M U
Trong nhng nm qua, nn nụng nghip Vit Nam ó cú nhng bc tin
vt bc, t nc thiu lng thc, Vit Nam ó tr thnh nc khụng nhng
cung cp nhu cu trong nc m cũn tr thnh nc xut khu go ng
th hai th gii. Cú c thnh tu trờn chớnh l nh cú c cỏc ging mi
v bin phỏp canh tỏc hiu qu, nhng khụng th khụng núi t
i vic s dng
nhiu phõn bún vụ c v thuc bo v thc vt. Cựng vi thi gian, chỳng ta
v c th gii u thy rng t ai ngy cng b cn ci do thiu cht hu c,
cỏc vi sinh vt trong t khụng phỏt trin dn n cỏc cõy c trng trờn cỏc
mnh t ú b sõu bnh nhiu hn, b gim nng sut khi thay i thi ti
t,
do b gim kh nng chng chu sõu bnh v chng chu s bin i thi tit.
Vic nhn thc li vai trũ ca cỏc cht hu c trong t, cỏc phõn bún vụ
c, hu c i vi s phỏt trin ca cõy trng ó tr thnh nhu cu cp bỏch.
Ngy nay ngi ta ó núi nhiu ti vic s dng cú hiu qu hn phõn bún vụ
c, thay th
dn phõn bún vụ c bng nhng loi phõn bún hu c mi. Theo
xu hng ny, cựng vi nhng phỏt hin t phỏ v kh nng hp th qua lỏ
cht dinh dng vụ c v hu c (ch yu l cỏc axớt amin) trong phõn bún
sn xut bng phng phỏp thy phõn protein cú trong cỏc sn phm nụng
nghip nh rong bin, ngụ, u tng, cỏ bin ó v ang phỏt trin khỏ
mnh. nhng vựng sn xut hoa, qu v rau cú giỏ tr
cao ca Vit nam s
dng u tng ngõm 5 - 6 thỏng cho oai mc lm phõn bún rt ph bin
v mang li hiu qu kinh t cao. vựng nụng thụn ven bin, rong bin ti
cng ó c s dng lm phõn bún v cng ó mang li kt qu tt. Rong
bin nu qua ch bin s tr thnh phõn bún cú giỏ tr hn nhiu so vi
nguyờn liu ban u v hin nay ó cú 1 s cụng ty nghiờn cu v ch
bin
8148
17/11/2010 H Ni, nm 2010
NGHIÊN CứU CÔNG NGHệ SảN XUấT CHấT DINH DƯỡNG
Bổ SUNG CHO PHÂN BóN QUA Lá Từ NGUồN RONG BIểN
TRONG NƯớC
Thc hin theo Hp ng s 46.09.RDBS/H-KHCN ngy 29/6/2009 gia
B Cụng Thng v Cụng ty CP Thit k Cụng nghip Húa chtCh nhim ti: ng Xuõn Ton
Cỏc thnh viờn tham gia: Vn Th Tõm
Ngụ Quc Khỏnh
Nguyn Tin Duy
Nguyn Minh Hin
GIM C CễNG TY
MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, nền nông nghiệp Việt Nam đã có những bước tiến
vượt bậc, từ nước thiếu lương thực, Việt Nam đã trở thành nước không những
cung cấp đủ nhu cầu trong nước mà còn trở thành nước xuất khẩu gạo đứng
thứ hai thế giới. Có được thành tựu trên chính là nhờ có được các giống mới
Việt Nam thường gọi là rong câu) rất phổ biến. Do rong bi
ển là loại cây biển
hấp thu rất mạnh các chất có trong nước biển vì thế thành phần của chúng
khác nhau, việc đánh giá thành phần rong biển theo khu vực địa lý sẽ hết sức
có ý nghĩa về kinh tế để lựa chọn rong biển như một loại nguyên liệu sản xuất
các loại phân bón.
