biện pháp để giải quyết vấn đề thất nghiệp của sinh viên và một số ý kiến đóng góp - Pdf 13

Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
Lời nói đầu
Sinh viên ra trường hiện nay thất nghiệp đang là vấn đề đáng báo
động trong xã hội hiện nay. Câu hỏi đặt ra ở đâuy là nguyên nhân của
tình hình thất nghiệp của sinh viên hiện nay là do đâ? Hậu quả để lại là
gì? Vấn đề đó đã gây thiệt hại gì cho nền kinh tế nước nhà? Và chúng
ta phải làm gì để khâc phục tình trạng trên? Vấn đề này được nhìn từ
nhiều góc độ khác nhau và mỗi người một quan điểm khác nhau. Tuy
nhiên giải pháp nhằm đặt ra gấp để giải quyết vấn đề lao động trong xã
hội cũng như đảm bảo công ăn việc làm cho hàng nghìn sinh viên mỗi
năm ra trường. Vấn đề này cần sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta,
và nó không nằm ngoài sự quan tâm của em vì vậy em chọn đề tài “Vấn
đề thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường” để nghiên cứu.Đề tài
của em gồm 3 chương:
Chương 1:Giới thiệu chung
Chương 2: Cơ sở lý luận về vấn đề thất nghiệp
Chương 3: Thực trạng về vấn đề thất nghiệp của sinh viên sau khi
ra trường
Chương 4: Biện pháp để giải quyết vấn đề thất nghiệp của sinh viên
và Một số ý kiến đóng góp
Chương 5: Kết luận
Do kiến thức của em còn hạn hẹp và vẫn còn tồn tại một số thiếu
xót em mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để đề
tài của em được hoàn thiện hơn.Em xin chân thành cảm ơn.
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3
1
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
Chương 1
Giới thiệu chung
1.1.Lý do chọn đề tài
Vấn đề thất nghiệp của sinh vien sau khi ra truờng là vấn đề đáng báo

lợi lao động được quy định trong hiến pháp
Nữ 18->55
Nam 18->60
Người ngoài tuổi lao động = dan số- tuổi lao động
-Người trong tuổi lao động có hai loại
Lực lượng lao động:
+Người có việc làm : làm trong hoạt động kinh tế xã hội
+Người thất nghiệp:người ko có việc làm nhưng mong muốn tìm được việc
làm
1.2.Phân loại thất nghiệp
Theo các nhà khoa hoc thì thất nghiệp được chia thành các loại sau:
Trong các sách báo kinh tế chúng ta thường gặp rất nhiều những tên gọi
khác nhau về các lọai hình thất nghiệp. Thực tế đó bắt nguồn từ những
quan niệm không thống nhất về thất nghiệp hoặc dựa trên những tiêu
chuẩn phân loại khác nhau. Chúng ta hay gặp các thuật ngữ : Thất nghiệp
tạm thời, Thất nghiệp tự nhiên, Thất nghiệp tự nguyện, Thất nghiệp không
tự nguyện, Thất nghiệp cơ cấu, Thất nghiệp công nghệ, Thất nghiệp mùa
vụ, Thất nghiệp hữu hình, Thất nghiệp trá hình, Thất nghiệp ngắn hạn,
Thất nghiệp trung hạn, Thất nghiệp dài hạn, Thất nghiệp từng phần (bán
thất nghiệp), Thất nghiệp toàn phần, Thất nghiệp chu kỳ, Thất nghiệp nhu
cầu, Thất nghiệp kinh niên, Thiếu việc làm hữu hình, Thiếu việc làm vô
hình, Thừa lao động, Lao động dôi dư
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3
3
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
Tuy nhiên nội hàm của những thuật ngữ đã nêu không được phân biệt một
cách rõ ràng. Chẳng hạn, thất nghiệp tự nhiên chủ yếu là do thiếu thông tin
thị trường lao động và do sự di chuyển của người lao động trên thị trường,
như vậy lọai hình này gồm một phần là thất nghiệp tạm thời và một phần là
thất nghiệp cơ cấu. Đến lượt mình, một bộ phận của thất nghiệp cơ cấu lại là

