nghiên cứu tạo dòng đơn bội kép (dưa chuột, ớt) phục vụ chọn tạo giống ưu thế lai - Pdf 13

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

VIỆN NGHIÊN CỨU RAU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH TRỌNG ĐIỂM PHÁT TRIỂN VÀ ỨNG DỤNG CNSH
TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT ĐẾN NĂM 2020
*** BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU TẠO DÒNG ĐƠN BỘI KÉP (DƯA CHUỘT,
ỚT) PHỤC VỤ CHỌN TẠO GIỐNG ƯU THẾ LAI
Cơ quan chủ trì đề tài : Viện Nghiên cứu Rau quả
Chủ nhiệm đề tài : GS.TS. Trần Khắc Thi
3.1.2. Địa điểm nghiên cứu 24
3.2. Nội dung nghiên cứu 24
3.2.1. Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ tạo dòng đơn bội kép
(dưa chuột, ớt) 24
3.2.1.1. Trên cây dưa chuột 24
3.2.1.2. Trên cây ớt 30

ii
3.2.2. Ứng dụng quy trình tạo dòng đơn bội kép của một số giống lai F1
dưa chuột, ớt 34
3.2.3. Đánh giá chọn lọc cây 2n, phát triển thành dòng thuần 34
3.3. Phương pháp nghiên cứu 35
3.3.1. Bố trí thí nghiệm 35
3.3.2. Chỉ tiêu theo dõi 38
3.3.3. Thời gian thực hiện 40
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41
4.1. Kết quả nghiên cứu trên cây d
ưa chuột 41
4.1.1. Nghiên cứu xây dựng quy trình tạo cây dưa chuột đơn bội kép 41
4.1.2. Kết quả ứng dụng quy trình tạo cây dưa chuột đơn bội kép trên
một số giống dưa chuột lai F1 65
4.1.3. Kết quả đánh giá, chọn lọc cây dưa chuột đơn bội kép trong điều 68
4.2. Kết quả nghiên cứu trên cây ớt 75
4.2.1. Nghiên cứu xây dựng quy trình tạo cây ớt đơn bộ
i kép 75
4.2.2. Ứng dụng quy trình tạo dòng ớt đơn bội kép trên các giống ớt lai
F1 (Hottchili, Green F1, GK99) 96
4.2.3. Kết quả đánh giá, chọn lọc cây ớt đơn bội kép trong điều kiện
nhà lưới 99
3.3 Một số đặc điểm về quả của các tổ hợp lai ớt cay trong vụ xuân hè

NXB Nhà xuất bản
TB Trung bình
S Đường Saccarose

iv
DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Đặc điểm của một số giống dưa chuột lai F1 được chọn làm
guồn vật liệu cung cấp hoa để lấy bao phấn nuôi cấy 22
Bảng 3.2. Đặc điểm của một số giống ớt lai F1 được chọn làm nguồn vật
liệu cung cấp hoa để lấy bao phấn nuôi cấy 23
Bảng 4.1. Ảnh hưởng của nề
n môi trường dinh dưỡng cơ bản đến sự khả
năng tạo callus từ nuôi cấy in vitro bao phấn dưa chuột (sau 4
tuần) 41
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của hàm lượng đường trong môi trường nuôi cấy
bao phấn cây dưa chuột (sau 4 tuần) 42
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của kích thước nụ hoa đến khả năng tạo callus từ
nuôi cấy bao phấn cây dưa chuột (sau 4 tuầ
n) 43
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian xử lý lạnh đến khả năng
tạo callus từ nuôi cấy in vitro bao phấn cây dưa chuột (sau 6
tuần) 44
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của 2,4D đến khả năng tạo callus từ nuôi cấy in

