ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ PHẠM THỊ MAI PHƯƠNG HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU CẢNH BÁO TÍN
DỤNG CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨTÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
1.2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU CẢNH BÁO TÍN DỤNG
14
1.2.1 Hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng đối với hoạt động của các
ngân hàng thương mại 14
1.2.1.1 Khái niệm hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng 15
1.2.1.2 Vai trò của hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng 18
1.2.2 Nội dung hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng 21
1.2.2.1 Các chỉ tiêu tài chính 21
1.2.2.2 Các chỉ tiêu phi tài chính 31
1.2.3 Kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu cảnh báo
tín dụng 33
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HỆ THỐNG CHỈ TIÊU
CẢNH BÁO TÍN DỤNG 36
1.3.1 Các nhân tố tác động tích cực 36
1.3.1.1 Nền tảng cơ sở dữ liệu hiện có 36
1.3.1.2 Công nghệ tin học, truyền thông 36
1.3.1.3 Phát triển các sản phẩm cánh báo tín dụng có chất lượng tốt 37
1.3.2 Các nhân tố tác động tiêu cực 37
1.3.2.1 Hoạt động thông tin tín dụng ngân hàng 37
1.3.2.2 Hệ thống văn bản pháp luật 38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU CẢNH
BÁO TÍN DỤNG CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG 39
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG –
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 39
2.1.1 Sơ lược quá trình phát triển CIC 39
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Trung tâm thông tin tín dụng 42
2.1.3. Các hoạt động chủ yếu của Trung tâm thông tin tín dụng Ngân
hàng Nhà Nước Việt Nam 45
2.1.3.1 Sản phẩm thông tin tín dụng trong nước 53
2.1.3.2 Báo cáo xếp hạng tín dụng 54
3.3.5 Đối với doanh nghiệp 96
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Như đã từng nhấn mạnh nhiều lần trước kia, WorldBank (WB) khuyến nghị
Chính phủ nên tăng cường chất lượng của công tác giám sát ngân hàng, quản lý và
theo dõi các luồng chu chuyển vốn quốc tế, cùng với việc tiếp tục cải cách khu vực
công, thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước lớn và ngân hàng
thương mại quốc doanh.
Trong các hoạt động kinh doanh của hệ thống Ngân hàng Việt Nam, tín dụng là
hoạt động chủ yếu và giữ vai trò quan trọng nhất. Hiện đang mang lại lợi nhuận chủ
yếu cho các Ngân hàng thương mại, nhưng tín dụng lại là hoạt động chứa đựng nhiều
rủi ro nhất.
Các ngân hàng thường sử dụng những giải pháp khác nhau nhằm giảm thiểu
những rủi ro này như: nâng cao chất lượng thẩm định, tập trung vào các khách hàng
mục tiêu, thực hiện các quy định về an toàn tín dụng… Trong đó việc căn cứ vào các
thông tin tín dụng do Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
(CIC) cung cấp là một biện pháp được rất nhiều Ngân hàng thương mại áp dụng. Với
các thông tin liên quan về tín dụng đặc biệt hơn ở nghiệp vụ cảnh báo tín dụng đã
giúp các Ngân hàng, các tổ chức tài chính, các nhà đầu tư và các nhà hoạch định
chính sách đánh giá được năng lực tài chính của các khách hàng vay vốn, đồng thời
đưa ra những quyết định hợp lí trong công tác kiểm soát những rủi ro tín dụng có thể
xảy ra. Trên thực tế những năm vừa qua đã diễn ra hàng loạt vụ vỡ tín dụng đen ngoài
của CIC.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng.
Phạm vi nghiên cứu là hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng của CIC trong giai
đoạn 2010- 2012.