có thể là do thay đổi cơ cấu việc làm yêu cầu hoặc do biến đổi từ phía cung
của lực lượng lao động.
Ở nước ta thất nghiệp cơ cấu biểu hiện rõ nhất trong những năm khi mà
GDP tăng trưởng cao nhưng thất nghiệp giảm không đáng kể, thậm trí còn
trầm trọng hơn với một số đối tượng như thanh niên, phụ nữ, người nghèo
và với những thành phố lớn.
Thất nghiệp nhu cầu là trình trạng không có việc làm ngắn hạn hoặc dài
hạn do giảm tổng cầu về lao động và làm nền kinh tế đình đốn hoặc suy
thoái, dẫn đến giảm hoặc không tăng số việc làm.
Ở nước ta thất nghiệp cơ cấu biểu hiện rõ nhất trong những năm khi mà
GDP tăng trưởng cao nhưng thất nghiệp giảm không đáng kể, thậm trí còn
trầm trọng hơn với một số đối tượng như thanh niên, phụ nữ, người nghèo
và với những thành phố lớn.
Thất nghiệp nhu cầu là trình trạng không có việc làm ngắn hạn hoặc dài hạn
do giảm tổng cầu về lao động và làm nền kinh tế đình đốn hoặc suy thoái,
dẫn đến giảm hoặc không tăng số việc làm.
Thất nghiệp nhu cầu xuất hiện trong những năm đầu của cuộc cải cách kinh
tế ở nước ta (1986 - 1991) và gần đây có xu hướng tăng lên do đình đốn, ứ
đọng sản phẩm ở một số ngành, lĩnh vực bị ảnh hưởng của khủng hỏang
kinh tế thế giới, đồng thời với đó là quá trình cải cách doanh nghiệp nhà
nước và dôi dư lao động
2.Nguyên nhân gắn với loại hình thất nghiệp
Hiệu quả can thiệp của Chính phủ vào lĩnh vực lao động - việc làm để
đảm bảo an sinh xã hội hoặc tạo điều kiện tăng độ linh hoạt mềm dẻo của
thị trường lao động-nhằm mục tiêu việc làm đầy đủ, việc làm bề vững và
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3
5
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
có hiệu quả - phụ thuộc trước hết vào việc đánh giá đúng những nguyên
nhân gây ra từng loại hình thất nghiệp và lựa chọn những công cụ, giải

+++ ++
* Lạm phát ++
* Mất đất nông nghiệp do làm
KCN, KCX
++ ++
* Tăng quy mô lực lượng lao động +++
* Trình độ đào tạo không phù hợp
với yêu cầu làm việc
+++
* Cơ cấu nghiệp vụ (nghề) theo +++
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3
6
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
vùng về số lượng và chất lượng
không phù hợp
* Áp dụng công nghệ mới +++
* Thay đổi trong hệ thống giá trị + +++
* Thay đổi cơ cấu dân số +++
* Chính sách tiền lương tối thiểu
của Chính phủ
+++ +++
* Đình đốn nhu cầu và suy thoái
kinh tế
++ +++
* Cơ chế sử dụng lao động trong
khu vực nhà nước
++ +++
* Chi phí lao động quá cao +++ +++
* Năng suất lao động thấp +++
* Do tính chất mùa vụ của sản xuất +++