Bảng 4.18: Ảnh hưởng của xử lý colchicine đến khả năng nhị bội hóa
dòng dưa chuột đơn bội 62
Bảng 4.19: Ảnh hưởng của αNAA đến khả năng ra rễ của chồi dưa
chuột 63
Bảng 4.20: Ảnh hưởng của IAA đến khả năng ra rễ của chồi dư
a chuột. 64
Bảng 4.21: Ảnh hưởng của IBA đến khả năng ra rễ của chồi dưa chuột. 64
Bảng 4.22: Kết quả tạo dòng dưa chuột đơn bội kép trên 3 giống
Mijabel, Ajax, Marinda 66
Bảng 4.23: Tỷ lệ sống của cây dưa chuột đơn bội kép 68
Bảng 4.24. Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng phát triển của các
dòng dưa chuột trong vụ xuân năm 2010 tại Viện Nghiên c
ứu
Rau quả. 68
Bảng 4.25. Đặc điểm sinh trưởng phát triển của các dòng dưa chuột tạo
ra từ dòng đơn bội (vụ xuân năm 2010 tại viện Nghiên cứu Rau
quả) 69

vi
Bảng 4.26. Năng suất, yếu tố cấu thành năng suất và đặc điểm quả của
các dòng dưa chuột đơn bội kép (vụ xuân năm 2010 tại viện
Nghiên cứu Rau quả) 70
Bảng 4.27. Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các THL dưa
chuột trong vụ đông 2010 tại Viện Nghiên cứu Rau quả 71
Bảng 4.28. Đặc điểm hình thái của các tổ hợp lai dưa chu
ột trong vụ
đông 2010 tại Viện Nghiên cứu Rau quả 72
Bảng 4.29. Một số đặc điểm hình thái của các tổ hợp lai dưa chuột vụ
đông 2010 tại Viện Nghiên cứu Rau quả 72
Bảng 4.30. Đặc điểm quả của các tổ hợp lai dưa chuột trong vụ đông

Bảng 4.43: Ảnh hưởng của tổ hợp GA3 + Zeatin đến sự tái sinh cây ớt.
(sau 4 tuần) 86
Bảng 4.44: Kết quả phân tích độ bội của các chồi ớt 87
Bảng 4.45: Ảnh hưởng của BAP đến khả năng nhân nhanh của cây ớt
(sau 4 tuần) 88
Bảng 4.46: Ảnh hưởng của kinetine đến khả năng nhân nhanh của cây ớ
t
tái sinh (sau 4 tuần) 90
Bảng 4.47: Ảnh hưởng của BAP phối hợp với αNAA đến khả năng
nhân nhanh của cây ớt (sau 4 tuần) 91
Bảng 4.48: Ảnh hưởng của BAP phối hợp với IBA đến khả năng nhân
nhanh của cây ớt (sau 4 tuần) 91
Bảng 4.49: Ảnh hưởng của cao nấm men và dịch chiết hữu cơ đến chất
lượng chồi
ớt (sau 4 tuần) 92
Bảng 4.50: Ảnh hưởng của xử lý Colchicines đến khả năng nhị bội hóa
dòng đơn bội 93
Bảng 4.51: Ảnh hưởng của αNAA và IBA đến khả năng ra rễ của chồi ớt 95
Bảng 4.52 : Kết quả ứng dụng quy trình tạo cây đơn bội kép trên 3 giống 96
Bảng 4.53: Tỷ lệ sống của cây đơn bội kép 99
Bảng 4.54. Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng phát triển của các
dòng ớt đơn bội kép chọn lọc 100

viii
Bảng 4.55. Chiều cao cây qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của
các dòng ớt đơn bội chọn lọc 101
Bảng 4.56. Đặc điểm hình thái thân, lá, quả của các của các dòng ớt đơn
bội kép chọn lọc 102
Bảng 4.57. Đặc điểm hình thái hoa của các dòng ớt đơn bội kép chọn lọc 103
Bảng 4.58: Năng suất và yếu tố cấu thành năng suất các dòng ớt đơn bội