Rong biển ở nước ta khá nhiều, nhưng việc tiêu thụ ít hơn nhiều so với khả
năng cung cấp do vậy tìm kiếm thêm khả năng sử dụng rong biển sẽ có ý
nghĩa kinh tế cho nhân dân vùng ven biển.
i
MỤC LỤC
Trang
Tóm tắt đề tài 1
Chương I: Tổng quan về rong biển 2
I.1 Giá trị dinh dưỡng của rong biển 5
I.2 Thành phần hóa học của rong biển 7
I.3 Ích lợi của rong biển cho cây trồng 8
I.4 Sản phẩm phân bón từ chất chiết xuất rong biển ở nước ngoài và ở
Việt Nam
12
I.5 Tổng quan về rong biển ở Việt Nam 13
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Phương pháp được lựa chọn để thực hiện các nội dung của đề tài là:
- Đi khảo sát ở một số vùng sản xuất rong biển chính trong nước.
- Khảo sát và lấy mẫu rong biển ở Thái Bình và Nam Định để phân tích thành
phần dinh dưỡng của nguyên liệu chưa thủy phân và thành phần dinh dưỡng
của rong biển sau khi đã thủy phân.
- Dựa trên kết quả nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng tối thiểu cho cây
tr
ồng đề xuất thành phần và sau đó là qui trình công nghệ phối liệu phù hợp.
Đề tài đã thực hiện được mục tiêu đề ra đánh giá các nguồn rong biển trong
nước có khả năng tiềm tàng để sản xuất phân bón lá bằng phương pháp thủy
phân để tạo ra sản phẩm phân bón mới, thay thế một phần phân bón vô cơ,
góp phần tạo ra sản phẩm nông sản an toàn, các thông tin về tình hình nuôi
trồng rong biển ở Việt Nam, thành phầ
n dinh dưỡng cơ bản của rong biển
trước và sau khi thủy phân cũng như sau khi tạo ra sản phẩm đã thu được với
độ chính xác đủ để tiến hành lựa chọn nguyên liệu và phương pháp sản xuất
để tạo ra phân bón lá từ rong biển là chính.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy Việt Nam có nguồn rong biển rất có giá
trị và rất nhiều nhưng chưa được sử dụng hết khả nă
ng của nó dẫn tới lãng phí
nguồn tài nguyên có thể tái tạo được và khả năng cải thiện cuộc sống của các
nông dân dọc bờ biển phía Bắc.
Kết quả nghiên cứu còn cho thấy các giá trị của rong biển trong nông
nghiệp, nó không những có khả năng làm giảm lượng phân bón vô cơ mà còn
có khả năng tăng năng suất, tăng chất lượng nông sản và giảm sử dụng thuốc
bảo vệ th
ực vật.
phần khoáng chất và kim loại do bị cuốn trôi từ đấ
t liền nên từ lâu những
động thực vật sống trong biển luôn luôn là thành phần dinh dưỡng bổ sung
cho con người và động thực vật sống trên đất liền.
Rong biển là một trong những tài nguyên sinh thái và kinh tế quan trọng
của đại dương. Chúng là những thực vật lâu đời nhất trên trái đất, có những
đặc trưng nổi trội về tính linh hoạt, dễ sống và sinh sản. Chúng sống trong
nước biển giàu chất dinh dưỡng, chúng hấp th
ụ chất dinh dưỡng tạo ra nguồn
thực phẩm, thức ăn cho gia súc, phân bón và hóa chất. Một số loại rong biển
phổ biến cho trong bảng 1.1
3
Bảng 1.1: Một số loại rong biển phổ biến [6]
STT Loài
Thực
phẩm
Thức ăn
gia súc
Công
nghiệp
Dược
phẩm
Phân
bón
1 Ulva fasciata + + - + -
2 Enteromorpha
compressa
+ + - + -
3 Monostroma
14 Padina
tetrastromatica
- - + - +
15 Sargassum
cinereum
- - + + +
16 Sargassum
ilicifolium
- + + + +
17 Laminaria digita - - + +
18 Macrocystis - - + + +
4
pyrifera
19 Porphyra
vietnamensis
+ + - - -
20 Amphiroa
fragilissima
+ - - - -
21 Jania adhaerens - - - + -
22 Gracillaria
corticata
+ + + - -
23 Hypnea
musciformis
+ + + - -
24 Centroceros
clavulatum
+ - + - -
I.1 Giá trị dinh dưỡng của rong biển
Châu Á và Thái Bình Dương có truyền thống dùng rong biển như loại rau,
trong khi đó ở các nước phương Tây sử dụng rong biển chủ yếu làm keo
(alginate, carrageenan và agar).