5. Phương pháp nghiên cứu
4
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học kinh tế: Phương
pháp hệ thống, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh và điều tra xem xét. Lấy các
vấn đề lý luận và nhận định rút ra từ tổng kết thực tiễn về thị trường tín dụng để làm
sâu sắc các luận điểm của đề tài và xây dựng hệ thống các giải pháp, đề xuất, kiến
nghị.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở những thực trạng thực tế đang tiến hành tại Việt Nam, luận văn đề
xuất một số giải pháp cụ thể khắc phục những mặt còn tồn tại, nhằm củng cố, hoàn
thiện hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng tại CIC.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng
Chương 2: Thực trạng hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng của Trung tâm
Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng tại Trung tâm
Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam
ngân hàng là thủ quỹ của cả nền kinh tế. Ngân hàng muốn được cấp giấy phép
hoạt động phải có một lượng vốn nhất định, cam kết thực hiện một số chính sách
nhất định như cho vay, tài trợ cho một dự án hay một khoản chi tiêu nào đó, đồng
thời trong quá trình hoạt động, ngân hàng chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước.
Muốn hoạt động tốt, ngân hàng không ngừng gia tăng nguồn vốn của mình, tuyển
nhân sự có đủ số lượng và chất lượng, có mạng lưới chi nhánh rộng khắp để đáp
ứng nhanh các nhu cầu của khách hàng và thực hiện nhiều hoạt động khác, nhằm
thu được lợi nhuận lớn, hạn chế rủi ro cho cả người gửi tiền và ngân hàng.
1.1.2.Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
Hoạt động huy động vốn là hoạt động thường xuyên của Ngân hàng thương mại.
Một Ngân hàng thương mại bất kì nào cũng bắt đầu hoạt động của mình bằng việc
huy động nguồn vốn. Đối tượng huy động của Ngân hàng thương mại là nguồn tiền
nhàn rỗi trong các tổ chức kinh tế, dân cư. Nguồn vốn quan trọng nhất,và chiếm tỷ
6
trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng thương mại là tiền gửi của khách
hàng.
1.1.1.2. Hoạt động cho vay và đầu tư
Hoạt động quan trọng của ngân hàng thương mại là tìm cách sử dụng nguồn
vốn của mình để thu lợi nhuận.Việc sử dụng vốn là quá trình biến tài sản nợ thành tài
sản có khác nhau, trong đó cho vay và đầu tư là tài sản quan trọng nhất.Do vậy quản
lý tài sản là nhiệm vụ quan trọng của ngân hàng thương mại để tránh rủi ro, đảm bảo
an toàn vốn.
1.1.1.3. Cung cấp các dịch vụ tài chính khác
Ngoài trung gian tài chính, ngân hàng thương mại còn là trung gian thanh
toán.Ngân hàng thay mặt khách hàng chi trả giá trị hàng hoá và dịch vụ trong và
ngoài nước.Để thanh toán được nhanh chóng, thuận tiện, an toàn và tiết kiệm, ngân
hàng dùng nhiều hình thức thanh toán không dùng tiền mặt như:séc chuyển tiền, uỷ
nhiệm chi, bù trừ qua ngân hàng thương mại hoặc qua trung tâm thanh toán, nhờ thu
vay gián tiếp
* Phân loại tín dụng dựa vào hình thức thái cấp tín dụng: Tín dụng bằng tiền
hoặc tín dụng bằng tài sản hoặc tín dụng chữ ký.
1.2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU CẢNH BÁO TÍN DỤNG.
1.2.1 Hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng đối với hoạt động của các ngân hàng
thương mại
Việt Nam đang thực hiện cam kết mở cửa thị trường trong lĩnh vực tài chính -
ngân hàng, thực tế hội nhập trong khu vực và trên thế giới mang lại cơ hội cho các
ngân hàng Việt Nam đồng thời cũng phát sinh nhiều thách thức và rủi ro ở mức cao
hơn. Các yếu tố rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng ngày càng trở nên phức
tạp và cần có giải pháp phòng ngừa kịp thời. Việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu cảnh
báo tín dụng là rất cần thiết đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu,
rộng nhằm mục đích phòng ngừa đổ vỡ tín dụng trong cả hệ thống Ngân hàng.
