c
BỘ CÔNG THƯƠNG
TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM
VIỆN NGHIÊN CỨU CÂY NGUYÊN LIỆU GIẤY
BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI
CẤP BỘ NĂM 2010
TÊN ĐỀ TÀI
:
NGHIÊN CỨU TRỒNG RỪNG HỖN GIAO MỘT SỐ
LOÀI CÂY NGUYÊN LIỆU GIẤY NHẰM NÂNG CAO
NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG RỪNG TRỒNG Cơ quan chủ quản : BỘ CÔNG THƯƠNG
Cơ quan chủ trì : VIỆN NGHIÊN CỨU CÂY NGUYÊN LIỆU GIẤY
Chủ nhiệm đề tài : Ks. VŨ QUỐC PHÒNG
8682
PHÚ THỌ - 2010
i
ii
2.2.3. Nghiên cứu thiết lập 04ha rừng hỗn giao theo các công thức hỗn giao 22
2.2.4. Đánh giá sinh trưởng, chất lượng của từng loài và các công thức hỗn giao. 23
2.2.4.1. Đối với loài Bạch đàn (Eucalyptus urophylla). 23
2.2.4.2. Đối với loài Keo tai tượng (Acacia mangium). 29
2.2.4.3. Đối với Keo lai (Acacia hybrid) 33
2.2.4.4. Đánh giá sinh trưởng và chất lượng của các công thức 38
2.2.5. Đánh giá tỷ lệ gãy, đổ của cây Keo lai theo các công thức trồng hỗn giao 40
2.2.6. So sánh năng suất và hiệu quả kinh tế của các kiểu rừng h
ỗn giao và các
công thức hỗn giao. 41
PHẦN III – KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
3.1. Kết luận 44
3.2. Kiến nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
PHỤ LỤC
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TƯ LIỆU
8
: Keo lai + Keo hạt hỗn giao theo băng
Đ : Đỉnh
D
0.0
(cm) : Đường kính gốc
df : Bậc tự do
D
t
(m) : Đường kính tán
E
ct
: Hiệu quả tổng hợp của các chỉ tiêu sinh trưởng và chất lượng
E
CT
: Hiệu quả tổng hợp của công thức
H : Keo hạt
HG : Hỗn giao
H
vn
(m) : Chiều cao vút ngọn
KL2 : Keo lai dòng KL2
L : Keo lai
S : Sai tiêu chuẩn
S (%) : Hệ số biến động
SC : Sườn chân
SĐ : Sườn đỉnh
Sig : Mức xác suất
SXKD : Sản xuất kinh doanh
SM : Trung bình bình phương
v
Danh mục các bảng
Bảng 01: Các yếu tố tự nhiên khu vực thiết lập thí nghiệm tại Thanh sơn-Phú Thọ 20
Bảng 02: Kết quả phân tích đất khu vực thiết lập thí nghiệm 21
Bảng 03: Ảnh hưởng của công thức đến tỷ lệ sống và sinh trưởng D
0.0
của Bạch đàn. 24
Bảng 04: Ảnh hưởng của công thức đến sinh trưởng chiều cao vút ngọn của Bạch đàn. 26
Bảng 05: Ảnh hưởng của các công thức đến chất lượng rừng trồng Bạch đàn 27
Bảng 06: Ảnh hưởng của công thức đến tỷ lệ sống và sinh trưởng D
0.0
của Keo tai tượng 29
Bảng 07: Ảnh hưởng của công thức đến sinh trưởng chiều cao vút ngọn của Keo tai tượng 31
Bảng 08: Ảnh hưởng của các công thức đến chất lượng rừng trồng Keo tai tượng 32
Bảng 09: Ảnh hưởng của công thức đến tỷ lệ sống và sinh trưởng D
0.0
nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng”.
Năm 2010, trên cơ sở tìm hiểu đặc điểm sinh thái loài, điều kiện lập địa,
địa hình thực tế
, đề tài đã lựa chọn và thiết lập được 04 ha rừng trồng hỗn giao
cho 3 loài cây nguyên liệu giấy chính là Keo lai (Dòng KL2), Keo tai tượng và
Bạch đàn mô U6.
