chọn và dẫn giống một số dòng bạch đàn và keo tai tượng ở vùng trung tâm bắc bộ để thiết lập vườn lưu giữ giống - Pdf 13


BỘ CÔNG THƯƠNG
TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM
Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy
*****

BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI
CẤP BỘ NĂM 2009 Đề tài:

CHỌN VÀ DẪN GIỐNG MỘT SỐ
DÒNG BẠCH ĐÀN VÀ KEO TAI TƯỢNG
Ở VÙNG TRUNG TÂM BẮC BỘ
ĐỂ THIẾT LẬP VƯỜN LƯU GIỮ GIỐNG

Cơ quan chủ quản: BỘ CÔNG THƯƠNG
Cơ quan chủ trì: VIỆN NC CÂY NL GIẤY
Chủ nhiệm đề tài: KS. Vũ Thị Lan 7701

09/02/2010
PHÚ THỌ, THÁNG 12 NĂM 2009

i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

NN & PTNN:
NPK:
H:
H
tb
:
H
vn
:
D
0
:
D
1.3
:
D
1.3
(tb):
TLS:

Công ty lâm nghiệp
Công thức thí nghiệm
Indol butyric axit
Chế phẩm ra rễ của Trung Quốc
(ABT số 1)
ABT
1
1% + IBA 0.5%
ABT
1
1% + IBA 1%
ABT
1
0.5% + IBA 1%
ABT
1
1%
IBA 1%
Chỉ số sinh trưởng
Thể tích thân cây bình quân
Tỷ lệ ra rễ
Chỉ số ra rễ
ii

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Sinh trưởng và tỷ lệ sống các dòng Bạch đàn 14 tháng tuổi tại Phù Ninh,

Tóm tắt
Để tiếp tục chương trình cải thiện giống, từ năm 2006 đến năm 2009 Bộ
Công thương đã giao cho VNCCNLG thực hiện đề tài "Chọn và dẫn giống một số
dòng Bạch đàn và Keo tai tượng có triển vọng ở vùng Trung tâm Bắc Bộ để thiết
lập vườn lưu giữ giống". Đề tài đã chọn được hơn 200 cây trội, dẫn giống thành
công hơn 100 cây, trồng khảo nghiệ
m được 9,0ha, kết quả bước đầu cho thấy:
- Khảo nghiệm 25 dòng Bạch đàn tại Phù Ninh - Phú Thọ (1.5ha). Sau 14 tháng
tuổi, đứng đầu về chỉ số sinh trưởng là dòng E28 và dòng NM15.
- Khảo nghiệm 22 dòng Bạch đàn tại Lập Thạch - Vĩnh Phúc (2.2ha). Sau 27
tháng tuổi, sinh trưởng vượt trội về thể tích là dòng CT3 và dòng TTKT7 (vượt
cả đối chứng U6 và PN2).
- Khảo nghiệm 26 Keo tai tượng tại Hàm Yên - Tuyên Quang (1.5ha). Sau 13
tháng tuổi, đứng đầ
u về chỉ số sinh trưởng là dòng A47 và A31 (vượt đ/c BV10)
- Khảo nghiệm 30 dòng Keo tai tượng tại Hàm Yên - Tuyên Quang (2.0ha). Sau
25 tháng tuổi, dòng A38 và dòng A31 cho khả năng sinh trưởng tương đương
với 2 dòng đối chứng KL20 và BV10.
- Khảo nghiệm 28 dòng Keo tai tượng tại Phù Yên - Sơn La (1.8ha). Sau 25
tháng tuổi, sinh trưởng vượt trội về thể tích là dòng A47, A7, A40 và dòng A31.
Đồng thời với việc khảo nghiệm các dòng vô tính Bạch đàn, Keo tai tượng đề
tài đã thực hiện các thử nghiệm giâm hom
đối với 2 loài trên. Kết quả trồng được
1.400 cây Bạch đàn và Keo tai tượng cung cấp vật liệu nghiên cứu; xác định được
chế độ chăm sóc 2 và vụ thu đông các dòng Bạch đàn và Keo tai tượng cho khả
năng ra rễ cao hơn; xác định được dòng Keo tai tượng: A36 (0.75%); A40 (1%)
và dòng Bạch đàn: E28 (ABT
1
1% + IBA 0.5%); NM15 (ABT
1