1.2.1.1. Khái niệm hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng
Hệ thống chỉ tiêu cảnh báo là tập hợp các chỉ tiêu trong đó phản ánh những mức
độ rủi ro đáng lưu ý của hoạt động tín dụng cũng như các nhân tố có liên quan và thể
hiện sự ổn định của hoạt động kinh doanh (kể cả cảnh báo bất ổn của Ngân hàng,
khủng hoảng tài chính), từ đó đưa ra những tín hiệu cảnh báo để hỗ trợ cho việc đảm
bảo an toàn hệ thống ngân hàng. Chính vì vậy, một số chỉ tiêu tài chính và một số chỉ
số dẫn báo (leading indicators) với các ngưỡng cụ thể cảnh báo trước tình hình rủi ro
tín dụng có thể xảy ra có thể được coi là chỉ tiêu cảnh báo tín dụng.
1.2.1.2. Vai trò của hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng
Cho đến nay, hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản và quan trọng của nhiều
ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam với dư nợ tín dụng thường chiếm trên 50%
tổng tài sản và thu nhập từ tín dụng thường chiếm 50 – 70% tổng thu nhập của
NHTM. Với đặc thù của hoạt động ngân hàng là ngành kinh doanh gắn liền với rủi
ro, do đó, song hành với hoạt động tín dụng, rủi ro tín dụng là một trong những loại
rủi ro trọng yếu, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động ngân hàng.
Việc xây dựng các chỉ tiêu cảnh báo tín dụng có ý nghĩa quan trọng trong điều hành,
giám sát hệ thống tài chính, nhất là trong việc phát hiện những yếu tố dễ bị tổn
chỉ tiêu phi tài chính có thể nhiều hay ít, sau đây là một số chỉ tiêu hay được lựa chọn
để đánh giá .
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HỆ THỐNG CHỈ TIÊU CẢNH BÁO
TÍN DỤNG
1.3.1 Các nhân tố tác động tích cực
1.3.1.1. Nền tảng cơ sở dữ liệu hiện có
Dựa vào mô hình tổ chức, bộ máy của cơ quan TTTD mà phải xây dựng nên một
hệ thống các chỉ tiêu chuẩn về nghiệp vụ cảnh báo tín dụng phù hợp với loại hình dịch
vụ TTTD thực hiện, phải tinh giản, gọn nhẹ, cơ cấu hiện đại.Tận dụng tốt các thông tin
đã thu thập được từ tất cả các TCTD trên cả nước được cập nhật liên tục ba ngày một
lần. .
9
1.3.1.2. Công nghệ tin học, truyền thông
Việc áp dụng kỹ thuật tin học đối với hoạt động TTTD là một lẽ tất nhiên nhưng
việc áp dụng để tính toán đưa ra kết quả báo cáo cảnh báo về khách hàng vay dựa trên
những hệ thống chỉ tiêu đòi hỏi không chỉ ở chỗ xử lý thông tin nhanh nhẹn, chính xác,
kịp thời, tốc độ cao mà nó còn có thể kết nối truyền tải thông tin từ nơi này đến nơi khác,
ít bị trở ngại của khoảng cách và thời gian.
1.3.1.3. Phát triển các sản phẩm cảnh báo tín dụng có chất lượng tốt
Để đánh giá hiệu quả của hệ thống các chỉ tiêu cảnh báo, một trong các yếu tố
không thể thiếu là các sản phẩm dịch vụ cảnh báo.
Sản phẩm cảnh báo hoàn hảo sẽ mang lại cho các NHTM nguồn dữ liệu thông
tin phục vụ công tác phân tích, đánh giá và dự báo tình hình hoạt động sản xuất kinh
doanh của khách hàng, phục vụ cho công tác quản trị ngân hàng. Trên cơ sở đó đề ra
chiến lược kinh doanh cũng như chính sách tín dụng hợp lý nhằm thúc đẩy hoạt động
tín dụng của ngân hàng mở rộng và tăng trưởng hiệu quả.