năm. Một trong những nguyên nhân của sự tăng trưởng trên là tỷ lệ sử dụng
các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất, nhất là giống lai khá cao. Tuy nhiên phần
lớn các giống lai F1 được nhập hoặc do các công ty nước ngoài cung cấ
p.
Việc tạo giống trong nước, đặc biệt là nhóm rau chủ lực, có khả năng ra hoa
trong điều kiện Việt Nam thuộc các họ thực vật Cucurbitaceae và Sonalaceae
là cần thiết trong giai đoạn hiện tại và trong tương lai.
Dưa chuột và ớt cay thuộc nhóm cây rau ăn quả chủ lực ở nước ta hiện
nay. Ngoài việc đáp ứng nhu cầu trong nước ngày càng tăng , sản phẩm của
các cây này còn là ngu
ồn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu với thị trường
rộng lớn và ổn định. Hầu hết các giống dưa chuột và ớt cay hiện đang trồng
trên đất nông nghiệp tại vùng sản xuất hàng hóa tập trung ở nước ta là giống
lai F1 có nguồn gốc nước ngoài. Các giống này ngoài năng suất và độ đồng

2
đều cao, quả của các giống này còn thích hợp với thị hiếu tiêu dùng của nước
nhập khẩu. Tuy nhiên, do giá thành hạt giống cao và nhiều giống chưa qua
khảo nghiệm tính thích ứng đã ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất. Việc tạo
giống trong nước theo yêu cầu của sản xuất và phù hợp với sinh thái vùng
canh tác ngày càng trở lên cần thiết.
Bên cạnh đó, các giống lai nước ngoài được nhập nội tr
ồng liên tục qua
nhiều năm đã làm xói mòn nguồn gen các giống thuần địa phương có tính
thích ứng cao, khả năng chống chịu sâu bệnh và chất lượng thương phẩm tốt.
Một trong những khó khăn nữa của công tác tạo giống lai các đối tượng trên
hiện nay là việc tạo ra các dòng thuần bằng phương pháp truyền thống
thường tốn rất nhiều thời gian và công sức. Thông qua thụ phấn cưỡng bức và
chọn lọc liên tục cũng phải qua 7-8 thế hệ mới nhận được các dòng thuần để
đánh giá khả năng kết hợp của chúng. Tuy vậy, phương pháp này trong nhiều

chuột và ớt chưa được thực hiện ở nước ta , việc tiếp thu và vậ
n dụng các
phương pháp được triển khai có kết quả ở nước ngoài thông qua các nguồn tài
liệu đã giúp đề tài xác định các kỹ thuật cần thiết nhằm tạo khả năng phát sinh
phôi và tái sinh cây từ bao phấn có hiệu quả. 4
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Vai trò của cây đơn bội trong chọn tạo giống cây trồng.
Công tác chọn tạo giông với cây trồng tự thụ phấn trong một thời gian dài
người ta yêu cầu phải có những tái tổ hợp gen mong muốn từ các nguồn đồng
hợp tử khác nhau. Bằng phương pháp truyền thống thường phải mất 8-10 năm
để tạo ra con lai đồng hợp tử ổn định. Ở cây th
ụ phấn chéo thường gặp nhiều
khó khăn hơn để có những dòng tự phối cường lực mạnh vì hiện tượng suy