2.2.1 Đánh giá sinh trưởng rừng trồng khảo nghiệm các dòng vô tính 12
2.2.2 Nghiên cứu giâm hom 23
2.2.3 Bản hướng dẫn giâm hom 30
III Phần III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 34
2.1 Kết luận 34
2.2 Kiến nghị 35

TÀI LIỆU THAM KHẢ
O

PHU LỤC
1

PHẦN I. TỔNG QUAN

1.1. Cơ sở pháp lý của đề tài
Đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ năm 2009 “Chọn và dẫn giống một
số dòng Bạch đàn và Keo tai tượng ở vùng Trung tâm Bắc bộ để thiết lập vườn
lưu giữ giống” được thực hiện dựa trên các cơ sở pháp lý như sau:
Căn cứ quyết định số 6363/QĐ-BCT ngày 02 tháng 12 năm 2008 của Bộ
trưởng B
ộ Công thương về việc đặt hàng thực hiện các nhiệm vụ khoa học và
công nghệ năm 2009 với Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy.
Căn cứ hợp đồng đặt hàng sản xuất và cung cấp dịch vụ sự nghiệp
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ số: 079.09.RD/HĐ-KHCN" ngày
04 tháng 03 năm 2009 giữa Bộ Công Thương và Viện nghiên cứu cây nguyên
liệu giấy.
Căn cứ quyết định số
11/VNC-QĐ.KHTH ngày 05 tháng 03 năm 2009
của Viện trưởng Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy về việc giao nhiệm vụ

dòng vô tính đạt năng suất bằng hoặc cao hơn giống
đang sản xuất đại trà là việc
làm có ý nghĩa thực tiễn, góp phần nâng cao cả về số lượng và chất lượng.
Đề tài đã khảo nghiệm các dòng vô tính Bạch đàn và Keo tai tượng trên 4
địa điểm đại diện cho vùng dự kiến trồng rừng, kết quả bước đầu cho thấy một
số dòng có biểu hiện sinh trưởng vượt trội so với dòng đối chứng PN2, PN14,
U6 và BV10.
Kết quả
điều tra cho thấy, diện tích rừng trồng các dòng vô tính Bạch đàn
PN2 và PN14 ngày càng được mở rộng, tuy nhiên do số lượng dòng còn ít, nên
ở một vài nơi đã có dấu hiệu nguy cơ sâu bệnh hại. Để góp phần bổ xung cho
tập đoàn giống trồng rừng nguyên liệu giấy ở vùng Trung tâm Bắc Bộ, tăng
thêm tính đa dạng sinh học và độ an toàn cao cho trồng rừng, giảm thiểu rủi ro
về sâu bệnh hại, song song vớ
i việc tuyển chọn cây trội là việc theo dõi đánh giá
và nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nhân giống đối với những dòng Bạch đàn và
Keo tai tượng có triển vọng phục vụ trồng rừng với số lượng lớn là cần thiết.

1.2.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
* Mục tiêu tổng quát
Tuyển chọn, khảo nghiệm dòng dõi các dòng Keo tai tượng và Bạch đàn,
lựa chọn được một số
dòng mới ưu trội phục vụ trồng rừng nguyên liệu giấy.
3

* Mục tiêu cụ thể năm 2009
- Đánh giá sinh trưởng, phát triển và khả năng thích ứng của các dòng Keo
tai tượng và Bạch đàn trồng khảo nghiệm năm 2007 và 2008 tại Vĩnh Phúc,
Tuyên Quang, Sơn La và Phú Thọ.
- Xác định biện pháp kỹ thuật giâm hom thích hợp cho một số dòng Keo