1.3.2 Các nhân tố tác động tiêu cực
1.3.2.1. Hoạt động Thông tin tín dụng ngân hàng
Thực chất thì thị trường TTTD ngân hàng là một thị trường không hoàn hảo, vì trong
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cung cấp và làm dịch vụ thông tin về tiền
tệ, hoạt động ngân hàng cho các tổ chức tín dụng và các tổ chức khác. CIC là đầu mối
và trụ cột của hệ thống Thông tin tín dụng Việt Nam và phải vững mạnh, có uy tín thì
hoạt động thông tin tín dụng mới có hiệu quả. Hoạt động của CIC cần có hệ thống
thông tin hiện đại, xây dựng kho dữ liệu to lớn cập nhật đầy đủ, có đội ngũ cán bộ
chuyên sâu nghiệp vụ và phải có chiến lược, kế hoạch cần thiết để tạo lập ra các sản
phẩm thông tin tín dụng có chất lượn, được người dùng chấp nhận. Nhiều mảng
nghiệp vụ của CIC vẫn còn đang trong giai đoạn nghiên cứu để phù hợ với tình hình
thực tế của Việt Nam. Sau 20 năm, chưa bằng ¼ lịch sử ra đời và phát triển của một
hệ thống thông tin tín dụng của Mỹ, Nhật… nhưng hệ thống Thông tin tín dụng Việt
Nam đã góp phần đảm bảo an toàn, ổn định hệ thống Ngân hàng, hỗ trợi các tổ chức
tín dụng hoạt đông kinh doanh hiệu quả, phòng tránh rủi ro tín dụng, giúp khách hàng
vay tiếp cận tín dụng thuận lợi, công bằng.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Trung tâm thông tin tín dụng
Căn cứ theo Quyết định số 3289/QĐ-NHNN ngày 31/12/2008 của Thống đốc
NHNN Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm
Thông tin tín dụng, CIC thực hiện việc tổ chức, sắp xếp các phòng, ban theo chức
năng, nhiệm vụ, và quyền hạn theo sơ đồ sau:
11
Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức của CIC
(Nguồn: Phòng Nghiên cứu phát triển CIC)
2.1.4.1. Sản phẩm thông tin tín dụng trong nước
Đây là nhóm sản phẩm thông tin về khách hàng vay trong nước, bao gồm: báo
cáo quan hệ tín dụng của tổ chức, cá nhân; báo cáo thông tin bảo đảm tiền vay; báo
cáo thông tin tổng hợp Nhóm sản phẩm này chiếm thị phần lớn trong tổng số các
bản báo cáo thông tin được cung cấp cho các TCTD. CIC đã có hơn 16 năm kinh
nghiệm cung cấp sản phẩm này cho các đơn vị thuộc NHNN nhằm phục vụ công tác
thanh tra, giám sát và quản lý nhà nước về hoạt động tín dụng ngân hàng; đồng thời
hỗ trợ về thông tin đối với việc ra quyết định đầu tư của các TCTD, hạn chế rủi ro
trong kinh doanh tín dụng ngân hàng.
2.1.4.2. Báo cáo xếp hạng tín dụng
Ngoài các sản phẩm đang cung cấp như Xếp hạng tín dụng DN, Xếp hạng tín
dụng DN trực tuyến và các Ẩn phẩm xếp hạng tín dụng theo ngành, năm 2010 CIC
tiếp tục cung cấp các sản phẩm mới.
2.1.4.3. Báo cáo thông tin doanh nghiệp ngoài nước
Hơn 14 năm qua, sản phẩm tin nước ngoài của CIC đã cung cấp hàng nghìn lượt
thông tin về các DN nước ngoài, giúp các cơ quan quản lý nhà nước, các TCTD, các
DN Việt Nam hiểu rõ đối tác làm ăn về thông tin pháp lý, tình hình tài chính, mức độ
hoạt động kinh doanh, dự báo rủi ro và phát hiện sớm các dấu hiệu lừa đảo, giúp các
DN và TCTD đưa ra quyết định đúng đắn trong hoạt động đầu tư, hợp tác kinh
doanh, liên doanh, liên kết với các tổ chức nước ngoài.
2.1.4.4. Bản tin thông tin tín dụng định kỳ và Website cảnh báo tín dụng
Bản tin Thông tin tín dụng của CIC là ấn phẩm thông tin nội bộ trong hệ thống
ngân hàng, phát hành 4 kỳ/tháng, xuất bản hơn 100.000 cuốn mỗi năm. Đây là ấn
phẩm chứa nhiều thông tin tham khảo về hoạt động tín dụng ngân hàng, cơ chế chính
sách mới về tín dụng, lãi suất, tỷ giá Đồng thời Bản tin còn cung cấp cho bạn đọc
thông tin cảnh báo về tình hình quan hệ tín dụng của những khách hàng vay tại các
TCTD.