- Trong đó các loài trồng hỗn giao với nhau là:
¾ Keo lai + Keo tai tượng
¾ Keo lai + Bạch đàn
- Ngoài ra, đề tài còn bố trí các công thức Bạch đàn thuần loài, Keo
tai tượng thuần loài, Keo lai thuần loài làm đối chứng để so sánh.
Đề tài đã đạt được các mục tiêu và nội dung năm 2010 theo đề cươ
ng đã
được phê duyệt. Đặc biệt 04 ha rừng thí nghiệm được thiết kế trên địa hình phức
tạp, điều kiện đi lại khó khăn nhưng thí nghiệm đã được thực hiện theo đúng quy
trình trồng rừng sản xuất kinh doanh nguyên liệu giấy hiện hành của Tổng Công
ty giấy Việt Nam.
Giai đoạn đầu đề tài mới chỉ dừng lại ở việc lựa ch
ọn địa điểm, bố trí thí
nghiệm, lấy mẫu phân tích đất và bước đầu đánh giá sinh trưởng của các công
thức trồng rừng trong năm thứ nhất. Các nội dung và kết quả cụ thể được trình
bày ở phần báo cáo chi tiết.
1
PHẦN I – TỔNG QUAN
1.1.Cơsở pháp lý
Đề tài "Nghiên cứu trồng rừng hỗn giao một số loài cây nguyên liệu
giấy nhằm nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng” được thực hiện dựa
2
Việc nghiên cứu tìm ra phương thức trồng rừng hỗn giao các loài cây
nguyên liệu giấy với nhau sẽ là giải pháp hữu hiệu cả về phát triển bền vững, đa
dạng sản phẩm, nâng cao năng xuất, chất lượng rừng trồng và đảm bảo có nguồn
nguyên liệu lâu dài cho sản xuất giấy.
Từ những lý do trên, Bộ Công Thương đã cho phép triển khai đề tài:
“Nghiên cứu trồng rừng hỗn giao mộ
t số loài cây nguyên liệu giấy nhằm nâng
cao năng suất và chất lượng rừng trồng”.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
1.3.1. Mục tiêu chung
Xác định được kiểu rừng và công thức trồng hỗn giao thích hợp đem lại
năng suất và chất lượng rừng trồng. Hạn chế được sự gãy, đổ của cây Keo lai.
1.3.2. Mục tiêu cụ thể
1.3.2.1. Mục tiêu kinh tế - xã hội
Xác định được công thức trồng rừng h
ỗn giao thích hợp nhất mang lại
hiệu quả kinh tế cho người dân và các Công ty trồng rừng nguyên liệu giấy.
1.3.2.2. Mục tiêu khoa học công nghệ
Xác định được phương thức trồng rừng nguyên liệu giấy bền vững về mặt
môi trường, năng suất và chất lượng thân cây cao. Góp phần cải tạo đất và hạn
chế sự đổ gãy của cây do gió và bão.
1.3.3. Mục tiêu năm 2010
- Thiết lập được 04 ha r
ừng trồng hỗn giao và thuần loài cho 3 loài cây Keo lai,
Keo tai tượng và Bạch đàn urophylla.
- Chăm sóc và bảo vệ tốt 04 ha rừng thí nghiệm.
- Bước đầu đánh giá sinh trưởng các công thức trồng rừng năm thứ nhất.
Huỳnh Đức Nhân 2001]).
Một vài chỉ số cạ
nh tranh khác nhau thường dùng trong trồng rừng độc
canh và rừng hỗn loài được đưa ra qua công trình nghiên cứu của Biging và
4
Dobbertin (1992), Burton (1993) và Moravie và cộng sự (1999). Các chỉ số cạnh
tranh này có thể được đưa ra dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng thường được
tính bằng tính đồng nhất và kích cỡ (chiều cao hoặc đường kính) của một vài
cây gần nhất xung quanh cây mục đích. Các phương trình hồi quy sau đó có thể
được phát triển kết hợp với tăng trưởng của cây mục đích của một loài cụ thể
trong rừng trồng theo mứ
c độ cạnh tranh (như đã đo bằng CI) theo kinh nghiệm
(Hùynh Đức Nhân, 2001).