1.4.1. Trên thế giới
Chọn cây trội và khảo nghiệm là bước công việc quan trọng trong chương
trình cải thiện giống cây trồng, chỉ có tuyển chọn dòng ưu việt thì năng suất chất
lượng rừng mới nâng cao [2], phương pháp này đã đưa năng suất rừng của nhiều
nước trên thế giới đạt tới 70m
3
/ha/năm như ở Brazil, thậm chí kết quả nghiên
cứu đạt 100m
3
/ha/năm. Tại Smurfit Carton Colombia với mục tiêu nâng cao
năng suất rừng họ đã chọn 1.100 cây trội Bạch đàn Grandis và đưa năng suất
rừng trồng từ 25m
3
/ha/năm lên 40m
3
/ha/năm. Ở một số nước Châu Á nhờ vào
chương trình cải thiện giống như Trung Quốc, Thái Lan, Philippin rừng trồng
Bạch đàn cũng đạt năng suất cao, ví dụ ở Thái Lan năng suất rừng Bạch đàn
Camaldulensis là 40m
3
/ha/năm, cá biệt còn đạt 80m
3
/ha/năm [10].
Trong công tác cải tạo giống cây trồng, các nước đều thiết lập vườn lưu
giữ giống gọi là ngân hàng dòng (Clone Banks), mục tiêu là lưu giữ các giống
đã tuyển chọn phục vụ nghiên cứu và sản xuất, thậm chí cả những giống khó ra
rễ cũng được lưu giữ nếu như các giống đó có ưu điểm mong đợi, ở Nam Phi khi
thiết lập vườn lư
u giữ giống người ta thường trồng 5-10 cây cho một giống,
Trung Quốc trồng 5 cây cho 1 giống.

ốc có tỷ lệ ra rễ
cao nhất, song chưa chỉ ra nồng độ bao nhiêu là thích hợp [5]. Năm 1988 Trung
tâm giống cây rừng ASIA-CANADA ở Thái Lan đã nghiên cứu về giâm hom
cho Keo tai tượng tỷ lệ thành công khá cao.
Năm 1991 Darus đã thử nghiệm giâm hom Keo tai tượng ở Malaysia và
cho biết ảnh hưởng của tuổi cây mẹ đến tỷ lệ ra rễ của hom cành là rất rõ. Vào
các độ tuổi lớn, vùng tế bào Selerenchyma dày lên và trở thành barie cơ học
ngăn cả
n sự hình thành rễ, do vậy giâm hom cây trưởng thành khó hơn nhiều.
Kết quả giâm hom cho thấy tuổi cây mẹ khác nhau có tỷ lệ ra rễ cũng khác nhau,
6 tháng tuổi tỷ lệ ra rễ cao nhất (71,3%) đến 24 tháng tuổi tỷ lệ ra rễ thấp nhất
(15,0%), sự tồn tại của lá trên hom khác nhau cũng cho tỷ lệ ra rễ khác nhau:
hom để lại 1/2 diện tích phiến lá cho tỷ lệ ra rễ cao nhất (76%), hom cắt bỏ toàn
bộ phiến lá cho tỷ
lệ ra rễ thấp nhất (12%) [7].
1.4.2. Ở Việt Nam
Chương trình cải thiện giống ở nước ta đang ở giai đoạn đầu cho một số
giống nhập nội như: Bạch đàn, Keo và Thông, gần 20 năm trở lại đây Viện
nghiên cứu cây nguyên liệu giấy đã thiết lập một số thử nghiệm khảo nghiệm
6

loài và xuất xứ cho các loài kể trên [6], sau đó là bước chọn cây trội và khảo
nghiệm dòng. Đến nay đã chọn được trên 500 cây trội Bạch đàn và Keo, thiết
lập nhiều khảo nghiệm dòng vô tính cho 2 loài này và đã có 3 dòng Bạch đàn
được công nhận là giống Quốc gia, 8 dòng Bạch đàn và 3 dòng Keo lai và 2 xuất
xứ Keo tai tượng được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật, hiện các dòng Bạch
đàn và Keo lai ưu trội đã được trồ
ng khảo nghiệm trên diện rộng và cho năng
suất rừng cao từ 20-30m
3

