Những đặc điể kinh tế - xã hội VN trước khi hội nhập - Pdf 13

I - Đặt vấn đề
Trong lịch sử loài ngời các cuộc chiến tranh luôn luôn diễn ra trên thế giới giữa
một bên là bọn xâm lợc nhằm giành lấy đất đai mở rộng lãnh thổ để vơ vét của cải,
bóc lột sức lao động của nhân dân bản xứ với một bên là ngời dân lao động đấu
tranh nhằm giành lấy độc lập tự do và công bằng cho xã hội. Ngày nay các cuộc
chiến tranh nổ ra giữa một bên là bọn đế quốc muốn lật đổ và phá hoại thành tựu
đã đạt đợc của chủ nghĩa xã hội nhằm đánh đổ xã hội chủ nghĩa với nhân dân các
nớc xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới. Ban đầu các cuộc
chiến tranh xảy ra sử dụng các loại vũ khí thô sơ-vũ khí lạnh (kiếm, guơm, giáo,
mác...) đánh nhau giáp lá cà đến các cuộc chiến tranh sử dụng súng-vũ khí nóng đ-
ợc đánh dấu bằng việc phát minh ra thuốc súng của ngời Trung Quốc mà đợc các
thơng gia ảrập mang sang châu Âu và đợc phát triển và sử dụng rộng rãi đã chứng
tỏ uy lực và khả năng sát thơng to lớn của nó đã dần thay thế vũ khí lạnh. Cho đến
khi vũ khí nhiệt hạch ra đời đó là việc sử dụng vũ khí nguyên tử, hạt nhân và nhiệt
hạch ra đời bởi thành tựu của ngành vật lí hạt nhân đợc đánh dấu bằng việc Mĩ thả
2 quả bom nguyên tử đầu tiên xuống 2 thành phố sầm uất của Nhật Bản (Hirosima
và Nagaxaki ) ngay tại chỗ giết chết 300 000 ngời và biến tất cả chỉ còn là một
đống gạch vụn và không chỉ có thế hậu quả của nó còn kéo dài đến tận ngày nay.
Điều đó chứng tỏ rằng dới tác động của khoa học kĩ thuật vũ khí và trang bị cho
quân đội không ngừng phát triển và ngày càng mạnh mẽ. Đặc biệt trong tác chiến
phòng không khoa học-kỹ thuật-công nghệ cao có vai trò rất lớn. Là một bộ phận
của lực lợng quân sự lực lợng phòng không chịu nhiều ảnh hởng của khoa học kỹ
thuật công nghệ cao. Khi khoa học kỹ thuật công nghệ cao phát triển thì vai trò của
lực lợng phòng không thay đổi đáng kể. Từ chỗ chỉ xuất hiện trên chiến trờng
dùng để bảo vệ các trận địa khỏi sự tấn công của các lực lợng trên không của địch
đến nay lực lợng phòng không đã trở thành lực lợng mang tính chất quyết định cục
diện cuộc chiến và nằm tập trung tại các mục tiêu chiến lợc từ trung tâm tới tiền
tuyến. Trang bị kỹ thuật của lực lợng phòng không cũng thay đổi đáng kể từ quan
sát bằng mắt thờng tới rađa, các thiết bị quan sát hồng ngoại, lazer ... từ súng bộ
binh cho tới các loại tên lửa hiện đại ....Cơ cấu của lực lợng phòng không cũng có
nhiều thay đổi lớn từ một lực lợng bảo vệ trở thành lực lợng chiến đấu chính đóng