5
được tất cả những kiểu dòng đồng hợp tử trên cơ sở tái tổ hợp 7 cặp gen độc
lập thì về mặt lý thuyết cần phải có ở mức độ đơn bội 128 giao tử cái của cây
lai F1. Ở mức độ lưỡng bội để đạt được chính kết quả này cần không ít hơn
16.384 cây F2 . Khi tăng chỉ số n=10 thì những trị số tương ứng nêu ở trên sẽ
là 1024 và 1.048.576. Phép so sánh này đã chỉ ra rằng , hiệu quả của chọn
giống tổ hợp tăng hàng trăm lần trong trường hợp dùng phương pháp in vitro
tạo các dạng đơn bội trong quần thể để chuyển nó sang dạng DH bằng cách
gấp đôi số nhiễm sắc thể đơn bội, ( Trần Duy Quý, 1997) [8].
2.2. Kỹ thuật nuôi cấy bao phấn in vitro để tạo cây đơn bội.
2.2.1 Giới thiệu chung
Nuôi cấ
y bao phấn là kỹ thuật nuôi cấy in vitro bao phấn trong có chứa
các tiểu bào tử hoặc hạt phấn chưa chín trong môi trường dinh dưỡng tạo ra cây
đơn bội, là một lối thoát kỳ diệu đối với lĩnh vực ứng dụng cây đơn bội vào công
tác chọn giống cây trồng. Thông qua phương pháp này ta có thể rút ngắn thời
gian chọn giống, làm tăng hiệu quả chọn lọc, tăng tính biến dị cho chọn lọ
c và
giúp giải quyết những khó khăn trong lai xa. Các dòng thuần có thể nhanh chóng
được tạo ra từ nuôi cấy bao phấn của con lai F1 hoặc F2 trong thời gian ngắn
nhất. Sơ đồ tạo cây đơn bội từ nuôi cấy bao phấn như sau [8],[30]:
của con lai F1 hoặc F2 trong thời gian ngắn nhất.
Như vậy, phương pháp nuôi cấy bao phấn đã góp phần rút ngắn rất nhiều
thời gian chọn giống, làm tăng hiệu quả chọn lọc và giúp giải quyết vấn đề
trong lai xa. Chính vì vậy mà phương pháp này đang được áp dụng rộ
ng rãi
trong chọn tạo giống cây trồng trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả nuôi cấy bao phấn
Nhiều công trình nghiên cứu về nuôi cấy bao phấn cho chúng ta thấy
hiệu quả của nuôi cấy bao phấn nói chung và bao phấn dưa chuột nói riêng
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Điều kiện sinh lý của cây mẹ, giai đoạn phát
triển c
ủa hạt phấn, biện pháp xử lý nhiệt, đặc biệt là kiểu gen của cây cho
phấn và thành phần của môi trường dinh dưỡng [14], [20] [25], [29].

7
*. Ảnh hưởng của cây cho bao phấn.
Kiểu gen của cây cho bao phấn nuôi cấy có ảnh hưởng rất lớn đến kết
quả nuôi cấy không những trong phạm vi một chi mà còn khác nhau giữa các
giống trong một loài. Bao phấn phản ứng trong môi trường nuôi cấy là một
đặc điểm có khả năng di truyền [37], [41], [49].
Tác giả Zagorska khi nghiên cứu ảnh hưởng của kiểu gen cây cà chua
đến hiệu quả nuôi cấy bao phấn cho thấy: trong số 85 kiểu gen c
ủa các giống
được đưa vào nuôi cấy, callus chỉ được tạo ra từ bao phấn của 53 giống. Sự tái
sinh cây chỉ có được từ callus của 15 giống. Số liệu thu được ch thấy kiểu gen
ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả nuôi cấy bao phấn [40].
Kiểu gen là nguyên nhân chính và là yếu tố quyết định ảnh hưởng đến
sự hình thành callus và tái sinh cây khi nuôi cấy bao phấn. Niizeki (1983) và
Haberlebos (1985) đã chỉ ra tác động có ý nghĩa của ki
ểu gen và mối tương