năng suất tăng gấp 2 - 2.5 lần so với cây trồng từ hạt, nghiên cứu nhân giống mô
- hom cho những dòng này được thực hiện trong các năm 1997 – 2000, qua
nghiên cứu tìm ra được quy trình kỹ thuật phù hợp để nhân giống mô - hom các
dòng Bạch đàn PN2, PN14, U6, GU8, v.v
Năm 1990 trong chương trình nghiên cứu và cải tạo giống, Viện nghiên
cứu cây nguyên liệu giấy đã có nh
ững thử nghiệm về giâm hom Keo tai tượng
đối với chồi của cây 2 tuổi và đó cho những kết quả thành công ban đầu.
Cùng với những kết quả về cải thiện giống, Trung tâm nghiên cứu giống
cây rừng thuộc Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, là đơn vị nghiên cứu đầu
ngành về giống lâm nghiệp đã nghiên cứu thành công kỹ thuật giâm hom cho
một số dòng Keo lai, Keo tai tượng, Bạch đàn và một số
giống cây rừng khác [3]
8

PHẦN II. THỰC NGHIỆM

2.1. Phương pháp nghiên cứu
2.1.1. Xây dựng vườn vật liệu cung cấp hom giâm phục vụ thí nghiệm
2.1.1.1. Tạo vật liệu nhân giống
Giâm hom liên tiếp, tạo cây đầu dòng cung cấp vật liệu nhân giống.
2.1.1.2. Thiết lập, chăm sóc vườn vật liệu Keo tai tượng và Bạch đàn
 Thiết lập vườn vật liệu
Vườn vật liệu được thi
ết lập tháng 3/2009 trên đất của vườn ươm
VNCCNLG (xã Phù Ninh, huyện phù Ninh, tỉnh Phú Thọ), gồm 1.400 cây cấp
hom của 7 dòng Keo tai tượng và 7 dòng Bạch đàn (100cây/dòng), sử dụng
những cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn trồng trong vườn vật liệu. Phương pháp
trồng: làm đất toàn diện, khi trồng cây bón 1 kg phân chuồng hoai và 100 g phân
NPK/gốc, cây được trồng theo hàng để tiện việc chăm sóc.

bằng lưới sắt có mắt rộng 1cm
2
. Sử dụng túi bầu Φ 9cm và chiều cao 13cm.
Trước khi giâm hom 12 – 24 giờ, giá thể được xử lý bằng thuốc tím (KMnO
4
)
0.1%, tưới rửa nền giâm bằng nước sạch trước khi cắm hom.
Phun sương mù được thực hiện để chăm sóc thí nghiệm hàng ngày, số lần
phun mù tuỳ thuộc vào thời tiết hàng ngày và từng giai đoạn, khi nhiệt độ không
khí cao, cường độ ánh sáng lớn hom yêu cầu độ ẩm cao hơn và giai đoạn hom
chuẩn bị ra rễ yêu cầu độ ẩm cao hơn sau khi hom đã ra rễ. Vì vậy sau khi tiến
hành giâm hom nếu g
ặp thời tiết nắng nóng thì phải tăng số lần phun mù, tránh
cho hom không bị mất cân bằng giữa cung cấp nước và thoát hơi nước để hom
không bị khô héo.
2.1.2. Bố trí thí nghiệm
2.1.2.1. Bố trí thí nghiệm rừng trồng
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ, 4 – 5 lần lặp, cụ thể như
sau:
- Khảo nghiệm Bạch đàn tại Phù Ninh – Phú Thọ: có 4 lần lặp, trong mỗi lặp
có 25 ô của 25 dòng, mỗi ô chứa 6 cây, tổng số cây/dòng là 24 cây.
- Khảo nghiệm Bạch đàn tại Lập Thạch – Vĩnh Phúc: có 5 lần lặp, trong mỗi
lặp có 22 ô của 22 dòng, mỗi ô chứa 6 cây, tổng số cây/dòng là 30 cây.
- Khảo nghiệm Keo tai tượng tại Hàm Yên – Tuyên Quang (2008): có 4 lần
lặp, trong mỗi lặp có 26 ô của 26 dòng, mỗi ô chứa 6 cây, tổng số cây/dòng
là 24 cây.
10

- Khảo nghiệm Keo tai tượng tại Hàm Yên – Tuyên Quang (2007): có 5 lần
lặp, trong mỗi lặp có 30 ô của 30 dòng, mỗi ô chứa 6 cây, tổng số cây/dòng