Rong biển chứa lượng lớn các polysaccharide, đáng chú ý là cấu trúc thành
tế bào polysaccharide được chiết xuất công nghiệp hydrocolloid (một chất tạo
thành keo trong nước): alginate từ các loại tảo nâu, carrageenan và agar từ các
loại tảo đỏ. Các polysaccharide ngắn hơn được tìm thấy trong các thành tế
bào: fucoidan (polysaccharide sunphat) (t
ừ các loại tảo nâu), xylan (phức
polysaccharide) (từ một số tảo đỏ và tảo lam), ulvan (một dạng
polysaccharide) trong tảo lam.
Rong biển cũng chứa các polysaccharide khác, nhất là laminarin (β-1,3-
glucan) trong tảo nâu và tinh bột floridean (amylopectin giống như glucan)
trong tảo đỏ. Khi tiếp xúc với vi khuẩn đường ruột hầu hết các polysaccharide
(agar, carrageenan, ulvan và fucoidan) không được tiêu hóa, do đó có thể
được coi như thực phẩm dạng sơ. Các polysaccharide hòa tan và không hòa
tan gắn với các ảnh hưởng sinh lý khác nhau. Nhiều loại polysaccharide dạ
ng
hòa tan (pectins, guar gum,…) liên quan với các ảnh hưởng làm giảm
cholesterol và glucoza đường huyết. Trái lại các loại polysaccharide dạng
không hòa tan (cellulose) liên quan chủ yếu tới việc giảm thời gian chuyển
hóa trong bộ máy tiêu hóa. Trong các loại polysaccharide, fucoidan được
nghiên cứu và cho kết quả về hoạt tính sinh học thú vị (chống nghẽn mạch,
chống đông, chống ung thư, chống virus, chống tác nhân phụ, chống viêm ),
những thuộc tính này đã mở ra một lĩnh vực ứng dụng đầ
y tiềm năng trong y
học.
Các chất khoáng
Rong biển được khai thác từ biển có lượng khoáng chất rất phong phú về
dịch, viêm nhiễm và các bệnh về máu.
Chất dinh dưỡng vi lượng, các vitamin
- Vitamin B12
Rong biển là một nguồn vitamin nhóm B trong đó B12 và B6 là chính.
- Vitamin C
Rong biển cung cấp một nguồn vitamin C quý, giới hạn vitamin C trung
bình 500-3000mg/kg chất khô đối với tảo lam và tảo nâu (giới hạn này so
sánh với parsley, blackcurrant và pepper) trong khi đó lượng vitamin C chứa
trong tảo đỏ khoảng 100 - 800mg/kg.
- Vitamin E
Do hoạt tính chống ô xi hóa, vitamin E ngăn chặn sự ôxi hóa. Tảo nâu
chứa hàm lượng vitamin E cao hơn tảo lam và tả
o đỏ. Trong số các tảo nâu,
Fucaceae, Ascophyllum và Fucussp được quan sát có hàm lượng vitamin E
cao nhất, chứa khoảng 200 - 600 mg tocopherol/kg chất khô. Tảo nâu chứa
anpha, beta, gamma tocopherol trong khi đó tảo lam và tảo đỏ chỉ chứa anpha
tocopherol.
7
- Polyphenol
Algal polyphenols còn gọi là phlorotannin, khác với các polyphenol của
các cây trồng trên cạn bắt nguồn từ gallic và a-xít ellagic, trong khi algal
polyphenol bắt nguồn từ những phlorogluxinol đơn vị (1, 3, 5 -
trihydroxybenzine). Phlorotannin có cấu tạo phân tử phức tạp (hỗn tạp về cấu
trúc và độ polyme hóa) cung cấp phạm vi rộng các hoạt tính sinh học tiềm
tàng. Thành phần cao nhất được tìm thấy trong rong biển nâu, phlorotanin từ
5 - 15% trọng lượng khô. Hoạt tính chống oxi hóa của polyphenols được chiết
từ rong biển nâu và đỏ
đã được chứng minh bằng các thử nghiệm.