13
2.2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU CẢNH BÁO TÍN DỤNG CỦA
tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng. Thực tế chứng minh tỷ lệ nợ xấu của các NHTM cổ
phần là thấp hơn so với các NHTM nhà nước một phần là do các NHTM cổ phần
thực hiện nghiêm túc việc cung cấp và khai thác sử dụng TTTD trong thời gian vừa
qua.
2.3.2 Hạn chế
14
Từ cuối năm 2010, CIC chính thức cung cấp sản phẩm cảnh báo và cho phép
người sử dụng khai thác online. Với kho dữ liệu trên 20 triệu hồ sơ khách hàng, gồm
các tiêu chí thông tin đa dạng về tài chính, phi tài chính, dư nợ, tài sản đảm bảo tiền
vay, bảo lãnh, thế chấp , tuy nhiên đội ngũ cán bộ chưa được chuyên sâu về nghiệp
vụ này nên mối quan hệ chia sẻ thông tin với các cơ quan đơn vị ngoài ngành, mối
quan hệ hợp tác với các đối tác có năng lực, có kinh nghiệm trong và ngoài nước còn
hạn chế, CIC có đủ khả năng để từng bước thiết lập một hệ thống thông tin cảnh báo.
Vì vậy hiện nay về mảng công tác cảnh báo tín dụng CIC mới đang trong giai đoạn
tìm hiểu và phát triển.
Mới chỉ căn cứ trên chỉ tiêu và thông tin dư nợ để xây dựng nên các sản phẩm
cảnh báo vì thế các sản phẩm nhìn chung chỉ mang tính thống kê, tổng hợp chung
chung mà chưa đi sâu vào việc hỗ trợ dự báo sớm khả năng rủi ro của từng khách
hàng vay. Thiếu hoàn toàn các chỉ tiêu về tài chính và phi tài chính, trong khi các chỉ
tiêu này rất cần thiết trong việc xem xét đánh giá khả năng tồn tại và phát triển của
khách hàng vay.
Chính vì chưa xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu cảnh báo hoàn chỉnh nên bộ
phận nghiệp vụ này chưa thiết lập được quy trình đánh giá hoán thiện các khách hàng
vay theo diễn biến thị trường, theo thời hạn vay.
2.3.3 Nguyên nhân
2.3.3.1. Nguyên nhân chủ quan
+ Về nguồn nhân lực không đồng đều
Hiện nay, nghiệp vụ cảnh báo tín dụng do Phòng Bản tin phụ trách. Số cán bộ
được đào tạo làm nghiệp vụ 10 người với trình độ đại học trở lên. Tuy nhiên, đội ngũ
Đối với số liệu báo cáo tài chính: Báo cáo tài chính của các DN chưa đầy đủ
và chỉ những DN lớn hoặc các DN niêm yết mới có BCTC được kiểm toán, đại bộ
phận các DN nhỏ, các DN tư nhân không coi việc kiểm toán BCTC là quan trọng, có
nhiều DN chỉ có số liệu 2 năm, thậm chí một năm.
+ Về nhu cầu sử dụng thông tin
Hiện nay, một trong những khó khăn của CIC nói riêng và của các cơ quan làm
công tác thông tin nói chung ở Việt Nam đó là nhu cầu sử dụng thông tin của các chủ
thể kinh tế chưa được coi trọng. Phần lớn các chủ thể kinh tế hoạt động đều không
cần thông tin hoặc có thông tin nhưng chưa thực sự sử dụng nó một cách triệt để và
hiệu quả. Chưa bám sát vào tình hình thực tế của từng doanh nghiệp.