3 lần lặp, 30hom/lặp (tổng 5.040 hom).
Thí nghiệm 4: Sau khi hoàn thành thí nghiệm 3 và xác định được công
thức có khả năng ra rễ cao nhất thì tiến hành thí nghiệm 4: Ảnh hưởng của chế
độ chăm sóc vườn vật liệu và mùa vụ (xuân hè và thu đông) đến khả năng ra rễ
của hom giâm. Thí nghiệm được thực hiện cho 7 dòng (đối chứng là PN14) với
2 chế độ chăm sóc vườn vật liệu, 3 lần lặp, 30hom/lặp (tổng 2.520 hom).
11

2.1.3. Phương pháp thu thập số liệu
2.1.3.1. Rừng trồng thí nghiệm năm 2007 và 2008
Số liệu được thu thập định kỳ vào tháng 11 – 12 hàng năm. Các chỉ tiêu
đánh giá chủ yếu là: đường kính gốc (D
0
), đường kính ngang ngực (D
1.3
), chiều
cao vút ngọn (H
vn
), tỷ lệ sống.
Đường kính gốc (D
0
): đo tại vị trí cách mặt đất 5cm.
Đường kính ngang ngực (D
1.3
): đo tại vị trí cách mặt đất 1.3m.
Chiều cao vút ngọn (H
vn
): đo từ sát mặt đất tới đỉnh ngọn sinh trưởng.
Sử dụng thước kẹp kính để đo đường kính và thước Sulto để đo chiều cao.
Tỷ lệ sống: đếm các cây còn sống trong ô thí nghiệm.

t
(H
vn
): Chiều cao vút ngọn
- Thể tích thân cây bình quân được tính theo công thức [16]
V = GHf
Trong đó:
V: thể tích của cây bình quân của các công thức thí nghiệm.
12

G: là tiết diện ngang thân tại vị trí độ cao 1,3m (G = (D
1.3
/2)^2*3,14)
H: là chiều cao vút ngọn cây bình quân.
f: hình số ở thân cây (hình số giả định) = 0.5.
2.1.4.2. Nghiên cứu giâm hom
Số hom ra rễ
Tỷ lệ ra rễ (%) =
Số hom thí nghiệm
x 100
Chỉ số ra rễ = Số rễ/hom x Chiều dài TB rễ/hom.
Tổng chiều dài rễ/hom
Chiều dài TB rễ/hom (cm) =
Tổng số rễ/hom

2.2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.2.1. Đánh giá sinh trưởng rừng trồng khảo nghiệm các dòng vô tính.
2.2.1.1. Sinh trưởng rừng trồng khảo nghiệm các dòng vô tính Bạch đàn
a. Khảo nghiệm dòng vô tính Bạch đàn tại Phù Ninh - Phú Thọ
Thí nghiệm được thiết lập tại lô 1, khu 8, xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh,

TLS
(%)
E28 4.3 E28 6.4 E28
118.3
E28 100.0
NM15 4.1 NM15 6.4 NM15
107.6
NM15 100.0
E44 3.9 E44 5.9 E44
89.7
E16 100.0
E18 3.7 E50 5.3 E1
62.2
E42 100.0
E11 3.7 E15 4.8 E18
58.9
E8 100.0
E1 3.6 E1 4.8 E50
57.7
E7 100.0
E6 3.5 E6 4.7 E6
57.6
E14 100.0
VĐ14 3.4 E8 4.6 E11
57.5
PN14 (ĐC)
100.0
E15 3.4 E7 4.6 E15
55.5
E15 100.0

PN14 (ĐC)
4.1 E43
31.4
E6 95.8
E43 2.8 E43 4.0 E16
31.3
E19 91.7
E16 2.7 E42 3.9 E42
30.6
E1 91.7
E32 2.4 E46 3.3 E32
19.0
E18 91.7
E46 2.3 E32 3.3 E46
17.5
E44 91.7
E19 2.3 E3 3.2 E3
15.5
E27 87.5
E3 2.2 E19 2.4 E19
12.7
E2 83.3
TB 3.2 TB 4.4 TB
48.0
TB 96.3

