố quyết định để hình thành công ty.Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu công ty
và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị cổ phần mà họ nắm giữ. Tuy
nhiên, các công ty cổ phần cũng có một số dạng tương đối khác nhau. Trong
các loại hình doanh nghiệp khác như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI), các nguồn vốn cũng tương tự như trên;
tức là vốn có thể do chủ đầu tư bỏ ra, do các bên tham gia, các đối tác đóng
góp…Tỷ lệ và quy mô góp vốn của các bên tham gia công ty phụ thuộc vào
nhiều yếu tố khác nhau(như pháp luật, đặc điểm ngành kinh tế-kỹ thuật,cơ
cấu liên doanh).
+Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia7
Quy mô số vốn ban đầu của chủ doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng,
tuy nhiên thông thường số vốn này cần được tăng theo quy mô phát triển của
doanh nghiệp.Trong quá trình sản xuất kinh doanh nếu doanh nghiệp hoạt
động có hiệu quả thì doanh nghiệp có những điều kiện thuận lợi để tăng
trưởng nguồn vốn.Nguồn vốn tích trữ từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi
nhuận được sử dụng tái đầu tư sản xuất,mở rộng sản xuất-kinh doanh của
doanh nghiệp.
Tự tài trợ bằng lợi nhuận không chia-nguồn vốn nội bộ là phương thức tạo
nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn đối với các doanh nghiệp, vì
doanh nghiệp sẽ giảm được chi phí,giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài. Rất

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể tăng vốn chủ
sở hữu bằng cách phát hành cổ phiếu mới.
Một nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng là phát hành cổ phiếu để huy
động vốn cho doanh nghiệp.Phát hành cổ phiêu được gọi là hoạt động tài trợ
dài hạn của doanh nghiệp.
-Cổ phiếu thường là loại cổ phiếu thông dụng nhất vì nó có những ưu thế
trong việc phát hành ra công chúng và trong quá trình lưu hành trên thị
trường chứng khoán quan trong nhất là trao đổi, mua bán trên thị trường
chứng khoán, điều đó cũng đủ để minh chứng tầm quan trọng của nó so với
các công cụ tài chính khác.
-Cổ phiếu ưu tiên:Cổ phiếu ưu tiên thường chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ
trong tổng số cổ phiếu được phát hành. Tuy nhiên trong một số trường hợp,
việc dùng cổ phiếu ưu tiên là thích hợp.Cổ phiếu ưu tiên có đặc điểm là nó
thường có cổ tức cố định. Người chủ của cổ phiếu này có quyền được thanh
toán lãi trước các cổ đông thường.Nếu số lãi chỉ đủ để chi trả cổ tức cho các
cổ đông ưu tiên thì các cổ đông thường sẽ không được nêu rõ trong điều lệ
công ty.9
Phần lớn các công ty cổ phần qui định rõ: Công ty có nghĩa vụ trả hết số
lợi tức chưa thanh toán của các kỳ trước cho các cổ đông ưu tiên, sau đó mới
thanh toán cho các cổ đông thường.
Các cổ phiếu ưu đãi có thể được chính công ty phát hành thu hồi lại khi
công ty thấy cần thiết.Những trường hợp như vậy cần được quy định rõ
những điểm sau: Trường hợp nào thì công ty có thể mua lại cổ phiếu, Giá cả
khi công ty mua lại cổ phiếu, Thời hạn tối thiểu không được phép mua lại cổ
phiếu(ví dụ 5 năm)
Giá cổ phiếu tăng lên là một dấu hiệu có nhiều cơ hội đầu tư mở rộng vào
những dự án có triển vọng trong doanh nghiệp.