- Caroten
cacbonhydrat
- - - - 40 44,4 42-46
Axit Alginic 15-30 20-45 21-42 0 0 0 0
Xylan 0 0 0 29-45 0 0 0
Laminaran 0-10 0-18 0-34 0 0 0 0
8
Mannitol 5-10 4-16 4-13 0 0 0 0
Fucoidan 4-10 2-4 nd 0 0 0 0
Floridoside 0 0 0 2-20 nd nd 0
Cacbonhydrat
khác
c. 10 1-2 1-2 nd nd nd nd
Protein 5-10 8-15 9-18 8-25 33-47 43,6 15-25
Chất béo 2-7 1-2 1-2 0,3-0,8 0,7 2,1 0,6-0,7
Tanin 2-10 c. 1 0,5-6,0 nd nd nd nd
Kali 2-3 1,3-3,8 nd 7-9 3,3 2,4 0,7
Natri 3-4 0,9-2,2 nd 2,0-2,5 nd 0,6 3,3
Magie 0,5-0,9 0,5-0,8 nd 0,4-0,5 2,0 nd nd
Iot
0,01-
0,1
0,3-1,1 0,05
0,01-
0,1
0,0005 nd nd
Tất cả các số liệu được tính theo g/100g chất khô, những số liệu không có
sẵn ghi “nd”. Liên quan đến hàm lượng protein quy ước hệ số chuyển đổi
tổng nitơ thành protein là 6,25.
I.3 Ích lợi của rong biển cho cây trồng
ư là một chất kích thích sinh học.
Chiết xuất của rong biển chứa các chất điều tiết sinh trưởng tự nhiên
(PGR), kiểm soát sự tăng trưởng và phát triển cấu trúc của cây. Chất điều tiết
sinh trưởng cây chính là những chất kích thích tăng trưởng, kích tố phân bào
cytokinin, indole và hooc môn. PGR trong rong biển với lượng rất nhỏ tính
bằng phần triệu và chỉ cần một lượng rất nhỏ để đi
ều tiết sinh trưởng.
- Hợp chất indole giúp cho sự phát triển của rễ và chồi cây.
- Cytokinin là hooc môn thúc đẩy tăng trưởng thông qua việc tăng nhanh
quá trình phân chia tế bào, chiết xuất của rong biển có giá trị trong việc nuôi
cấy mô. Khi chúng được ứng dụng cho các tán lá, kích thích sự quang hợp
giúp lá cây xanh lâu hơn. Vì vậy, lá cây giữ màu xanh lâu hơn. Các cytokinin
trong chiết xuất rong biển là nhân tố chính trong việc thúc đẩy sự kết trái và
giảm bớt việc rụng quả sớm khi sử d
ụng ở táo và đào.
- Auxin (chất kích thích tăng trưởng) cũng là một loại hooc môn tồn tại ở
rễ và thân cây trong quá trình phân chia tế bào. Chúng di chuyển tới những
khu vực kéo dài tế bào làm cho thành tế bào căng ra. Chất kích thích tăng
trưởng giúp cho rau, quả thời gian bảo quản tự nhiên dài hơn. Điều này được
biết như một sự làm chậm quá trình lão hóa: việc phân hủy tế bào và mô liên
kết dẫn đến thối rữa.
- Tă
ng khả năng chịu lạnh: Kết quả thí nghiệm sử dụng rong biển trên cây
cà chua cho thấy chúng có thể sống ở nhiệt độ dưới 29
0
C và số lượng cây
sống khá nhiều. Nhiều cây hàng năm có khả năng chịu lạnh như cây thuốc lá,
alyssum và cỏ roi ngựa có thể chịu được sự đông giá khắc nghiệt và giữ được
màu xanh lá cây và hoa.
10
trọng trong phát triển rễ cây và hấp thụ chất dinh dưỡng trong cây.
Threonine
Threonine làm tăng khả năng chịu sâu bệnh và làm tăng quá trình tạo
humic trong đất.
Alanine
Alanine làm tăng quá trình tổng hợp chất diệp lục, điều chỉnh quá trình
đóng mở khí khổng, tăng sức chịu hạn của cây. Alanine đóng vai trò rất quan
11
trọng trong quá trình phân giải các hóc môn sinh trưởng và làm tăng khả năng
chống chịu với vi rút.
Arginine
Arginine làm tăng quá trình phát triển rễ, quá trình tổng hợp polyamin và
khả năng chịu mặn của cây, tạo khả năng ra nhiều hoa và quả.
Tyrosine
Tyrosine làm tăng khả năng chịu hạn và tăng hiệu quả thụ phấn.