Chỉ số sinh trưởng: dòng đạt chỉ số sinh trưởng cao nhất là dòng E28 và
dòng NM15 (118.3 và 107.6), vượt 49.7% và 45.1% so với dòng đối chứng
PN14.
Tỷ lệ sống: Sau 14 tháng tuổi, tỷ lệ sống của rừng trồng tại Phù Ninh là

ng khảo nghiệm
thành công ở Phú Thọ và Vĩnh Phúc. Dòng PN2 (Phù Ninh 2), do VNCCNLG
chọn lọc đã được công nhận là giống Quốc gia từ năm 1998, hiện hai dòng đang
được trồng phổ biến tại Phú Thọ, Vĩnh Phúc và trên nhiều vùng có điều kiện
sinh thái tương tự.
Kết quả bảng 2 cho thấy sinh trưởng đường kính D
1.3
trung bình của rừng
trồng là 6.4cm, dòng có sinh trưởng về đường kính tốt nhất là dòng CT3 và
TTKT7 (8.5cm và 7.5cm) vượt so với 2 dòng đối chứng là U6 và PN2, dòng có
sinh trưởng về đường kính kém nhất là dòng TTKT3 (4.8cm).
Sinh trưởng chiều cao giữa các dòng ở giai đoạn 27 tháng tuổi cho thấy
chiều cao trung bình của rừng trồng là 8.6m. Dòng có sinh trưởng về chiều cao
15

tốt nhất là dòng CT3 và TTKT7 (12m và 11m), vượt xa so với 2 dòng đối chứng
là U6 và PN2, dòng đạt sinh trưởng về chiều cao kém nhất là dòng số TTKT4
(6.8m).
Bảng 2: Sinh trưởng và tỷ lệ sống của các dòng Bạch đàn 27 tháng tuổi
tại Lập Thạch - Vĩnh Phúc
Dòng
D
1.3

(cm)
Dòng
H
vn

(m)

H6 5.9 H6 7.7 H6 0.0106 TTKT3 87.5
H2 5.6 TTKT3 7.4 H3 0.0090 H6 87.5
TTKT5 5.6 H3 7.4 TTKT5 0.0089 QY14 87.5
H3 5.6 TTKT5 7.3 H2 0.0084 CT3 87.5
PN2 (ĐC)
5.4
PN2 (ĐC)
7.0
PN2 (ĐC)
0.0079 H5 83.3
TTKT4 5.0 H2 6.9 TTKT4 0.0067 H2 79.2
TTKT3 4.8 TTKT4 6.8 TTKT3 0.0066
PN2 (ĐC)
75.0
TB 6.4 TB 8.6 TB 0.0145 TB 91.9

Về thể tích: giữa các dòng chưa có sự khác nhau rõ rệt, đứng đầu vẫn là
dòng CT3 và dòng TTKT7 (0.0337m
3
và 0.0243m
3
), vượt trội so với dòng đối
chứng U6; PN2 (0.0164m
3
và 0.0079m
3
), thể tích bình quân của thí nghiệm
(0.0145m
3)
, đạt thể tích thấp nhất là dòng số TTKT3 (0.0066m

2.2.1.2. Sinh trưởng rừng trồng khảo nghiệm dòng vô tính Keo tai tượng
a. Khảo nghiệm dòng vô tính Keo tai tượng năm 2008 tại Hàm Yên - Tuyên
Quang
Kết quả nghiên cứu sau 13 tháng tuổi của 25 dòng Keo tai tượng và 01
dòng Keo lai BV10 (đối chứng) được thể hiện ở bảng 3.
Thí nghiệm được thiết lập tháng 8 năm 2008 tại lô 1, khoảnh K 334, đội
Km 37, thu
ộc đất của Trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm cây nguyên liệu
giấy Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Lô 1 có độ cao 130m so với mực nước biển,
17

