CÔNG TY CỔ PHẦN BÔNG MIỀN BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
KHẢO NGHIỆM MỘT SỐ GIỐNG BÔNG TRONG NƯỚC
VÀ NHẬP NỘI CÓ TRIỂN VỌNG TẠI CÁC VÙNG
TRỒNG BÔNG PHÍA BẮC
CNĐT : PHAN QUỐC HIỂN 9087
- Trồng bông xen với cao su và cây keo lai, cây cao
su và keo lai có xu hướng sinh trưởng, phát triển tốt
hơn so với cao su trồng thuần, đồng thời các chỉ tiêu
về sinh trưởng phát triển của cây bông ít bị biến động
so với trồng thuần.
- Các phương thức trồng xen có tác dụng làm giảm
sâu hại trên cây cao su, keo lai và cây bông nhưng
tỷ lệ bệnh hại lại có xu hướng t
ăng nhẹ so với trồng
thuần.
- Cây bông trồng xen trong cao su và keo lai sau khi
thu hoạch có khả năng tái sinh và tiếp tục ra hoa
đậu quả.
3
- Nghiên cứu các
phương thức trồng
bông xen với cây cao
su và cây keo lai (2 – 3
tuổi).
- Phương thức trồng xen 6 hàng bông với cao su và
trồng xen 1 hàng bông với keo lai ít ảnh hưởng đến
các chỉ tiêu năng suất của cây bông so với trồng
thuần, đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn
các phương thức trồng xen khác. MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
La:………………………………………………………………………………21
3.2.1. Ảnh hưởng của việc trồng bông xen với cây cao su đến quần
thể cỏ dại trong nương bông:……………………………………………….
23
3.2.3. Ảnh hưởng của các phương thức trồng xen đến một số chỉ tiêu
sinh trưởng của cây bông và cây cao su:………………………
24
3.2.4. Ảnh hưởng của các phương thức trồng xen đến một số loại sâu
bệnh trên cây bông và cây cao su:………………………………
26
3.2.5. Ả
nh hưởng của các phương thức trồng xen bông với cao su đến
năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất cây bông:………
30
3.2.6. Hiệu quả kinh tế của các phương thức trồng xen bông với cao
su:………………………………………………………………
32
3.2.2.7. Hiệu quả kinh tế của mô hình sử dụng phân bón cho bông tái
sinh trong trồng bông xen với cao su:………………………………
33
3.3. Kết quả nghiên cứu trồng bông xen với cây keo lai tại Lục Ngạn
– Bắc Giang:…………………………………………………
45
3.4. Quy trình kỹ thuật trồng bông xen với cây cao su và keo lai:…… 47
3.6.1 Quy trình trồng bông xen với cao su:………………………………
47
3.6.2 Phương pháp trồng bông xen với keo lai:…………………………
51
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
57
1. Kết luận:…………………………………………………………… 57
2. Đề nghị:……………………………………………………………. 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO
58
- 1 -
MỞ ĐẦU
Nhu cầu sử dụng nguyên liệu bông xơ cho công nghiệp Dệt - may hiện
nay của nước ta ngày càng lớn, trong khi việc cung cấp nguyên liệu của
Ngành bông đang ngày một khó khăn do gặp nhiều trở ngại về mở rộng diện
tích và tăng sản lượng bông.
Sản xuất bông ở khu vực phía Bắc với đặc thù trồng nhờ nước trời và
đất đồi manh mún, những nơi có điề
u kiện giao thông còn nhiều khó khăn.
Bên canh đó cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt về hiệu quả kinh tế
của các cây trồng cùng thời vụ, diện tích đất cho trồng bông có nguy cơ bị thu
hẹp do việc quy hoạch trồng một số cây công nghiệp, trong đó có cây cao su
và keo lai. Tuy nhiên, với những chính sách đầu tư hợp lý và đặc biệt nhất là
những lợi thế sẵn có của cây bông như chị
u hạn; có thể trồng xen, gối với các
cây trồng khác mà ít ảnh hưởng đến nhau; thậm chí góp phần giải quyết hiệu
bông trồng xen với cây keo lai và cây cao su.
+ Ảnh hưởng của việc trồng bông xen với cây cao su và cây keo lai đến
quần thể cỏ dại trong nương bông.