Valine
Valine làm tăng quá trình nảy mầm của hạt và khả năng chịu dựng sự biến
đổi c
ủa thời tiết
Methionine
Methionine làm tăng quá trình phát triển của rễ, điều chỉnh sự đóng mở của
khí khổng, làm tăng quá trình thụ phấn, là dẫn xuất để tạo ra ethylene - một
hóc môn sinh trưởng và làm rụng lá cây.
Phenylalanine
Phenylalanine làm tăng quá trình tạo ra các chất đề kháng và tạo ra lignin
(lignin là chất dẫn xuất tạo ra các axít amin, tạo ra màu và mùi cho hoa, quả
như cà chua….).
Isoleucine và Leucine
Các axít amin này làm tăng khả năng chịu muối, tăng khả nă
mầm của hạt.
I.4 Sản phẩm phân bón từ chất chiết xuất rong biển ở nước ngoài và ở
Việt Nam
Rong biển chứa rất nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng. Trong
quá trình canh tác nông nghiệ
p trước kia rong biển thường được sử dụng dưới
dạng bột nghiền, nhưng hiệu quả sử dụng không cao do vậy ít được chú ý.
Khi khoa học phát triển, kỹ thuật tách chiết các chất dinh duỡng trong rong
biển phát triển, việc sử dụng rong biển làm chất dinh dưỡng cho cây trồng
tăng lên nhiều. Tuy vậy, do các thành phần dinh dưỡng chính như N, P và K
không nhiều, đặc biệt là các vi lượng kim loại không đủ do vậy khi sản xuấ
t
phân bón cho cây trồng người ta thường sử dụng thêm vi lượng kim loại và sử
dụng đồng thời với các chất dinh dưỡng chiết xuất bằng phương pháp thủy
phân các chất giầu protein và khoáng chất, vitamin khác như cá biển, cám, đỗ
tương. Các sản phẩm phân bón sử dụng dung dịch chiết xuất từ rong biển làm
1 trong các nguyên liệu chính thường được sản xuất ra dưới dạng khô bao
gồm dạng bột và hạt như phân bón Alga 600, nh
ưng phần lớn ở dạng lỏng và
dùng chính để phun qua lá. Trên thị trường phân bón thế giới đã xuất hiện
phân bón lỏng hữu cơ sản xuất từ các nguyên liệu chính là rong biển, cá biển
và nhiều loại đã được cấp chứng chỉ để sử dụng làm phân bón trong nông
nghiệp hữu cơ.
Các công ty trên thế giới sử dụng rong biển làm phân bón lá là:
13
- Marine Bio Product: sản xuất phân bón lỏng; bột rong biển khô và phân bón
hữu cơ vê viên.
- Công ty Ecplaza sản xuất phân bón lỏng từ rong biển.
- Công ty BioGrow Endo- Plus sản xuất phân bón bột rong biển hòa tan.
Trồng rong biển ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 1990. Rong biển có
nhiều loài nhưng phổ biến nhất là loài Glacilaria, mọc và phát triển tự nhiên ở
các vùng ven biển phía bắc, đáng kể nhất là ở Đình Vũ, Hải phòng. Hiện nay,
14
rong biển loại này được nuôi trồng rất phổ biến trong các đầm nuôi cá biển,
tôm biển (để làm sạch nước và làm thức ăn cho hải sản) ở các tỉnh Thái Bình,
Ninh Bình, Thanh Hóa và mọc tự nhiên trong các đầm chứa nước biển để làm
muối ở Nam Định. Loài thứ hai được nuôi trồng nhiều là Kapaphycus ở các
tỉnh miền Nam Trung Bộ như Ninh Thuận, Phú Yên, Khánh Hòa.
Kapaphycus là giống được nhập vào Việt Nam từ năm 1993 thông qua Chi
nhánh viện vật li
ệu Nha Trang, Viện sinh học Kochi, Nhật và Viện sinh học
Mỹ.
Tổng sản lượng năm 2005 là 20.260 tấn sản phẩm khô, trong đó có 16.665
tấn Glacilaria và 3.959 tấn Kapaphycus.
Kapaphycus đang phát triển nhanh chóng kể từ năm 2000, sản lượng của
Ninh Thuận đã tăng 1650 lần tại Ninh Thuận kể từ năm 2000 và năm 2005 vì
loài rong biển này được xuất khẩu và sử dụng làm thức ăn bổ dưỡng cho
người.