Nghiên cứu sinh trưởng từ một số thí nghiệm đã cho thấy việc lựa chọn
loài cây phối hợp có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của trồng rừng hỗn
giao trong sản xuất gỗ. Những điều tra của Shilling (1925) và Buse (1931) ở
Trung Âu đã chỉ ra rằng sản lượng thể tích của các quần thụ Vân sam và Thông
Scots v
ượt sản lượng của chúng trong các quần thụ thuần loài ( Nguyễn Đức
Thế, 2007 [trích Huỳnh Đức Nhân 2001]). Jonsson (1962) đã thấy rằng trên các
địa điểm trung gian, rừng hỗn giao của Vân sam (Abies ) và Thông Scots (Pinus.
sylvestris) sinh trưởng tốt hơn, cho sản lượng nhiều hơn khi trồng riêng biệt[17].
Kennel (1965) cũng cho thấy ở Bayern-Đức, Vân sam trồng hỗn giao với Sồi có
sản lượng cao hơn trồng thuần loài, nhưng mặt khác S
ồi lại mọc tốt hơn trong
các quần thụ thuần loài. Hỗn giao của loài Bạch dương (Bulô) và Vân sam nâng
cao sản lượng lên 135-160% (Nguyễn Đức Thế, 2007 [trích Huỳnh Đức Nhân
hơn dưới Albizia, và (3) sự dành được nhiều ánh sáng hơn và sự sử dụng ánh
sáng hiệu quả trong các quần thụ hỗn giao của Binkley.D và cộng sự,1992 [19]).
Ba kiểu rừng trồng, mỗi kiểu (r
ừng trồng) là hỗn giao của 4 loài cây bản địa có
sự chịu bóng khác nhau trong vùng đất thấp ẩm ướt của Costa Rica cho thấy
rằng từ 2-4 năm tuổi, đường kính ngang ngực trong các quần thụ hỗn giao là lớn
hơn trong các quần thụ thuần loài của những loài mọc nhanh (Hagger.J and
J.Ewel,1997 dẫn trong Nguyễn Đức Thế, 2007 [trích Huỳnh Đức Nhân 2001]).
Thiệt hại do sâu bệnh cũng ít nghiêm trọng trong rừng trồng hỗn giao đối với 3
trong số
12 loài được kiểm tra và giá thành trồng rừng đối với các loài mọc chậm
trong trồng rừng hỗn loài thấp hơn trong trồng thuần loài, rừng trồng hỗn loài có
sản lượng tương đối cao, cộng với lợi thế các loài khác có giá trị kinh tế cao.
Một nghiên cứu của Haggar.J and J.Ewel năm 1995 và năm 1997 ở vùng đất
thấp thuộc vùng Đại Tây Dương của Costa Rica chỉ ra rằng thông thường tăng
trưởng của loài Hyeronima alchorneoides và Cordia alliodora
trong rừng trồng
hỗn loài nhanh hơn trong các quần thụ thuần . Điều đó có thể là do sự khác nhau
trong hình học hệ thống rễ và tán cho phép phối hợp loài trong không gian một
cách hiệu quả (Nguyễn Đức Thế, 2007 [trích Huỳnh Đức Nhân 2001]). Haggar
và Ewel, 1995 đã nhận định rằng tăng trưởng của các cây cá thể của Cordia
alliodora ở Costa Rica trong rừng hỗn loài nhanh hơn trong các quần thụ thuần
loài (7,9m trong hỗn giao và 4,9m trong thuần loài ở 2 năm tu
ổi). Parrotta (1999)
6
đã nhận định rằng ở 4 năm tuổi cả 2 loài Eucalyptus robusta và Casuarina trong
rừng hỗn loài với tỉ lệ 50/50 cao hơn đáng kể so với các quần thụ đơn loài của
7
bất kì một dấu hiệu nào của sự tăng trưởng được tăng lên trong hỗn giao của
Pinus echinata và Pinus strobus và Liliodendron tulipifera ở các quần thụ 25
năm tuổi [22]. Clatterbuck, Oliver và Burkhardt ,1987 đã báo cáo rằng Populus
deltoides đã chết và Quercus falcata đã bị kìm hãm bởi Platanus occidentalis ở
bên cạnh[23].