đề cơ cấu và tính không hiệu quả trong thị trường lao động; thất nghiệp cơ
cấu liên quan tới sự không phù hợp giữa cung và cầu đối với lao động có
những kỹ năng cần thiết, đôi khi bị ảnh hưởng bởi công nghệ hỏng hoặc quá
trình toàn cầu hóa. Kinh tế cổ điển hoặc tân cổ điển có xu hướng bác bỏ
những giải thích này, và tập trung nhiều hơn vào những quy định cứng nhắc
áp đặt cho thị trường lao động, chẳng hạn như tổ chức công đoàn, luật về
lương tối thiểu, thuế, và các quy định khác làm giảm việc thuê lao động (thất
nghiệp theo lý thuyết cổ điển). Tuy nhiên những người khác cho rằng thất
nghiệp phần lớn là do sự lựa chọn tự nguyện của những người không có việc
làm và thời gian cần để tìm kiếm một công việc mới (thất nghiệp do chuyển
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3
8
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
nghề). Kinh tế học hành vi nêu bật các hiện tượng như tiền lương cứng nhắc
và tiền lương hiệu quả mà có thể dẫn đến thất nghiệp.
Cũng có bất đồng về quan điểm làm thế nào để đo lường chính xác tỷ lệ thất
nghiệp. Các nước khác nhau có tỷ lệ thất nghiệp khác nhau; Theo truyền
thống, tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ thấp hơn so với các nước thuộc liên minh
châu Âu, mặc dù cũng có sự khác nhau về tỷ lệ thất nghiệp giữa các nước
này, các nước như Anh và Đan Mạch hoạt động tốt hơn Ý và Pháp và tỷ lệ
thất nghiệp cũng thay đổi theo thời gian (ví dụ cuộc Đại suy thoái) trong
suốt chu kỳ kinh tế.
2.1.2.Công thức tính tỷ lệ thất nghiệp
Mặc dù nhiều người quan tâm đến số lượng người thất nghiệp, nhưng các
nhà kinh tế học chỉ tập trung vào tỷ lệ thất nghiệp. Cách tính này chính xác
khi có sự gia tăng thông thường số lượng người thất nghiệp do tăng dân số
và tăng lực lượng lao động liên quan tới sản xuất. Tỷ lệ thất nghiệp được thể
hiện dưới dạng tỷ lệ %, và được tính như sau:
Tỷ lệ thất nghiệp = Số lượng công nhân bị thất nghiệp/Tổng lực lượng lao
động

đến số lượng người thất nghiệp hàng tháng, những người đến các Phòng lao
động để tìm việc làm. Phương pháp này cũng kể đến cả những người thất
nghiệp mà theo định nghĩa của ILO họ không bị thất nghiệp
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3
10
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
Tỷ lệ thất nghiệp = 100%
Số người không có việc làm
Tổng số lao động xã hội
 Tử số: Không tính những người không cố gắng tìm việc.
 Mẫu số: Tổng số lao động xã hội = Số người có việc làm + số người
không có việc làm nhưng tích cực tìm việc
3.Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
Là tỷ lệ thất nghiệp mà nền kinh tế đạt được ứng với mức sản lượng tiềm
năng
3.1.Các yếu tố xác định tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
Tỷ lệ tìm việc và tỷ lệ rời công việc. Tỷ lệ tìm việc là tỷ lệ những người thất
nghiệp tìm được một việc làm mỗi tháng so với lực lượng lao động. Tỷ lệ
tìm việc càng cao, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên càng thấp.
Tỷ lệ rời công việc là tỷ lệ những người mất việc mỗi tháng so với lực lượng
lao động. Tỷ lệ rời công việc càng cao, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên càng cao.
Lưu ý đây là tỷ lệ những người rời công việc thuộc hai dạng thất nghiệp tạm
thời và thất nghiệp cơ cấu,trong thực tế còn một tỷ lệ rời bỏ công việc thuộc
diện thất nghiệp do thiếu cầu(thất nghiệp keyness).
4.Yếu tố tác động đến tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
-Tiền lương cứng nhắc: Khi nghành đóng tàu gặp khủng hoảng,chủ doanh
nghiệp sẽ đứng trước hai lựa chọn một là giảm tiền lương(vì lúc này nhiều
công nhân nghành đóng tàu bị sa thải cung lớn hơn cầu doanh nghiệp có thể
giảm tiền lương xuống mức cân bằng) hai là giảm số công nhân làm việc. Vì
các hượp đồng lao động đã quy định mức tiền lương và đã được ký kết nên