Gracilaria ở
ngoài các tỉnh phía bắc không được thuận lợi vì sử dụng chủ
yếu để sản xuất agar trong nước và xuất khẩu sang Trung Quốc. Mấy năm gần
đây, việc xuất khẩu gần như không đáng kể, nhưng vì loại rong này được
trồng để phục vụ cho cả việc nuôi hải sản do vậy nó vẫn phát triển nhưng
không mạnh và không có qui hoạch phát triển rõ ràng.
Gracilaria sống trong vùng nước lợ v
ới độ mặn là 1,5 - 3,0%, thường ở các
cửa sông. Các trại trồng rong biển hoặc nuôi hải sản thường ở các cửa sông và
bãi triều. Đầu vào chính cho trồng rong biển là nước lợ thông qua trao đổi
Thị trường tiêu thụ: rong biển là một mặt hàng có giá trị kinh tế và cải
thiện môi trường cao (rong biển được nuôi trồng trong các đầm nuôi hải sản là
chủ y
ếu để làm sạch nước và cung cấp ô xi cho nước). Glacilaria được biết
nhiều nhất và được trồng nhiều nhất chủ yếu để đáp ứng nhu cầu của các nhà
máy sản xuất sản phẩm Aga- Aga, thuốc, mỹ phẩm, bánh kẹo (chưa dùng cho
sản xuất phân bón) và xuất khẩu với một lượng không nhiều và không ổn định
sang Trung Quốc (có một năm các thương gia Trung Quốc thu mua rong biển
tươi rất nhi
ều, nhưng chỉ được 1 năm). Thị trường tiêu thụ của Kapaphycus là
Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản và Mỹ.
Giá của rong biển khô (chưa qua rửa muối): tại các tỉnh Thái Bình, Nam
Định, Thanh Hóa trung bình vào khoảng 9.000 đ/kg, 8-9 kg rong biển tươi
được 1 kg rong biển khô.
Về kinh tế và xã hội
Trồng rong biển không yêu cầu vốn lớn và dễ nuôi, đa số vùng nuôi hải
sản đều phải nuôi đồng thời rong biển. Tuy nhiên, để có thu ho
ạch tốt cần
phải có rong biển chất lượng cao, như vậy phải thu hoạch đúng lúc, có chỗ
phơi, nơi giữ và đặc biệt là khâu làm sạch đất cát và muối.
Trồng rong biển nói chung không đòi hỏi lao động tay nghề cao, nếu được
coi trọng sẽ là một cách giúp đỡ người nghèo có thêm thu nhập (về khía cạnh
pháp lý là quyền sử dụng mặt nước ven biển).
16
Rong biển nếu được bán và được sử dụng đúng với tiềm năng dinh dưỡng
của nó thì sẽ mang lại lợi ích kinh tế cao. Sử dụng rong biển sản xuất phân
bón lá là một ví dụ về việc làm tăng giá trị của rong biển.
Tác động tới môi trường
Rong biển là một phần quan trọng của hệ sinh thái biển, kinh tế biển.
quan trọng trong việc định hướng nghiên cứu sản xuất và sử dụng rong biển
trong nông nghiệp. Đây là công việc hết sức quan trọng vì các tài liệu nghiên
cứu về rong biển ở Việt Nam không có do việc sử dụng rong biển chủ yếu tập
17
trung vào sản xuất agar, việc sử dụng rong biển làm phân bón cũng chỉ hạn
chế ở một số vùng ven biển giống như đối với phân xanh, việc sử dụng mang
tính tự phát và xuất phát từ việc sử dụng thấy có hiệu quả. Chính vì vậy các
nghiên cứu về thành phần rong biển như là một nguyên liệu để sản xuất phân
bón hữu cơ hoàn toàn không có. Rong biển, một phế thải của ngành nuôi
trồng thủy sản ven biển, nếu biết sử dụng một cách hợp lý sẽ mang lại những
ích lợi lớn cho ngành trồng trọt vì cây trồng sẽ được cung cấp không chỉ
NPK, mà phải qua quá trình quang hợp mới trở thành thức ăn cho cây trồng
thì các thành phần axít amin, các khoáng chất, các vitamin có trong rong biển
sau khi chế biến bằng phương pháp thủy phân trở thành thức ăn tổng hợp mà
cây trồng sử dụng được ngay.