1.5.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam là một trong các quốc gia nằm trong vùng nhiệt đới, trồng rừng
hỗn giao đã được Chính phủ, ngành Lâm nghiệ
p và các tổ chức quốc tế quan tâm
(William D. Sunderlin và Huỳnh Thu Ba, 2005). Dưới đây là một số nghiên cứu
trồng rừng hỗn giao đã được thực hiện ở nước ta.
Các công trình nghiên cứu tạo lập các lâm phần rừng trồng hỗn giao bằng
các loài cây lá rộng còn có một số công trình nghiên cứu tạo rừng hỗn loài giữa
cây lá kim và cây lá rộng, giữa các loài cây nhập nội với nhau. Năm 1986, Phùng
Ngọc Lan đã nghiên cứu thí nghiệm tạo rừng h
ỗn loài ở Núi Luốt - Xuân Mai.
Tác giả đã trồng hỗn loài Thông đuôi ngựa (Pinus massoniana Lamb) với Keo lá
tràm (Acacia auriculiformis ) và Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis) theo
tỷ lệ, mật độ, phương thức, thời điểm khác nhau. Căn cứ vào các chỉ tiêu sinh
trưởng, động thái đất, sâu bệnh hại tác giả nhận xét:
- Sau 2 năm sinh trưởng của Thông hỗn giao tốt hơn so với Thông
thuần loài. Tỷ lệ hỗn giao chư
a có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng
của thông trên các công thức thí nghiệm.
- Trong các công thức hỗn giao giun đất phát triển nhiều hơn so với
các công thức thuần loài. Điều này chứng tỏ đất đã được cải thiện.
trong những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của các
loài cây bản địa tầng dưới [4].
Một thí nghiệm khác là tr
ồng hỗn giao theo đám ở Trường Đại học Lâm
nghiệp (dẫn từ Phạm Xuân Hoàn 2004). Có 165 loài cây bản địa được gây trồng
dưới tán của thông và keo, trong đó dưới tán rừng Thông mã vĩ ( Pinus
massoniana Lamb) là 27 loài, dưới tán rừng Keo lá tràm (A. auriculiformis) là 21
loài, số còn lại được trồng dưới tán của các trạng thái hỗn giao Thông với Keo lá
tràm, Thông với Keo tai tượng, Bạch đàn Đánh giá thí nghiệm năm 2001 cho
thấy dưới tán rừng Thông, tỷ lệ sống củ
a cây bản địa là 93,2% và ở dưới tán
rừng Keo lá tràm là 91,2%. Tăng trưởng thường xuyên và tăng trưởng bình quân
9
của cây bản địa có sự phân hoá rõ ràng ở các loài. Đáng chú ý là một số loài cây
thường được đánh giá là sinh trưởng chậm như Đinh thối (F. brilletii ), Re hương
(Cinnamomum inners), Lim xanh (Erythrophloeum fordii), Sưa (Dalbergia
tonkinensis) nhưng ở giai đoạn chịu bóng dưới tán rừng thông, keo chúng lại
có tăng trưởng rất tốt. Cụ thể như Re hương có tăng trưởng đường kính gốc đạt
0,6 cm, tăng trưởng chiều cao vút ngọn
đạt 0,5 m và tăng trưởng đường kính tán
đạt 0,2 m.
Đánh giá một số mô hình trồng rừng hỗn giao ở các tỉnh phía Bắc của
Hoàng Văn Thắng và cộng sự (2005) cho thấy khi thực hiện Chương trình 327,
các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã dựa vào kinh nghiệm sản xuất và
những quy định kỹ thuật của chương trình để chọn đất, cây trồng và phương thức
trồng. Nhiều loài cây được lựa chọn sử
dụng, bao gồm cả các loài cây mọc chậm,
thấy xuất hiện sâu, bệnh hại và Lõi thọ đã bắt đầu ra hoa, có thể chuyển hoá
thành rừng giống.