Hiện nay hầu hết sinh viên khi ra trường, nhất là các sinh viên học tại
các thành phố lớn, đều bắt đầu đôn đáo kiếm một công việc tạm thời
nào đó để làm lấy tiền trụ lại thành phố xin việc ổn định sau, mà
không phải xin tiền bố mẹ. Các công việc mà họ làm đa phần là không
cần đến bằng cấp như: Bưng bê tại các quán café, quán ăn hay làm
nhân viên trực nghe điện thoại, đi gia sư…Chỉ là những công việc đơn
giản như thế, lương không đủ ăn nhưng để xin được một chỗ làm ổn
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3
13
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
định cũng không phải dễ dàng gì.
Rất nhiều trung tâm tuyển dụng việc làm lợi dụng các sinh viên mới ra
trường để lừa bịp bằng các chiêu nộp hồ sơ cộng với tiền phí xin việc
để rồi công việc thì chẳng thấy đâu, nhiều sinh viên mới ra trường do
thiếu hiểu biết nên vừa bị lừa mất tiền, lại mất cả công sức lẫn thời
gian làm việc không công cho một công ty nào đó.
Tình trạng ấy không chỉ xảy ra với các sinh viên có bằng loại khá,
trung bình khá mà thậm chí cả những sinh viên ra trường với tấm
bằng loại giỏi vẫn loay hoay không biết phải đi đâu, về đâu trong tình
trạng ở các công ty, các cơ quan lúc nào cũng chồng đống những xấp
hồ sơ xin việc. Nên có không ít bạn sinh viên sau khi học xong Cao
đẳng hay Đại học do không xin được việc đã chọn giải pháp là học
tiếp, học liên thông hay học văn bằng hai để lại được bố mẹ nuôi như
tâm sự của một số bạn sinh viên: “Mình chán cảnh phải ngồi chầu
chực xin việc ở các trung tâm mà cuối cùng lại về không nên mình đã
bảo bố mẹ rồi, mình sẽ học lên Cao học. Hy vọng với tấm bằng thạc
sĩ thì ra trường sẽ suôn sẻ hơn”.
Cũng có nhiều sinh viên ra trường nhưng còn dành thời gian và tiền
bạc đi học thêm các chuyên ngành khác như tiếng Anh, lập trình,
nghiệp vụ thư ký, nghiệp vụ sư phạm, nghiệp vụ báo chí… để có thể

ra trường, trên 20% cử nhân vẫn thất nghiệp hoặc chưa có việc làm ổn
định. Con số này tuy có chiều hướng giảm nhưng không ổn định và vẫn ở
mức cao, gấp đôi tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước, hiện tỷ lệ thất
nghiệp ở thành thị khoảng 7,2%, nông thôn là 10%, tổng số người chưa
có công ăn việc làm khoảng 3, 2 triệu người. Tất nhiên, con số 20% sẽ
giảm đáng kể nếu chúng ta kéo dài khung thời gian ra 5 năm hoặc dài
hơn nữa, tuy nhiên nó cũng phản ánh khá rõ những khó khăn trong tìm
kiếm việc làm của giới trẻ”.
Nguyễn Quỳnh Chi, quê Hà Nam, tốt nghiệp loại khá Trường ĐH Kinh tế
Quốc dân, cho biết: “Em ra trường đã hơn 3 năm, nhưng vẫn chưa có một
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3
15
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
việc làm ổn định. Những nơi có công việc hấp dẫn thì đòi hỏi quá cao về
kinh nghiệm, thâm niên công tác, bằng cấp Nơi vừa sức thì lại bấp
bênh, không phù hợp với chuyên môn, trình độ, hoặc đãi ngộ không xứng
đáng. Kiểu “thấp không ưa, cao chưa tới” là tình trạng khá phổ biến trong
giới sinh viên mới tốt nghiệp. Trường hợp của Trần Trung Anh là một ví
dụ. Mặc dù cuộc sống vật chất không đến nỗi vất vả do anh cộng tác viết
bài cho nhiều tờ báo, nhưng vẫn bị coi là kẻ thất nghiệp điển hình. Kể từ
khi tốt nghiệp Học viện Báo chí và Tuyên truyền tới nay đã hơn 3 năm,
anh vẫn chưa được một toà soạn nào ký hợp đồng lâu dài. Thất nghiệp
với Trung Anh chỉ đơn giản vì anh thích được làm phóng viên ở những tờ
báo lớn trong khi ở đó không còn cơ hội, còn những tờ báo nhỏ hơn,
đánh giá cao khả năng của anh thì Trung Anh lại không muốn làm việc
lâu dài
TS. Lưu Hồng Minh nhận xét: “Tình trạng này ngoài nguyên nhân xuất phát
từ yếu tố cá nhân của các bạn trẻ, những bất cập trong chương trình đào tạo
so với yêu cầu thực tế của công việc, còn phải kể đến các em quá thiếu kỹ
năng tìm việc, kỹ năng hoạch định mục tiêu cho mình một cách rõ ràng,