+Thị trường TTTD ngân hàng
Thực chất thì thị trường TTTD ngân hàng là một thị trường không hoàn hảo, vì
trong các chủ thể tham gia, có một số tổ chức không thực hiện kinh doanh TTTD như
cơ quan TTTD công, thường trực thuộc NHTW, hoạt động vì mục đích bảo đảm an
toàn, ổn định hệ thống ngân hàng, có tính chất như bảo hộ cho kinh doanh ngân hàng,
không nhằm kinh doanh, không vì mục tiêu lợi nhuận;
+ Các văn bản pháp luật
Các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động TTTD có thể ảnh hưởng tốt hoặc
không tốt đến hiệu quả hoạt động TTTD. Một hệ thống văn bản pháp lý đồng bộ, đầy
đủ thống nhất và ổn định sẽ nâng cao ý thức và trách nhiệm của các chủ thể tham gia
vào hệ thống TTTD. Các TCTD sẽ phải chấp hành nghiêm túc hơn chế độ báo cáo
TTTD về cơ quan TTTD.
16
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU CẢNH BÁO TÍN DỤNG TẠI
TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG - NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU CẢNH BÁO TÍN
DỤNG TẠI TRUNG TÂM TTTD
3.1.1 Định hướng phát triển Trung tâm thông tin tín dụng – Ngân hàng nhà
chức tài
chính được
quy định
khác
Ngân hàng dữ
liệu cơ quan tín
dụng công
Người sử
dụng
Các báo
cáo
Phân
loại nợ
Các tổ chức tài
chính được quy
định khác
Các ngân hàng
Ngân hàng trung
ương đơn vị giám
sát
Ngân hàng trung
ương đơn vị thống
kê
17
CIC sẽ chủ động xây dựng lộ trình phát triển tầm nhìn đến năm 2020, gồm các
nội dung chính:
Thứ nhất, tiếp tục củng cố hoàn thiện tổ chức của hệ thống thông tin tín dụng tại
CIC; đảm bảo cơ cấu tổ chức có đủ tầm, gánh vác nhiệm vụ chính trị được giao;
Thứ hai, quán triệt TCTD để thấy rõ tầm quan trọng của nghiệp vụ thông tin tín
hiện hoạt động cảnh báo tín dụng của Việt Nam nói chung và của CIC nói riêng mới
đang ở giai đoạn đầu, công việc còn mới mẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm và gặp
18
nhiều khó khăn. Các biện pháp đưa ra ở đây với hy vọng góp phần khắc phục những
tồn tại nêu trên ở từng vấn đề cụ thể của nghiệp vụ cảnh báo tín dụng .
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU CẢNH BÁO TÍN DỤNG
TẠI TRUNG TÂM TTTD
3.2.1 Hoàn thiện thu thập và xử lý nguồn thông tin đầu vào
Để hoàn thiện được hệ thống chỉ tiêu cảnh báo tín dụng cần phải thực hiện
những biện pháp sau :
Hệ thống hóa, thiếp lập, điều chỉnh và bổ sung các chỉ tiêu cảnh báo phù hợp với
điệu kiện thực tiễn của Doanh nghiệp, của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam.Hệ
thống các chỉ tiêu cảnh báo làm cốt lõi trong việc đưa ra thông tin cảnh báo.
Thiết lập danh mục các chỉ tiêu cảnh báo theo từng loại hình đối tượng, loại hình
doanh nghiệp và khách hàng vay.
Xác định và xây dựng thành chuẩn các ngưỡng, các giới hạn cảnh báo theo từng
cấp độ, phù hợp đối với từng loại hình doanh nghiệp, từng nhóm đối tượng khách
hàng vay.