Lãi suất vay vốn: Lãi suất vay vốn phản ánh chi phí sử dụng vốn, lãi suất
vốn vay ngân hàng phụ thuộc vào tình hình tín dụng trên thị trường trong
từng thời kỳ. Nếu lãi suất vay quá cao thì doanh nghiệp phải gánh chịu chi
phí sử dụng vốn lớn và làm giảm thu nhập của doanh nghiệp. Có những thời
kỳ ở nước ta, lãi suất vay vốn khá cao và thiếu tính cạnh tranh do đó không
tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.
+Phát hành trái phiếu công ty
Một trong những vấn đề cần xem xét trước khi phát hành là lựa chọn loại
trái phiếu nào phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và tình
hình trên thị trường tài chính.
Việc lựa chọn trái phiếu thích hợp là rất quan trọng vì có liên quan đến chi
phí trả lãi,cách thức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu.
Trước khi quyết định phát hành, cần hiểu rõ đặc điểm và ưu nhược điểm của
mỗi loại trái phiếu.Trên thị trường tài chính nhiều nước, hiện thường lưu
hành những loại trái phiếu doanh nghiệp như sau:11
-Trái phiếu có lãi suất cố định: loại trái phiếu này thường được sử dụng
nhiều nhất trong các loại trái phiếu doanh nghiệp. Lãi suất được ghi ngay trên
mặt trái phiếu và không thay đổi trong suốt kỳ hạn của nó. Như vậy cả doanh
nghiệp(người đi vay) và người giữ phiếu(người cho vay) đều biết rõ mức lãi
suất của khoản nợ trong suốt thời gian tồn tại (kỳ hạn) của trái phiếu. Việc
thanh toán lãi trái phiếu cũng thường được quy định rõ, ví dụ trả 2 lần trong
năm vào ngày 30/6 và 31/12.
-Trái phiếu có lãi suất thay đổi: Tuy gọi là lãi suất thay đổi nhưng thực ra
loại này có lãi suất phụ thuộc vào một số nguồn lãi suất quan trọng khác.
Chẳng hạn, lãi suất LIBOR hoặc lãi suất cơ bản.
-Trái phiếu có thể thu hồi: Một số doanh nghiệp lựa chọn phát hành những
trái phiếu có thể thu hồi, tức là doanh nghiệp có thể mua lại vào một thời gian

hẹp là vốn tiền tệ và vật chất. Vì vậy hiểu theo nghĩa hẹp một cách đơn giản
nhất thì vốn là toàn bộ giá trị của tiền và vật chất được ứng ra ban đầu và quá
trình tiếp theo để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
b. Phân loại.
Nhưng như trên đã nói thì ở đây vốn cũng có rất nhiều loại bao gồm vốn
vật chất và vốn tri thức. Hay như bên trong doanh nghiệp thì vốn cũng có bao
gồm hai loại vốn chính là vốn chủ sở hữu và vốn đi vay. Hoặc cũng có thể
phân thành vốn cố định và vốn lưu động.
 Theo cách phân loại về nguồn hình thành thì bao gồm:
- Vốn chủ sở hữu là lượng vốn mà chủ doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình
hình thành doanh nghiệp và được tích luỹ dần trong quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh mà thuộc quyền sở hữu và sử dụng của doanh nghiệp. Vốn
chủ sở hữu này được dùng để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của13
doanh nghiệp. Bản thân bên trong vốn chủ sở hữu cũng bao gồm nhiều loại
như khấu hao, lợi nhuận để lại, quỹ dự phòng…
Theo đó thì lợi nhuận để lại là phần còn lại của kết quả quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ
đi chi phí và các khoản khác như phần nộp thuế thu nhập doanh nghiệp hay là
phần lợi nhuận dùng để chia cổ tức cho các cổ đông. Phần lợi nhuận để lại này
được doanh nghiệp giữ lại dùng để tiếp tục đầu tư vào quá trính sản xuất kinh
doanh trong chu kỳ tiếp theo của quá trình sản xuất, nhằm làm tăng lượng vốn
chủ sở hữu của doanh nghiệp. Đây cũng là một phần vốn rất quan trọng của
doanh nghiệp.
Khấu hao là phần giá trị của tài sản cố định mà doanh nghiệp đã đầu tư
trong quá trình sản xuất nó là nhà xưởng máy móc, thiết bị, công cụ dụng
cụ… phần khấu hao này chính là lượng vốn mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong

nghiệp sẽ có vốn khi tiến hành liên doanh liên kết với bên ngoài. Với hình
thức liên doanh liên kết này thì vừa có vốn để hoạt động lại vừa có thể tham
gia được vào thị trường mới hay là giảm thiểu rủi ro của doanh nghiệp khi thất
bại sẽ không phải chịu tất cả thua lỗ mà có doanh nghiệp khác cùng chia sẻ.
 Phân loại theo tính chất hoạt động thì có vốn cố định và vốn lưu động:
- Vốn cố định là lượng vốn ứng ra ban đầu để đầu tư vào tài sản cố định
như nhà xưởng, máy móc… nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Vốn cố định có đặc điểm là tham gia vào nhiều chu kỳ sản
xuất, được khấu hao vào từng sản phẩm trong quá trình sản xuất.
- Vốn lưu động là số tiền ứng trước để đầu tư vào tài sản lưu động, tài sản
lưu thông nhằm đảm bảo quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp diễn ra bình
thường.15
1.2.2. Sự cần thiết phải huy động vốn cho các hoạt động trong công ty cổ
phần.
Có thể nói vốn đối với các công ty cổ phần là rất quan trọng nó quyết định
đến sự hoạt động suôn sẻ của công ty .Mặc dù để có thể để công ty hoạt động
một cách suôn sẻ thì cần phải có nhiều yếu tố cùng tham gia vào trong đó vốn
là quan trọng, nó được coi như là máu đối với mỗi công ty cổ phần, vì chỉ khi
có vốn công ty cổ phần mới có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh
được. Có vốn doanh nghiệp mới có thể thực hiện các hợp đồng, ký kết các
hợp đồng liê doanh liên kết, có vốn thì doanh nghiệp mới có thể mua sắm
trang thiết bị, thay thế các trang thiết bị cũ, đổi mới công nghệ sản xuất, trả
lương cho công nhân… Theo đó thì vốn có vai trò quan trọng đối với các hoạt
động sau.
a. Đối với hoạt động đầu tư .
Hoạt động đầu tư là hoạt động rất quan trọng thông qua hoạt động đầu tư
mà doanh nghiệp có thể tăng trưởng và phát triển. Đầu tư ở đây có thể là đầu

nghiệp cũng có thể được tăng lên nhưng ngược lại khi quy mô vốn nhỏ dẫn
đến quy mô dự án nhỏ không đủ bao phủ thị trường nó sẽ hạn chế khả năng
của doanh nghiệp, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp khác tham gia vào thị
trường từ đó sẽ có sự cạnh tranh lớn đối với doanh nghiệp. Quy mô vốn cũng
sẽ quyết định đến độ dài của dự án đầu tư. Vì có nhiều dự án đầu tư không thể
chỉ có đầu tư trong một kỳ sản xuất mà nó còn có thể được đầu tư qua nhiều
kỳ kinh doanh. Vì vậy cần phải có lượng vốn lớn, dự án càng lâu thì lượng
vốn yêu cầu cần có để đầu tư càng lớn.
Nói tóm lại thì quy mô của vốn mà doanh nghiệp có và có thể huy động
có vai trò quyết định đến các dự án đầu tư. Doanh nghiệp nào có quy mô vốn
càng lớn thì dự án đầu tư càng có quy mô phạm vi lớn và ngược lại.17
Tiềm lực vốn mà doanh nghiệp có sẽ quyết định đến khả năng đầu tư của
doanh nghiệp như để có thể tham gia vào một lĩnh vực kinh doanh mới hay là
mở rộng thị trường hoạt động hiện có thì cần có vốn để có thể tiến hành các
hoạt động xúc tiến thị trường. Để có thể tham gia vào lĩnh vực kinh doanh
mới thì doanh nghiệp cần phải tiến hành nhiều công việc như là mua sắm
trang thiết bị, tuyển dụng nhân công hay là tiến hành khảo sát thị trường
nhưng để có thể làm được những việc đó thì doanh nghiệp cần có vốn để mua
sắm máy móc thiết bị hay thuê nhân công… Đấy là trường hợp doanh nghiệp
muốn tự mình tham gia thị trường mới. Hoặc doanh nghiệp có thể tiến hành
liên doanh liên kết với các doanh nghiệp khác để cùng tham gia vào thị trường
mới, nhưng cho dù là doanh nghiệp liên doanh này hiện đang hoạt động ở thị
trường mà doanh nghiệp muốn xâm nhập hay là doanh nghiệp ở thị trường
khác thì khi tiến hành liên doanh liên kết thì doanh nghiệp cũng cần phải có
vốn đối ứng để tham gia vào liên doanh, vì nếu không có vốn đối ứng chúng
ta sẽ không thể tiến hành liên doanh được, quy mô vốn góp của mỗi bên sẽ
quyết định đến vai trò của doanh nghiệp trong liên doanh này, doanh nghiệp