độ dốc < 30
0
, đất Feralit màu vàng phát triển trên nền đá mẹ phiến thạch sét,
thực bì nhóm 1a. Thí nghiệm được bố trí theo Sơ đồ 3 - Sơ đồ bố trí thí nghiệm
các dòng Keo tai tượng ưu trội tại Km 37 - Hàm Yên - Tuyên Quang.
Đường kính gốc: sinh trưởng đường kính gốc trung bình của rừng trồng là
4.2cm. Dòng có sinh trưởng về đường kính gốc tốt nhất là dòng A47 (5.1cm),
vượt so với dòng đối chứng BV10 (4.3cm), dòng có sinh trưởng về đường kính
kém nhất là dòng A24 (3.6cm).
Bảng 3: Sinh trưở
ng và tỷ lệ sống các dòng Keo tai tượng 13 tháng tuổi
tại Hàm Yên, Tuyên Quang
Dòng
D
0

(cm)
Dòng
H

A15 4.3 A37 4.7 A37 82.9 A10 87.5
A37 4.2 A5 4.7 A42 82.9 A47 87.5
A42 4.2 A42 4.7 A5 79.0 A17 83.3
A23 4.1 A13 4.6 A36 75.8 A28 83.3
A5 4.1 A6 4.6 A23 75.6 A43 83.3
A8 3.9 A8 4.6 A8 70.0 A13 83.3
A25 3.8 A23 4.5 A13 66.4 A6 83.3
A43 3.8 A28 4.4 A6 66.4 A37 83.3
A13 3.8 A43 4.4 A43 63.5 A15 83.3
A6 3.8 A25 4.3 A25 62.1 A1 79.2
A28 3.7 A17 4.1 A28 60.2 A24 70.8
A17 3.2 A36 4.1 A17 42.0 A36 70.8
A24 2.8 A24 3.6 A24 28.2 A25 37.5
TB 4.2 TB 4.7 TB 83.7 TB 85.3

18

Kết quả sinh trưởng chiều cao giữa các dòng ở giai đoạn 13 tháng tuổi
cho thấy chiều cao trung bình của rừng trồng là 4.7m, dòng có sinh trưởng về
chiều cao khá nhất là dòng A47 (5.3m), dòng đạt sinh trưởng về chiều cao kém
nhất là dòng số A24 (3.6m).
Chỉ số sinh trưởng: đứng đầu về chỉ số sinh trưởng là dòng A47 (137.9),
vượt trội so với dòng đối chứng BV10 (92.5), đạt chỉ số sinh trưởng thấp nhất
vẫn là dòng số A24 (28.2).
Tỷ lệ sống: Sau 13 tháng tuổi, tỷ lệ sống của rừng trồng Keo tai tượng tại
Hàm Yên là tương đối cao và đạt trung bình 85.3%, đạt tỷ lệ sống cao nhất là
dòng A41 (100%), dòng có tỷ lệ sống thấp nhất là dòng A25, đạt 37.5%. Tuy
nhiên so với các dòng khác dòng số A47 đứng đầu về các chỉ tiêu sinh trưởng
như D
0

tượng ưu trội tại Km 37 - Hàm Yên - Tuyên Quang
Bảng 4: Sinh trưởng và tỷ lệ sống của các dòng Keo tai tượng 25 tháng tuổi
tại Hàm Yên, Tuyên Quang
Dòng
D
1.3

(cm)
Dòng
H
vn

(m)
Dòng
V
(m
3
)
Dòng
TLS
(%)
A31 7.4
KL20 (ĐC)
8.7
KL20 (ĐC)
0.0184 Am (hạt) 100.0
KL20 (ĐC)
7.4
BV10 (ĐC)
8.3

A48 6.1 A19 6.9 A19 0.0098 A47 63.3
A19 6.0 A22 6.8 A48 0.0096 A26 60.0
A22 5.9 A20 6.8 A20 0.0093 A36 56.7
A20 5.9 A48 6.7 A22 0.0092 A37 56.7
A11 5.6 A33 6.6 A11 0.0085 A49 53.3
TB 6.5 TB 7.1 TB 0.0117 TB 67.1

Trong 30 dòng chọn lọc đem trồng khảo nghiệm (có 3 dòng đối chứng
KL20; BV10 và Keo tai tượng hạt). Sinh trưởng đường kính đứng đầu là dòng
số A31 (7.4cm) tương đương với dòng đối chứng KL20, tiếp đến là dòng A38


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status