trong nuôi cấy bao phấn và tạo cây đơn bội, giai
đoạn phát triển của hạt phấn có ý nghĩa quan trọng. Chẳng hạn đối với lúa các
nhà khoa học ở Viện lúa quốc tế (IRRI) đã nghiên cứu 500 bao phấn chọn từ
nhiều giống chứa hạt phấn ở các giai đoạn khác nhau, kết quả cho thấy hạt
phấn ở giai đoạn từ đơn nhân giữa đến đơn nhân muộ
n là tốt nhất (Guzman,
2000), có nghĩa là cần lấy hoa khi khoảng cách giữa tai lá cờ và lá đối diện là
2- 4cm (Zapata, 1983)[53].
Trên cây thuốc lá Reed đã xác định được giai đoạn phát triển của bao
phấn tốt nhất khi đài và tràng hoa có chiều dài tương đương nhau[42].
*. Ảnh hưởng của việc xử lý vật liệu trước khi nuôi cấy
Việc xử lý lạnh hay xử lý nhiệt đối với bao phấn hoặc cây cho bao
phấn trước khi nuôi cấy
đều có tác động đối với sự hình thành callus và tái
sinh cây, nhiệt độ tối thích phụ thuộc vào từng giống.
Điều kiện lạnh đã kích thích việc tạo callus sớm và khả năng tái sinh
cây cao, callus hình thành từ bao phấn được xử lý lạnh sẽ tạo ra nhiều cây đơn
bội và ít cây lưỡng bội hơn từ bao phấn không xử lý. Các giống khác nhau đòi
hỏi điều kiện xử lý có khác nhau, trạng thái sinh lý và giai đoạn phát triể
n của
hạt phấn cũng có ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý. Tác giả khẳng định khả năng
hình thành callus tăng lên gấp đôi khi xử lý lạnh các bao phấn chứa các bào tử

9
ở giai đoạn giữa và cuối một nhân trong 7 -14 ngày, quá 14 ngày tỷ lệ hình
thành cây xanh giảm [10].
Năm 1983 Ying đã nghiên cứu ảnh hưởng của xử lý lạnh sớm lên hiệu
quả nuôi cấy bao phấn đã cho thấy: Xử lý lạnh làm tăng tỷ lệ tạo mô sẹo được
chứng minh ở nhiều loài như thuốc lá, cà độc dược, lúa mạch và lúa nước. Tapia
và cs cũng cho là xử lý lạnh làm chậm sự lão hoá của hạ

0
C. Nhiệt độ cao hơn nhiệt
độ tối thích chính là nguyên nhân làm tăng cây bạch tạng. Chen (1983) cho
rằng nếu nhiệt độ phòng nuôi cao hơn 30
0
C thì hầu như chỉ tái sinh cây bạch
tạng. Wang và cộng sự (1974) kết luận: việc hình thành cây xanh hay cây

10
bạch tạng chủ yếu do nhiệt độ tại thời điểm bắt đầu phát triển bào tử chứ
không phải ở pha phân hoá callus, tuy nhiên quan điểm này vẫn cần phải làm
sáng tỏ thêm[50].
*. Ảnh hưởng của thành phần môi trường nuôi cấy
Môi trường nuôi cấy giữ vị trí quan trọng ảnh hưởng lớn đến hiệu quả
của nuôi cấy bao phấn, nhiều môi trường đã được xây dự
ng và sử dụng như
môi trường White (1953), môi trường Miashige và Skoog (1962), môi trường
Nitsch (1969), môi trường Gamborg (1968) Tuỳ theo từng đối tượng nuôi
cấy khác nhau những môi trường cơ bản này sẽ được cải tiến thành nhiều môi
trường khác cho phù hợp. Tuy nhiên cũng có một số quy luật chung: Các cây
hoà thảo cần nhiều auxin, đặc biệt là 2,4D ở nồng độ cao để khởi động sự
phân chia đầu tiên. Hàm lượng đường có thay đổi tuỳ đối tượng: Lúa mì 60-
120g saccaroza/l, cây họ
cà chỉ cần 20- 40g/l. Dịch chiết khoai tây, nấm men,
nước dừa, dịch thuỷ phân tỏ ra có tác dụng tốt trong nhiều môi trường nuôi
cấy bao phấn [1], [42].
Mặc dù trong các bao phấn rất giàu các chất điều hòa sinh trưởng thực
vật như auxin và giberillin nhưng số lượng và chất lượng của các hooc môn
và sự cân bằng giữa auxin – cytokinin đựơc xem là rất quan trọng để xác định
phản ứng giữa bao phấn với môi trường và thay đổi s