+ Đánh giá tình hình sinh trưởng phát triển, thành phầ
n sâu bệnh hại của
cây keo lai và cây cao su sau một vụ trồng cây bông xen vào.
+ Sự thay đổi một số chỉ tiêu lý, hóa tính trong đất trồng bông xen với
cây cao su và cây keo lai.
+ Đề xuất quy trình kỹ thuật trồng bông xen với cây cao su và keo lai
trong thời kỳ kiến thiết cơ bản tại các tỉnh miền núi phía Bắc.
Nhằm bổ sung và hoàn thiện quy trình trồng bông xen trong cao su và
keo lai nhanh chóng được áp dụng ngoài sản xuất, góp phần mở rộng diện tích
và tăng sản lượng bông cho khu vực phía B
ắc - 3 -
- 4 -
Chương 1 – TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
1.1.1. Cây cao su và thực trạng phát triển tại Yên Châu
1.1.1.1. Giới thiệu về cây cao su
* Đặc điểm thực vật học
Cao su (Hevea brasiliensis) là cây thân gỗ sống lâu năm, có một số đặc
điểm thực vật học đáng chú ý sau:
a. Rễ: bộ rễ cao su phát triển khỏe, tái sinh sản lớn, không phát triển
sâu rộng như mộ
t số cây khác. Bộ rễ cao su chia làm 3 loại: Rễ trụ, rễ con và
rễ hấp thu.
Rễ trụ là rễ chính có thể ăn sâu tới 1,5m.
Rễ con và rễ hấp thu phát triển mạnh ở xung quanh, phân bố theo từng
tầng, có hệ số tán cây/tán rễ bằng 1,5 lần.
b. Thân: thân cao su thuộc loại thân gỗ to, cao. Những cây lâu năm có
thể cao 20 – 30 m và đường kính thân cây tới 1m. Hình dạng thân cây thực
sinh và cây gốc ghép có khác nhau: phần sát gốc cây thực sinh thì bình
thường nhưng cây gốc ghép có d
ạng chân voi.
Khi cây cao su còn non điểm sinh trưởng ở đỉnh ngọn hoạt động mạnh
phát sinh trên thân thành từng tầng lá rõ rệt. Cấu tạo của thân cao su phần
quan trọng nhất là vỏ thân vì đó là bộ phận sản sinh ra nhiều nhựa mủ quyết
định đến năng suất và sản lượng cao su.
Quả cao su thuộc loại quả nang có lớp vỏ dày cứng trong có chứa các
hạt, khi chin vỏ tự nứt hạ
t có thể tách ra ngoài: mùa chính là tháng 8-9, có thể
thu thêm ở tháng 2-3.
Hạt cao su hình trứng hơi tròn, khi chín có màu nâu, ở ngoài là vỏ sừng
cứng, hạt chứa 20% protit, 25% dầu…, rất dễ mất sức nảy mầm.
* Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh chủ yếu của cây cao su
a. Ôn độ: cây cao su yêu cầu ôn độ cao đều, thích hợp từ 20-28
o
C, có
biên độ nhiệt độ chênh lệch ít và sợ rét
b. Mưa và ẩm độ: cây cao su cần nhiều nước, đòi hỏi phải có lượng
nước mưa hàng năm cao và đều từ 500 – 2.000 mm. Nếu lượng mưa bình
quân mỗi tháng dưới 50 mm đã ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng. Về ẩm độ
không khí, cây cao su yêu cầu cao, tối thiểu từ 75% trở nên.
c. Ánh sáng: cây cao su cần có đầy đủ ánh sáng, song vẫn có khả năng
chị
u được bóng râm, cường độ ánh sáng thích hợp cho cây cao su là 28.000
lux. Nếu thời gian chiếu sáng khác nhau thì sự sinh trưởng của cây cũng khác nhau.
d. Đất đai và địa hình: Cây cao su thích hợp với đất rừng, yêu cầu lý
hóa tính của đất cao. Về hóa tính phải đất tốt nhiều mùn, giàu N, P, K; có độ - 6 -
pH = 5. Về lý tính yêu cầu đất tơi xốp, thoát nước. Ngoài ra cây cao su còn
yêu cầu mực nước ngầm thấp, nơi có độ cao so với mặt nước biển là 200 m.