mình yêu thích”. Những trường hợp thất nghiệp như chị Hương và anh
Tuyến có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng đều có điểm giống nhau, họ
tự nguyện nghỉ việc để chờ cơ hội tốt hơn. Thực sự, đó cũng là một cách thể
hiện khát vọng bản thân của mỗi cá nhân. Đương nhiên, những người đó
phải có cơ sở thật vững chắc về kinh tế và tự tin vào bản thân mình thì mới
“dám thất nghiệp” kiểu như vậy.
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3
17
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
ThS.Vũ Thùy Anh (Đại học Kinh tế Quốc dân) cho biết, thất nghiệp tự
nguyện, hay thất nghiệp công nghiệp là khái niệm còn tương đối mới ở Việt
Nam, nhưng là điều thông thường đối với các nước phát triển. Về một mặt
nào đó, có thể coi đây là tín hiệu vui cho thị trường lao động thời gian qua.
ThS.Thùy Anh nhấn mạnh: “Con số chính xác về tỷ lệ thất nghiệp tự nguyện
là tham số quan trọng trong việc hoạch định các chính sách vĩ mô về lao
động và việc làm”. Hy vọng, đợt điều tra về tình hình thất nghiệp trong hai
tuần đầu tháng 7 sẽ cho chúng ta một bức tranh toàn cảnh và xác thực về
tình trạng công ăn việc làm trong giới trí thức nói riêng, trong dân cư nói
chung.
2. Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp của sinh viên khi ra
trường:
một số những nguyên nhân chính:
Bị động khi tìm việc
Đây là một những trong lỗi thường mắc phải của sinh viên mới ra trường.
Thường thì họ sẽ dựa vào hoặc ỷ lại vào bố mẹ, tận dụng các mối quan hệ
của bố mẹ hoặc chờ đợi một công ty, cơ quan nào đó đến tìm mình.
Dựa dẫm vào mạng internet thái quá
Không biết thiết lập mạng lưới quan hệ
Lý tưởng hóa công việc
Xem thường buổi phỏng vấn