nhanh chứng tỏ rằng sản phẩm được sản xuất ra không bị tồn kho mà được
tiêu thụ trên thị trường nhờ đó mà vốn không bị ứ đọng mà luôn được luân
chuyển nhờ đó sẽ tạo ra được nhiều doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp,
nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng
ngược lại khi mà vòng quay của vốn chậm thì nó sẽ phần nào nói lên thực
trạng hoạt động của doanh nghiệp, nó sẽ nói lên những khó khăn trong quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp khi mà sản phẩm sản xuất ra bị
tồn kho không tiêu thụ được. Nhưng vòng quay của vốn dài hay ngắn cũng
tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như lĩnh vực sản xuất kinh doanh và đặc tính của
sản phẩm. Vì có nhiều lĩnh vực hoạt động mà cần có đầu tư lớn mà vốn thu
hồi có thể kéo dài qua nhiều chu kỳ kinh doanh như ngành xây dựng… thì cần19
phải đầu tư nhiều mà quá trình xây dựng lại diễn ra dài ngày lên vòng quay
vốn của ngành sẽ dài hơn nhưng cũng có những ngành mà trong một chu kỳ
sản xuất thì vốn được chu chuyển nhiều lần đặc biệt trong những ngành công
nghiệp chế biến lương thực thực phẩm nên trong những ngành này vốn có
vòng quay càng ngắn thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty càng cao.
Nhưng nói chung dù trong ngành nào thì nếu có vòng chu chuyển vốn càng
ngắn thì càng có hiệu quả.
Quy mô của vốn cũng sẽ quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Vì
nếu có quy mô vốn lớn, tiềm lực vốn mạnh thì doanh nghiệp càng có nhiều
điều kiện để trang bị máy móc thiết bị hiện đại vào sản xuất nhờ đó mà có thể
nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất hạ giá thành sản phẩm
nhờ đó sẽ tạo được ưu thế cạnh tranh trên thị trường cho doanh nghiệp trước
các doanh nghiệp khác. Nhờ có vốn mà doanh nghiệp cũng có thể tiến hành
các hoạt động xúc tiến thị trường, quảng bá sản phẩm rộng rãi hơn trên thị
trường… Vì khi mà có sản phẩm chất lượng tốt và giá cả hấp dẫn rồi thì vẫn
chưa đủ mà thêm vào đó thì khâu xúc tiến thị trường là rất quan trọng nó

Việc mua sắm tài sản để thay thế các tài sản cũ hỏng không thể dùng được
nữa cũng thường được diễn ra trong mỗi doanh nghiệp điều này cũng làm ảnh
hưởng tới nguồn vốn của doanh nghiệp vì việc mua sắm tài sản để thay thế
này cũng cần có vốn để tiến hành.
Nói tóm lại dù hoạt động nào trong doanh nghiệp thì cũng cần có vốn để
hoạt động, vốn như là dòng máu trong cơ thể để cho công ty có thể hoạt động
được suôn sẻ. Vốn có vai trò quan trọng quyết định đến mọi hoạt động trong
doanh nghiệp từ hoạt động đầu tư mua sắm tài sản mới hay là đầu tư vào một
lĩnh vực kinh doanh mới cũng như các hoạt động thường xuyên là hoạt động
sản xuất kinh doanh. 21
1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn trong công ty
cổ phần.
Việc huy động vốn trong doanh nghiệp cũng có những khó khăn, thuận lợi
nhất định. Tuỳ thuộc vào từng thời điểm mà việc huy động vốn trong doanh
nghiệp có thể được tiến hành thuận lợi hay không. Có rất nhiều nguyên nhân
ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn cho doanh nghiệp. Đó là những nhân tố
sau.
a. Quy mô.
Quy mô của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng huy động
vốn của doanh nghiệp. Thứ nhất nếu quy mô của doanh nghiệp lớn thì khả
năng huy động vốn của doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn so với doanh nghiệp có
quy mô nhỏ. Khi doanh nghiệp có quy mô lớn điều đo đồng nghĩa với việc
doanh nghiệp làm ăn với quy mô lớn doanh thu hàng năm sẽ lớn từ đó dẫn
đến việc lợi nhuận để lại sẽ lớn làm cho lượng vốn tích luỹ qua các năm sẽ
lớn. Trái lại khi mà quy mô doanh nghiệp nhỏ thì ta không thể mong chờ có
được một mức doanh thu và lợi nhuận cao để có được tích luỹ vốn lớn đưa
vào đầu tư được. Từ đó mà khả năng huy động vốn từ nguồn lợi nhuận để lại