Tóm lại, phơng pháp gây nhiễu rất đa dạng và linh hoạt, nó phải đợc kết hợp
chặt chẽ với nghệ thuật tác chiến và ý đồ chiến thuật thì hiệu quả mới cao.
Các loại nhiễu chế áp :
Nhiễu tạp : Còn gọi là nhiễu tiếng ồn, có biên độ, tần số và pha của sóng biến
đổi hỗn loạn ngẫu nhiên. Đối với đài rađa nó biểu hiện dới dạng sóng hoá một
phần hay toàn bộ hiện sóng. Đối với máy thu thông tin nó biểu hiện dới dạng tiếng
ồn ào ri rít hỗn loạn ...
Nhiễu tạp rất có hiệu quả đối với rađa vì cấu trúc của nó gần giống tạp thăng
giáng nội bộ của máy thu nên thờng rất khó phát hiện và khó áp dụng các biện
pháp làm giảm ảnh hởng của nó.
Nhiễu tạp đối với rađa cũng có tác dụng chế áp nguỵ trang tín hiệu hữu ích.
Chế áp tín hiệu chủ yếu là do làm quá tải máy thu. Nguỵ trang là làm tín hiệu hữu
ích không thể phân biệt trên nền nhiễu. Trong thực tế đối với các đài rađa nhiễu tạp
là loại nhiễu rất khó khử.
Theo độ rộng phổ nhiễu, nhiễu tạp chia thành : nhiễu chặn , nhiễu ngắm và
nhiễu hỗn hợp (quét).
Nhiễu chặn - nhiễu dải rộng : đó là việc gây nhiễu ồ ạt và đồng thời trên toàn
băng sóng thậm chí trên nhiều băng tần số, có tác động đến toàn bộ dải tần của hệ
mục tiêu (so với mục tiêu thì phổ nhiễu có thể rộng gấp hàng chục thậm chí hàng
trăm lần).
u điểm của loại nhiễu này là năng lợng nhiễu rộng trên toàn băng tần có thể
gây nhiễu cho nhiều đài có tần số công tác lân cận nhau. Nhng cũng do đó mà
năng lợng đa vào mỗi kênh thu giảm xuống. Đây cũng chính là nhợc điểm của nó
và đòi hỏi công suất lớn hơn máy gây nhiễu. Điều đặc biệt của loại nhiễu này là
với công suất phát nhiễu không đổi, mật độ công suất nhiễu giảm khi mở rộng phổ
phát xạ .
Nhiễu ngắm - nhiễu dải hẹp : tạo ra trên một dải tần tơng đối hẹp , không vợt
quá hai đến ba lần dải tần của máy thu bị nhiễu tức là loại phát xạ mà tổng số năng
lợng có thể tập trung vào dải tần của máy thu.
Vì mật độ năng lợng cao, nhiễu có thể vào máy thu từ các hớng phụ của giản

Mức độ tác động cuả nhiễu không điều chế đối với máy thu phụ thuộc vào biên độ
của nhiễu và độ chính xác điều chỉnh tần số máy phát nhiễu, vào tần số đài bị chế
áp. Khi tần số nhiễu trùng với tần số đài chế áp và biên độ đủ lớn làm cho máy thu
dễ bị quá tải. Nhiễu không điều chế tác động lên đài rađa sẽ làm xuất hiện những
dải tối theo hớng nguồn nhiễu phát xạ. Độ rộng dải phụ thuộc vào công suất máy
phát nhiễu, độ rộng giản đồ định hớng ăngten rađa và mức cách sóng phụ của rađa
ấy. Khi tần số của nhiễu không điều chế không trùng với tần số rađa, cờng độ
nhiễu không lớn nhiễu chỉ có tác dụng làm biến dạng tín hiệu mà thôi. Nhiễu liên
tục không điều chế đợc sử dụng rộng rãi vì nó không đòi hỏi điều chỉnh chính xác
tần số máy phát nhiễu vào tần số sóng mang đài bị chế áp. Mặt khác nhờ có bộ lọc
có thể dễ dàng loại trừ tác dụng của loại nhiễu này.
Nhiễu điều chế : là điều chế dao động cao tần bằng các tín hiệu nhiễu. Sự biến
điệu của nhiễu đợc xác định bởi độ rộng của dải tần, cờng độ và thời gian giao thoa
trong máy thu mục tiêu. Sự biến điệu này có thể tạo ra các dáng điệu chuyển động
riêng và sự chuyển động của ảnh, trên màn rađa làm cho nhoè ảnh mục tiêu và mất
khả năng tập trung của trắc thủ hoặc gây nhiễu âm điệu, hỗn loạn không thể thu đ-
ợc tin thực. Nhiễu điều chế có thể là liên tục, xung.
Nhiễu địa vật : nhiễu địa vật nổi trên hiện sóng nh mục tiêu thật có biên độ lớn
nhng không di chuyển. ở vùng nhiễu đồi núi sóng về thành từng đám dày đặc. Nhất
là ở khu vực gần tâm càng ra xa nhiễu càng ít hoặc không có. Sóng về địa vật có
thể che lấp mục tiêu. Khu vực ít sóng cũng có thể làm trắc thủ nhầm lẫn khi theo
dõi bám sát mục tiêu .
Nhiễu xung : là nhiễu do địch phát ra dới dạng xung mà đã thu đợc. Nhiễu tạo
ra trên màn hiện sóng một hoặc rất nhiều tín hiệu giống nh mục tiêu thật. Nhiễu
xung không che lấp đợc mục tiêu nhng gây ra sự lẫn lộn thật giả làm tăng số lợng
khi ta xác định số lợng loại kiểu.
Diệt nguồn bức xạ :
Tiêu diệt, hoặc làm hỏng, không thể khôi phục lại đợc, các thiết bị vô tuyến
điện tử của đối phơng là thủ đoạn chống vô tuyến điện tử triệt để nhất. Để thực
hiện thủ đoạn này ngoài những vũ khí triệt phá thông thờng còn có những vũ khí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status