(
Giáo trình cây công nghiệp) [3].
1.1.1.2. Thực trạng phát triển cây cao su tại Yên Châu - Sơn La
đến 3 m.
- Thời vụ trồng
+ Trồng tum từ 1/6 đến 15/7
+ Trồng tum bầu có tầng lá từ 15/5 đến 31/8 - 7 -
- chăm sóc
+ Làm cỏ theo băng kết hợp với hoàn thiện đường đồng mức,
làm cỏ 3 lần/năm, cách mỗi bên gốc cao su 1,5m, có thể dung cơ giới cày diệt
cỏ vườn cao su năm thứ 2 -3, cày cách gốc 1,5 m
+ Vào cuối mùa mưa ủ gốc bằng rơm rạ, cỏ khô, cách gốc cao su
10cm, phía trên ủ một lớp đất, xới xáo phá váng quanh gốc để tạo thông
thoáng cho rễ.
+ Thường xuyên tỉa chồi dại bằ
ng kỹ thuật tỉa chồi có chọn lọc,
chừa 1 -2 tầng lá dưới chồi chính để cây có đủ điều kiện quang hợp phát triển
dinh dưỡng.
- Bón phân: Năm thứ 2 - 3 bón với lượng 100 -150 kg urê + 260 - 360
kg supelân + 25 - 40 kg kaliclorua. Bón làm 2 lần đầu mùa mưa và trước khi
kết thúc mưa 1 tháng.
- Phòng trừ sâu bệnh: thường xuyên kiểm tra và phòng trừ sâu bệnh
theo dự báo của ngành cao su.
(
nguồn: quy trình kỹ thuật trồng cao su vùng miền núi phía Bắc của tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam)
1.1.2. Cây keo lai và thực trạng gieo trồng tại Lục Ngạn
1.1.2.1. Giới thiệu chung về cây keo lai
Keo lai là tên gọi của giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia
mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis). Đây là giống có nhiều đặc
Bảng 2 - Diện tích trồng keo lai tại Lục Ngạn qua các năm
Năm
Diện tích (ha)
2008
1.100
2009
1.270
2010
1.800
Nguồn: Thống kê huyện Lục Ngạn
* Một số đặc điểm gieo trồng, chăm sóc keo tại Lục Ngạn – Bắc Giang
- Đất trồng keo: Rễ keo lai có khả năng cố định đạm nên cây keo trồng
được trên hầu hết các loại đất tại Lục Ngạn.
- Thời vụ trồng rừng: có 2 vụ trồng thích hợp là vụ xuân (tháng 2 đến
tháng 4 dương lịch) và vụ thu (từ tháng 7 đến tháng 9 dương lịch), nhưng tốt
nhất là vụ xuân.
- Mật độ trồng rừng: Keo lai mọc nhanh nên mật độ trồng cần thưa,
thường từ 1.100 – 1.600 cây/ha, thường trồng Hàng x Hàng = 3m và Cây x
Cây = 2m
- Chăm sóc keo lai: Trong 2-3 năm đầu sau khi trồng cần phải tiến hành
chăm sóc cây trồng mỗi năm 2 lần vào đầu mùa mưa (tháng 3-4) và đầu mùa
khô (tháng 10 -11).
1.1.2. Đặc điểm tái sinh của cây bông
Bông là cây công nghiêp sống lâu năm nhưng trong quá trình canh tác
nó được trồng và thu hoạch như cây hàng năm. Do đó, sau khi thu hoạch bông
nếu được bảo v
ệ và gặp điều kiện thuận lợi về độ ẩm, dinh dưỡng ánh sáng
các đỉnh sinh trưởng, trồi nách cây bông tiếp tục sinh trưởng phát triển ra nụ,
ra hoa và đậu quả chỉ trong thời gian ngắn (1,5 – 2 tháng). Đây là một đặc
tính tốt của cây bông mà các cây trồng hàng năm khác không có. Các cây
nghèo, cây khác có thể đền bù và như thế sự đền bù không thể xảy ra nếu
những cây trồng trồng tách biệt. Đây là một ảnh hưởng cộng từ việc phân tán
sự rủi ro bằng cách trồng hai cây.