- Việt Nam có 2 lo
ại rong biển phổ biến, trong đó phổ biến nhất là rong có tên
Việt Nam là rong câu (tên quốc tế là Glacilaria), rong câu sống và phát triển ở
vùng ven biển phía Bắc, nơi có độ mặn thấp, trung bình vào khoảng 2- 3%
muối như Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Thanh
Hóa. Rong câu được các nhà máy chế biến thành thạch dùng trong công
nghiệp bánh kẹo, phần còn lại, chủ yếu bán sang Trung quốc và Nhật Bản. Ở
phía Nam, Viện nghiên cứu hải sản Nha Trang và Nhật đưa loại rong biể
n
Kapaphycus, loại này được nuôi trồng ở các vùng nước sạch để làm thực
phẩm và bán sang Nhật Bản. Về sản lượng, hiện nay chỉ có Công ty cổ phần
Kỹ thuật Môi trường mua để sản xuất phân bón lá với số lượng không đáng kể
so với khả năng cung cấp của 1 nơi sản xuất. Năng suất hiện nay ở các vùng
nuôi cá trong khoảng 1,2-1,5 tấn rong biển tươi/sào/năm. Thời gian thu ho
amin tổng số) bằng ph
ương pháp thủy phân bằng enzyme mà công ty ETC
đang sử dụng).
Để đề xuất thành phần phân bón lá mới dựa trên rong biển là nguyên liệu
chính phương pháp được lựa chọn như sau:
- Dựa trên kết quả nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng tối thiểu cho cây
trồng để từ đó đề xuất thành phần và sau đó là qui trình công nghệ phối liệu
phù hợp.
- Dựa trên đánh giá các thành phần dinh dưỡng của các hãng sản xuất phân
bón lá hữ
u cơ có tiếng trên thế giới.
- Dựa trên khả năng công nghệ và nguyên liệu trong nước.
II.2 Quy trình thủy phân rong biển
II.2.1 Mô tả quá trình thủy phân rong biển
Qui trình sản xuất dung dịch thủy phân từ rong biển cho trong hình 2
19
H×nh 2: Qui tr×nh c«ng nghÖ SX dung dÞch thñy ph©n tõ rong biÓn
Nước, KOH
Enzyme
Gia nhiệt
Nước
Bã rong
H
3
PO
4
Benzoat
20
sàn cách nền nhà kho khoảng 100 ÷ 150mm để rong biển khỏi bị ẩm mốc,
nhất là vào mùa mưa, độ ẩm lớn.
5. Rong biển trước khi đưa sang sơ chế phải kiểm tra lần nữa để đảm bảo loại
bỏ hết các tạp chất còn sót lại. Rong biển được sơ chế nghiền nhỏ đạt kích
thước ≤ 5 mm bằng máy nghiền búa trước khi đưa sang công đoạn thuỷ phân.
B. Quy trình thủ
y phân rong biển
Công ty cổ phần Kỹ thuật Môi trường ETC đã sử dụng phương pháp thủy
phân enzyme để thủy phân các nguyên liệu như rong biển, cá biển, da động
vật để sản xuất phân bón lá ước mơ nhà nông. Qui trình thủy phân khác nhau
được sử dụng để thủy phân các nguyên liệu khác nhau, dưới đây là qui trình
được ETC sử dụng để thủy phân các mẫu nguyên liệu rong biển của nhiệm
vụ.
1. Rong biển khô sau khi được nghiền nhỏ
≤ 5mm và KOH lần lượt cho vào
nồi nấu thiết bị thủy phân, sau đó cho nước vào thiết bị thí nghiệm tương ứng
với lượng rong biển đưa vào.
2. Đầu tiên đóng công tắc điện cho hệ thống thiết bị thủy phân lần lượt khởi
6. Khi điều chỉnh pH của dung dịch đạt pH = 6 tiếp tục duy trì ở 45
o
C thêm từ
20 ÷ 30 phút nữa thì cho ngừng nấu, tắt công tắc cấp nhiệt và điều chỉnh nhiệt
độ, còn máy khuấy vẫn cho hoạt động liên tục cho đến khi tháo hết dung dịch
ở trong nồi ra.