với những nhà đầu tư khi mà các công ty lớn định phát hành trái phiếu, rõ
ràng khi phải lựa chọn giữa hai loại trái phiếu thứ nhất là của một công ty vừa
và nhỏ và một bên là của một công ty lớn thì chúng ta thường có xu hướng
chọn trái phiếu của doanh nghiệp có quy mô lớn tất nhiên sự lựa chọn này còn
phụ thuộc vào các yếu tố khác như là uy tín của doanh nghiệp, hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp… Với doanh
nghiệp có quy mô vốn lớn thì nguồn quỹ dự phòng mà công ty có chắc chắn
cũng sẽ lớn điều đó thuận lợi cho doanh nghiệp khi muốn huy động vốn từ
nguồn này khi mà doanh nghiệp thiếu vốn họ có thể tạm thời dùng nguồn vốn
của quỹ dự phòng này để bù đắp vào chỗ thiếu và đến cuối kỳ sẽ hoàn trả vào.23
b. Lĩnh vực hoạt động.
Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực mà có tỷ suất lợi nhuận cao, thị
trường lớn và ổn định thì khả năng huy động vốn cũng sẽ cao hơn. Rõ ràng
khi mà hai doanh nghiệp có cùng quy mô thì yếu tố lĩnh vực hoạt động sẽ
quyết định đến khả năng huy động vốn của doanh nghiệp. Công ty nào đang
hoạt động trong những ngành mà có lợi nhuận cao, những ngành hấp dẫn thì
sẽ thu hút được rất nhiều nhà đầu tư quan tâm từ đó mà dẫn đến khả năng huy
động vốn cũng sẽ cao hơn còn trái lại doanh nghiệp doanh nghiệp nào hoạt
động trong lĩnh vực mà lợi nhuận thấp, chi phí cao thì việc thu hút vốn, thu
hút các nhà đầu tư thường là khó khăn hơn.
Thêm vào đó thì việc hoạt động trong những lĩnh vực kinh doanh mới là
một ưu thế lớn cho các doanh nghiệp khi thu hút đầu tư. Khi một ngành mới
xuất hiện chưa có nhiều nhà đầu tư tham gia vào nên thị trường còn rất lớn do
vậy mà doanh nghiệp sẽ dễ dàng chiếm lĩnh thị trường từ đó mà có được
doanh thu và lợi nhuận lớn, dễ dàng huy động vốn từ nội bộ. Đến khi các công
ty khác bắt đầu quan tâm vào lĩnh vực mới này thì doanh nghiệp đã nắm chắc
được thị trường từ đó tạo được ưu thế trước các doanh nghiệp khác trong cạnh

sản xuất kinh doanh không đạt hiệu quả, vốn bị ứ đọng không lưu thông được
thì doanh nghiệp khó có khả năng huy động vốn lớn vì không thu hút được sự
quan tâm của những nhà đầu tư, không tạo được niềm tin về khả năng thanh
toán tới những nhà cho vay do vậy mà khó khăn hơn khi đi vay.
d. Uy tín.
Uy tín cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới khả năng huy động
vốn. Rõ ràng khi mà doanh nghiệp có được uy tín trên thị trường tạo được
niềm tin đối với khách hàng và đối tác, các nhà đầu tư thì doanh nghiệp sẽ dễ
dàng hơn khi thu hút đầu tư thu hút vốn. Uy tín của doanh nghiệp nhiều khi
còn quan trọng hơn cả hiệu quả sản xuất kinh doanh hay quy mô của doanh25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status