Việc xem xét đánh giá giúp cho các nhà đầu tư đánh giá triển vọng hoạt động
của DN trên các mặt thời gian hoàn vốn, điểm hoà vốn, khả năng thanh toán vốn để
đưa ra có quyết định có đầu tư hay không. Ngoài việc phân tích các chỉ tiêu dư nợ
như hiện nay CIC đang thực hiện như đã trình bày ở chương 2, luận văn đưa ra giải
pháp bổ sung cho các chỉ số tài chính để tăng thêm độ tin cậy và đánh giá chính xác
hơn về khả năng của TCTD và DN như sau:
Các chỉ tiêu cấp 1 bao gồm các chỉ tiêu con - cấp 2 tất cả được thể hiện trên
bảng hệ thống chỉ tiêu cảnh báo sau :
Bảng 3.2 : Bảng hệ thống các chỉ tiêu cảnh báo tín dụng
( Nguồn: Trung tâm thông tin tín dụng)
Tên giao dịch Công ty Công ty cổ
19
TNHH cơ
khí XD TM
DV Trường
Phong
phần Dược
Hậu Giang
Loại hình KD
Thương mại
hàng hoá
Sản xuất
thuốc, hóa
dược và dược
liệu
Mã số thuế 1000349402
1800156801
Địa chỉ
KCN Phong
Phú, Đường
phẩm
Vốn điều lệ 19,500 653,764
Tổng số nhân viên 15 2629
Thông
tin dư nợ
Tổng dư nợ 96,391 0
Số dư nợ nhóm 1
Quá
lớn
Hợp
lý
Số dư nợ nhóm 2 Nhiều Không
Số dư nợ nhóm 3 Nhiều Không
Số dư nợ nhóm 4 Nhiều Không
dụng cho
NHTM
Tỷ trọng dư nợ trên tổng tài
sản có
Nhiều Ít
Hệ số này áp
dụng cho
NHTM
Hệ số này áp
dụng cho
NHTM
Tổng dư nợ trên nguồn vốn Quá Hợp Hệ số này áp Hệ số này áp
20
huy động nhiều lý dụng cho
NHTM
dụng cho
NHTM
Nợ quá hạn/ tổng dư nợ <=3%
100% 0%
Tỷ suất lợi nhuận trên thu
nhập
Thấp Cao
0.022
8.376
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng
tài sản
3.927
Khả năng thanh toán nhanh <1 >=1
0.003
1.453
Sức sản xuất của vốn Thấp
càng
cao
càng
tốt
0.234
1.118
Sức sản xuất của vốn cố
định
Thấp Cao
0.348
5.387
Sức sinh lời của vốn cố định
Thấp Cao
0.011
1.149
Thấp Cao
1.346
2.002
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu Thấp Cao
0.257
0.501
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng
vốn
Thấp Cao
0.007
0.239
Tỷ suất lợi nhuận trên chi
phí sản xuất và tiêu thụ
Thấp Cao
0.346
1.002
Chỉ tiêu Theo bảng chỉ tiêu xếp hạng
C A CCC AAA
21
xếp hạng
Cao Thấp Ít ảnh hưởng
Ít ảnh hưởng
Đặc
điểm
kinh
doanh
của DN
Tăng trưởng doanh thu Không Có 0 16,52
Tăng trưởng tổng tài sản Không
Có 0 19,56
Số năm hoạt động kinh
doanh
Ít Nhiều 5 8
Mức độ tin cậy của báo cáo
tài chính
Chưa
KT
Đã
KT
Chưa kiểm
toán
Đã kiểm toán
Mức độ đầu tư vào công
nghệ
Không
Cao Không Cao
tin cả tích cực và tiêu cực về các chỉ số kinh tế vĩ mô, thông tin về doanh nghiệp vay
vốn nước ngoài có bảo lãnh của chỉnh phủ, các doanh nghiệp có vấn đề, vi phạm
pháp luật, nợ thuế, ….
- Hỗ trợ NHNN nói chung và CIC trong việc phố biến, triển khai hoạt động cảnh
báo TTTD tới cộng đồng doanh nghiệp và ra xã hội nhằm ngăn ngừa tội phạm lừa
đảo, hạn chế rủi ro cho nền kinh tế.
3.2.2 Đối với Ngân hàng nhà nước
- Trình Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách phù hợp để CIC tiếp cận với các
nguồn thông tin về doanh nghiệp được quản lý phân tán tại các Bộ, ngành và các cơ
quan quản lý khác.
- Để hệ thống chỉ tiêu cảnh báo cáo tính thuyết phục, tính pháp lý cao, NHNN
cần nghiên cứu, ban hành hệ thống chỉ tiêu cảnh báo trên cơ sở tham mưu, đề xuất
của CIC.