* Các nghiên cứu ngoài nước.
Trong nuôi cấy bao phấn tuỳ theo mỗi loại cây trồng mà thu đựơc tỷ lệ cây
đơn bội và nhị bội khác nhau, trong một vài trường hợp có thể thu được cây
có mức độ bội thể cao hơn (Chu, 1982) [21]. Các bao phấn dùng để nuôi cấy
thường được lấy từ các cây của quần thể
F1 hoặc F2 nhằm tạo ra sự đa dạng
di truyền tối đa trong quần thể những cây đơn bội được tạo thành. Nhiễm sắc
thể của cây đơn bội thông qua nuôi cấy hạt phấn F1, sau khi lưỡng bội hoá sẽ
trở thành cây lưỡng bội thuần chủng, từ các cây này sẽ tạo thành quần thể các
dòng thuần, qua đánh giá chọn lọc và cho ra giống mới [44].
Tác giả Brasiluro và cộng sự (1999) đ
ã tiến hành thí nghiệm nghiên
cứu giai đoạn phát triển của bao phấn và ảnh hưởng của xử lý tia gamma trên
bao phấn cà chua đến sự hình thành callus. Kết quả thí nghiệm cho thấy hạt

12
phấn trong tế bào phân chia tiền kỳ I sinh ra nhiều calus nhất. Bao phấn và
chiều dài nụ hoa đều có ý nghĩa quan trọng liên quan đến giai đoạn phát triển
bao phấn. Trong thí nghiệm xử lý tia gamma, các tác giả đã xử lý hạt và nụ
hoa cà chua của con lai IPA 5x Rotam4 (F2), IPA6x Rotam4 (F2) và đem cấy
trên môi trường Gresshoff và Doy (1972) có bổ sung các chất điều hoà sinh
trưởng khác nhau. Tuy nhiên, các tác giả không tìm thấy sự sai khác có ý
nghĩa đến sự hình thành callus [17] .
Đối với các cây trong họ bầu bí kỹ thuật nuôi cấy bao phấ
n để tạo cây
đơn bội cũng đã được nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu và đã thu
được những thành công nhất định. Tuy nhiên, dòng đơn bội kép được tạo ra
thông qua nuôi cấy bao phấn còn nhiều hạn chế [28], [13], [24]. Những yếu tố
như đặc tính di truyền, điều kiện trồng của cây mẹ, giai đoạn phát triển của
tiểu bào tử, xử lý nụ hoa trước khi nuôi cấy, môi trường và đ

trường có bổ sung 0,02 mg/1 TDZ, môi trường phát sinh phôi có chứa NAA
và BA đều có kết quả đối với cả dưa chuột và bí xanh [28].
Năm 1974 Eun và cộng sự khi nuôi cấy bao phấn dưa chuột đã phát
hiện calus phát triển từ bao phấn sau khi nuôi cấy 7 ngày trên môi trường có
bổ sung 2,4 D. Sau 30 ngày rễ và chồi sẽ xuất hiện[33].
Theo Lazarte, và Sasser, (1982) bao phấn dưa chuột được trên nuôi cấy
môi trường Nitsch và Nitsch cải tiến sau đó tạo callus trên môi trường cơ bản
MS. Phôi phát triể
n thành cây con trên môi trường Nitsch and Nitsch đặc có
chứa 20 g/lit raffinos [36].
Khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả nuôi cấy bao phấn dưa
chuột. Tác giả Suprunova và Shmykova (2008) đã nuôi cấy 10 giống (Hiziz,
Gordion, Hana, Melen, Kedet, Asak, Reisa, Tristan, Tarantutka và Rostovchanin).
Kết quả chỉ có giống Gordion có thể tạo cây đơn bội từ nuôi cấy bao phấn. Trong
số những chất điều tiết sinh trưởng được nghiên cứu, thidiazuron (TDZ) là tốt nhất
cho sự cảm ứng của bao ph
ấn với nồng độ tối ưu nhất là 0,02 mg/l. Dựa vào kết
quả nghiên cứu các tác giả khẳng định giai đoạn phát triển tốt nhất của bao phấn
để tạo cây đơn bội là tiểu bào tử đơn nhân muộn và sớm [46].
Năm 2002, Ashok Kumar và cộng sự đã tiến hành thí nghiệm trên hai
giống dưa chuột Calypso và Green Long cho thấy bao phấn dưa chuột của cả
hai giống đều thích hợp cho sự
tái sinh phôi trực tiếp và tái sinh phôi gián tiếp