Một nghiên cứu có so sánh sinh trưởng giữa rừng trồng hỗn giao và thuần
loài của Lê Trọng Cúc (1996) (dẫn từ Huỳnh Đức Nhân 2001) cho thấy tăng
trưởng của rừng hỗn giao 3 năm tuổi gi
ữa Eucalyptus camaldulensis với Acacia
auriculiformis đã không tốt hơn quần thụ thuần loài của chúng ở miền Bắc Việt
Nam, chiều cao của hỗn giao là 11,2 m so với 12,3 m ở rừng thuần loài và
đường kính là 8,3 cm so với 9,2 cm.
Nguyễn Bá Chất (1996) đã nhận thấy việc chọn loài phối hợp với Lát hoa
(Chukrasia tabularis A.Juss) đang còn khoảng trống cơ sở lý luận và thực tiễn.
Thí nghiệm trồng hỗn giao Lát hoa với các loài Trai (Garcinia fagraeo ides
A.Chew)
, Nghiến (Burretiodendron tonkinense), Bứa (Garcinia oblongifolia
Champ), … ở tuổi 5 chưa thấy có ảnh hưởng đến sinh trưởng của Lát hoa . Khi
so sánh mười tám loài cây bản địa và nhập nội (trong đó có Giổi xanh (Michelia
mediocris Dandy), Lát hoa (Chukrasia tabularis A.Juss) cùng với Bạch đàn
(urophylla) trồng thử nghiệm thuần loài tại 5 tỉnh miền núi phía Bắc ở 18 tháng
tuổi Hoàng Văn Sơn (1996) nhận thấy hầu hết các loài đều có tỷ lệ sống thấp và
chúng không thích hợp với việc phát quang thực bì khi trồng . Đánh giá kết quả
trồng rừng cây bản địa lá rộng ở Trung Trung bộ, Lại Hữu Hoàn (2004) nhận
thấy Trám trắng được trồng theo phương thức hỗn giao có tỷ lệ sống cao đạt
80%, tăng trưởng chiều cao 1,25 m/năm và đường kính 1,3 cm/năm.
Trong dự án nghiên cứu về rừng trồng hỗn giao các loài cây gỗ giá trị cao
hợp tác giữa Viện nghiên cứu cây nguyên liệ
u giấy và Trường đại học
Queensland, đã thiết lập hàng loạt các thí nghiệm hỗn giao các loài cây bản địa
11
urophylla).
- Địa điểm nghiên cứu: Đội 7- Công ty lâm nghiệp Tam Thắng trực
thuộc Tổng công ty giấy Việt Nam, là nơi có địa hình phức tạp, hàng
năm thường xuyên sảy ra gió bão, lốc xoáy.
2.1.2. Thiết kế thí nghiệm
+ Diện tích thí nghiệm: Diện tích thiết lậ
p thí nghiệm là 04 ha
+ Mật độ trồng: 1333 cây/ha (cự ly 3m x 2,5m)
+ Kích thước hố trồng: 40cm x 40cm x 40cm
+ Bố trí thí nghiệm: Các công thức được bố trí một cách ngẫu nhiên, gọi là khối
ngẫu nhiên đầy đủ (Randomizcd complete Block = RCB), lặp lại 4 lần.
¾ Chia toàn bộ lô rừng thí nghiệm thành 4 khối (4 lần lặp). Trên mỗi khối đồng
nhất về các yếu tố hướng phơi, độ dốc, thảm thực bì.
¾ Trong mỗi khố
i chia thành 8 ô thí nghiệm. Tổng cộng có 8 ô/khối x 4 khối =
32 ô thí nghiệm.
¾ Sắp xếp ngẫu nhiên 8 công thức vào 8 ô theo từng khối bằng phương pháp rút
thăm.