báo chí rằng phần nhiều các sinh viên khi đi phỏng vấn xin việc đều chưa
biết cách ứng xử, thiếu tự tin. Nhiều bạn trẻ chưa có kinh nghiệm nhưng khi
ứng tuyển lại hay đòi ở những vị trí cao so với khả năng hoặc đưa ra một
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3
19
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
mức lương mà công ty khó có thể chấp nhận được. Điều này khiến ứng viên
mất khá nhiều điểm.
Nguyên nhân thứ hai là bộ hồ sơ không ấn tượng, không tạo cho nhà tuyển
dụng cảm giác muốn thử sức các bạn trẻ, xem khả năng làm thế nào? Có thật
sự có khả năng như trong bảng giới thiệu hay không? Về phần mình, nhiều
ứng viên tự nhận thấy sai lầm của họ là chưa quan tâm đúng mức đến bộ hồ
sơ. Sinh viên có thể tạo ấn tượng qua đơn xin việc, lý lịch hay ngay trong
buổi phỏng vấn bằng sự thông minh, năng động của mình.
Nguyên nhân cuối cùng là sinh viên không biết cách nói về mình. Một lợi
thế của sinh viên là họ ham học hỏi, có tinh thần cầu tiến và lĩnh hội nhanh
công việc được giao. Sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm cũng là
những yếu tố mà doanh nghiệp hiện nay đang rất cần trong quá trình cạnh
tranh và hội nhập. Ngoài ra, yếu tố sức khỏe, chấp nhận đi xa cũng như dễ
hòa nhập đã trở thành điểm mạnh nổi trội ở những người trẻ tuổi. Vì vậy,
sinh viên nên tận dụng và phát huy tối đa những thế mạnh của mình để nâng
cao vị thế cạnh tranh trong tìm việc.
Đào tạo nhiều hơn nhu cầu.
Hiện nay có rất nhiều nghành nghề trong các trường Cao đẳng – Đại học
được tuyển sinh và đào tạo ồ ạt, chỉ tiêu đào tạo vượt quá chỉ tiêu tuyển
dụng. Mà tiêu biểu cho thực trạng ấy là nghành sư phạm. Hơn 10 năm trước,
khi Nhà nước bắt đầu áp dụng chế độ miễn giảm học phí với sinh viên ngành
sư phạm thì người người thi nhau học ngành này. Nhiều tỉnh cũng mở ra
trường Đại học sư phạm thu hút rất nhiều các thí sinh trong tỉnh. Phải chăng
đây là nguyên nhân dẫn đến ngành giáo dục “bội thực” nhân lực “ảo”, dẫn

Biện pháp để giải quyết vấn đề thất nghiệp
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3
22
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
của sinh viên và Một số ý kiến đóng góp
1.Biện pháp để giẩi quyết vấn đề thất nghiệp của sinh viên sau khi ra
trường
-Hoàn thiện thể chế thị trường lao động theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước và quốc tế
cho đầu tư phát triển
-Tăng cường sự hỗ trợ của Nhà nước trong giải quyết việc làm và phát
triển thị trường lao động
-Nâng cao chất lượng nguồn lao động cả về trình độ học vấn và trình độ
chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng tay nghề; thực hiện liên thông giữa các cấp
trình độ; giáo dục - đào tạo theo định hướng gắn với cầu lao động
-Đa dạng hóa các "kênh" giao dịch trên thị trường lao động; tổ chức
thường xuyên, định kỳ các sàn giao dịch việc làm để có thể kết nối hoạt
động giao dịch trên phạm vi toàn quốc
-Nâng cao hiểu biết về pháp luật, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp và
nâng cao thể lực đảm bảo cung cấp đội ngũ lao động có chất lượng cả về
thể lực và trí lực, đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất công nghiệp
2.Một số ý kiến đóng góp
-Hãy chủ động tìm việc. Trong thời đại công nghệ số và phát triển như
hiện nay thì các công ty, cơ quan và doanh nghiệp luôn đề cao tính năng
động, cạnh tranh lành mạnh của các ứng viên.
-Không nên phụ thuộc vào internet một cách thái quá
-Hãy tận dụng tối đa những mối quan hệ , đồng thời xây dựng, tạo thêm
những mối quan hệ mới, bạn sẽ có nhiều cơ hội việc làm hơn.
- Hãy cho nhà tuyển dụng biết những khả năng nổi trội của bạn so với
những ứng viên khác, bạn có thể mang lại lợi ích gì cho họ nếu như bạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status