14
thông qua quá trình tạo callus trên môi trường cơ bản B5có bổ sung 0,25M
saccarose và 2µM 2,4D hoặc kết hợp 2µM 2,4D + BAP 1µM. Nụ hoa trước
khi nuôi cấy đựơc xử lý lạnh 4
o
C trong 2 ngày là mức xử lý lạnh tối ưu.


15
việc sử dụng chất DAPI. ớt có đặc điểm là hạt phấn phát triển rất không đồng
đều trong bao phấn đơn. Tỷ lệ hạt phấn ở các giai đoạn khác nhau thay đổi theo
các giai đoạn nuôi cấy và tỷ lệ hạt phấn chết tăng mạnh từ ngày thứ hai sau nuôi
cấy. Kết quả cho thấy giai đoạn hạt phấn thích hợp nhất cho sự phát triển phôi có
chứ
a tỷ lệ lớn (75%) hạt phấn ở đầu giai đoạn hai nhân [30].
Tác giả Gonzalez - Garcia, Juvencio (2004) cũng nuôi cấy hạt phấn ớt
của sáu mươi cặp lai giữa loài phụ Veracruzano và giống địa phương nhằm
theo dõi sự sinh trưởng và phát triển của tiểu bào tử. Thí nghiệm được tiến
hành khi hạt phấn ở giai đoạn đơn nhân giữa tới giai đoạn hai nhân và nuôi
cấy trên môi trưòng MS gồm 6% đư
òng, 0,7% agar, pH là 5,7 có bổ sung các
chất điều tiết sinh trưởng khác nhau như 2,4D, IBA, IAA. Kết quả cho thấy,
hiệu quả của nuôi cấy bao phấn phụ thuộc rất lớn vào kiểu gen của cây cho
phấn. Sự phát sinh phôi từ tiểu bào tử tốt nhất trên môi trường chứa 0.3mg/l
BA và 2 mg/l IAA [31].
Kết quả nghiên cứu nuôi cấy bao phấn của 4 cặp lai F1 và 13 dòng
giống của ớt ngọt và ớt cay của tác giả Qin, Rotino (2002) lại cho rằng sự

phát sinh phôi chỉ xuất hiện trên môi trường chứa 0,5 mg/l 6-BAP. Có tổng số
268 phôi thu được từ 2937 bao phấn và cây đơn bội và nhị bội có tỷ lệ tương
đương nhau [32].
*. Các nghiên cứu trong nước.
Ở nước ta, công nghệ đơn bội được ứng dụng với hai mục đích chính:
- Cố định ưu thế lai thông qua việc rút ngắn thời gian tạo giống thuần
chủng bằng phương pháp nuôi cấy bao phấn con lai F1.
- T
ạo dòng thuần có những đặc tính thích nghi với thụ phấn chéo và

C trong 7 ngày cho hiệu quả tạo callus cao nhất và môi
trường tái sinh cây thích hợp cho nhiều kiểu gen là MS + 1mg/l Kinetin +
1mg/l αNAA + 1mg/l BAP [5].
Khi nuôi cấy bao phấn của các dòng bất dục đực di truyền nhân cảm ứng với
môi trường tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh kết luận điều kiện ngoại cảnh của cây
cho bao phấn ( ánh sáng, nhiệt độ, chế độ dinh dưỡng ) và đặc biệt là yếu tố mùa
vụ có ảnh hưởng rất l
ớn đến tỷ lệ tạo callus và tái sinh cây của các dòng EGMS.
Nuôi cấy các dòng lúa EGMS khi hạt phấn ở trạng thái hữu dục sẽ đem lại hiệu
quả cao hơn nhiều so với nuôi cấy ở thời điểm hạt phấn bất dục [4].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status