¾ Số cây trong mỗi ô tùy thuộc vào từng công thức thí nghiệm
13
+ Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:
Lặp
CT8
(18x7)
CT6
(10x7)
CT4
(6x7)
SĐ
Lặp
II
CT7
(10x7)
CT2
(6x7)
CT4
(6x7)
CT6
(10x7)
CT8
(18x7)
CT1
(10x7)
CT3
(6x7)
CT5
(10x7)
SC
Lặp
I
CT8
(18x7)
14
CT4. Bạch đàn thuần loài (B: Bạch đàn)
B B B B B B
B B B B B B
B B B B B B
CT5. Hỗn giao theo hàng (L: Keo lai; B: Bạch đàn)
L B L B L B
L B L B L B
L B L B L B
CT6. Hỗn giao theo cây (L: Keo lai; H: Keo hạt)
L H L H L H
H L H L H L
L H L H L H
CT7. Hỗn giao theo cây: (L: Keo lai; B: Bạch đàn)
L B L B L B
B L B L B L
L B L B L B
CT8. Hỗn giao theo băng (L: Keo lai; H: Keo hạt)
L L L H H H
L L L H H H
L L L H H H
+ Thí nghiệm trồng rừng hỗn giao Keo lai dòng KL2, Keo tai tượng, Bạch
đàn mô U6 được thực hiện theo quy trình trồng rừng SXKD nguyên liệu giấy
hiện hành của Tổng Công ty giấy Việt Nam.
15
K tổng số, P dễ tiêu, K dễ tiêu, thành phần cấp hạt.
16
2.1.4. Xử lý số liệu
Số liệu thu thập được tính toán, xử lý bằng chương trình SPSS 16.0 và
Microsoft Office Excell 2007 trên máy vi tính.
¾ Tính các đặc trưng mẫu:
- Giá trị trung bình của các chỉ tiêu nghiên cứu được tính toán theo công
thức sau:
(2.1)
- Tỷ lệ cây sống, tỷ lệ cây bị sâu và tỷ lệ sâu bệnh hại của mỗi loài được
tính toán theo công thức sau:
(2.2)
- Hệ số biến động các chỉ tiêu D
0.0
, H
vn
được tính theo công thức sau:
(2.3)
- Sai tiêu chuẩn của các chỉ tiêu sinh trưởng được tính theo công thức:
()
2
1
1
1
¾ Đối với chỉ tiêu phản ánh chất lượng rừng trồng (cấp sinh trưởng) và tỷ lệ
đổ gãy của Keo lai, đề tài sử dụng tiêu chuẩn kiểm định χ
2
. Thực hiện
17
trình lệnh: Analyze/Descriptive Statistics/crosstabs/ nhập Công thức vào
Row(s)/ nhập Cấp sinh trưởng, Đổ gãy vào Column(s)/
Statistics/Chiquere/ continue/cells/ observed/ RoW/Continue/OK. Trong
bảng kiểm định χ
2
, ở hàng “Pearson – Chiquere”: (+) nếu xác suất của χ
2
(Asymp.Sig.(2-sided)) ≥ 0,05 thì chất lượng rừng (tỷ lệ đổ gãy) giữa các
công thức là thuần nhất và ngược lại.
¾ Tính chỉ tiêu tổng hợp E
CT
bằng công thức W.P.Rola.1994.
E
CT
hoặc E
CT
(2.5) Trong đó:
- E
CT
là chỉ số hiệu quả của mô hình canh tác (công thức, loài cây)
max
1
Xj
Xij
n
∑
=
Xij
Xj
n
min1
18
Keo tai tượng (Acacia mangium Wild) là một loài cây gỗ lớn thuộc Họ
Đậu (Fabaceae), có nguồn gốc tự nhiên ở Australia (AUS), Papua New Guine
(PNG) và Indonesia (IND), phân bố chủ yếu từ 8 - 18
0
vĩ độ Nam, ở độ cao cách
mặt nước biển khoảng 300m, ở một số nơi thuộc Papua New Guinea và miền
Bắc của nước Úc nó còn xuất hiện ở độ cao khoảng 800m, nơi nguyên sản của
Keo tai tượng có lượng mưa trung bình từ 1500-3000mm/năm (John
W.Turnbull, 1986). Keo tai tượng là loài cây tiên phong, nó thường tái sinh ở nơi
đất đã bị xới sáo. Cây mọc tốt nơi đất sâu, ẩm, nhiều ánh sáng, mọc chậm và
phân cành sớm nơ
i đất cằn cỗi, có thể chịu được sương muối nhẹ. Cây Keo tai
tượng sinh trưởng nhanh, thân thẳng, rễ có nốt sần cố định đạm. Những khảo
nghiệm ở các nước Đông Nam Á cho thấy Keo tai tượng là một loài có phạm vi
phân bố rộng trên các vùng sinh thái khác nhau.