Trenbath (1974), [16] và Willey R.W (1979), [18]: Sự ổn định có thể
ảnh hưởng lớn hơn nếu trồng xen có lợi thế về nă
ng suất hơn dưới điều kiện
hạn vì vấn đề này đã giúp để tránh năng suất thấp trong những mùa vụ khác
nhau. Một ảnh hưởng tương tự có thể xảy ra, nếu trồng xen giảm dịch hại,
như vậy trồng xen đã chỉ ra độ ổn định lớn hơn và biểu hịên tốt nhất ở điều kiện
khó khăn. - 10 -
Theo Sharma S. K, Miehta (1988), [17] khi nghiên cứu trồng xen ở ấn
Độ đã kết luận: Trồng xen đã làm giảm các chỉ tiêu về cấu thành năng suất.
Limbaga.C. M (1989), [15] nhận xét: Tất cả các công thức trồng xen đã
giảm so với năng suất thực của nó.
Như vậy trồng xen trên mỗi loại cây trồng khác nhau trong điều kiện
nghiên cứu khác nhau cho nhiều kết quả khác nhau. Do đó trồng xen đang
được nhiều nước trên thế gi
ới tiếp tục nghiên cứu.
Ở Việt Nam, trồng xen cũng được nghiên cứu từ rất lâu, song đến ngày
nay thì hiệu quả cũng như những kết luận về trồng xen vẫn còn rất khác nhau
và việc nghiên cứu về trồng xen trên tất cả các loại cây trồng vẫn đang đặt ra
cấp bách đối với các nhà khoa học.
Theo Dương Hồng Hiên (1962), [5]: Trồng xen ở trên đồi có tác dụng
lớn trong việc giữ
đất, giữ nước và giữ ẩm độ đất do xen canh tạo ra các thảm
xanh che phủ đất nên có tác dụng bảo vệ đất, chống xói mòn và điều hoà chế
ng được trồng xen sẽ tận dụng được một lượng ánh
sáng mặt trời nhiều hơn để tạo ra nhiều chất hữu cơ hơn.
Theo Nguyễn Hữu Quán (1984), [9] cây đậu đỗ, ngoài khả năng cố
định N khí quyển, nó còn khả năng hấp thụ các khoáng chất khó hoà tan ở
tầng đất dưới, đặc biệt là lân và kali, làm giàu dinh dưỡng cho tầng đất mặt.
Mặt khác sau khi thu hoạch gốc và rễ của chúng cùng v
ới thân lá rụng xuống
để lại cho đất một lượng chất hữu cơ đáng kể, góp phần nâng cao độ phì của
đất, giảm được sói mòn của đất.
Đặc biệt trong những năm gần đây có rất nhiều nghiên cứu về trồng
xen cây bông với cây trồng nông nghiệp khác như: Trồng bông xen ngô, bông
xen vải, bông xen đậu tương, bông xen cải bắp. Nhưng nhìn chung còn ít đặc
biệt là nghiên cứu về trồng bông xen vớ
i cây công nghiệp dài ngày.
Bông là cây hút nhiều chất dinh dưỡng và là cây trồng bị nhiều loài sâu
bệnh gây hại, đặc biệt ở vùng nhiệt đới, do đó đòi hỏi phải luân canh bông với
các cây trồng khác. Luân canh hợp lý có tác dụng phục hồi và tăng độ phì cho
đất, giảm bớt cỏ dại, sâu bệnh cho bông và tăng thu nhập cho người nông dân,
luân canh cây trồng là một biện pháp trong phòng trừ dịch hại tổng hợp IPM.
Việc xen canh và gối vụ bông với các cây trồ
ng ngắn ngày được thực
hiện ở rất nhiều nơi và đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với trồng thuần,
nhất là ngày nay khi các giống bông lai được sử dụng rộng rãi. Trong những
năm gần đây, các giống bông lai mới với thân cành gọn, chín sớm được đưa
vào sản xuất cho phù hợp trồng xen, trồng gối bông với nhiều loại cây trồng
hiện có của địa phươ
ng. Vì vậy, việc nghiên cứu các mô hình xen canh, gối
vụ thích hợp là giải pháp giúp phần khai thác tốt điều kiện đất đai, tạo ra cơ
cấu cây trồng ổn định, nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Ngoài ra, xen canh gối
vụ còn làm giảm áp lực cạnh tranh giữa các cây trồng trong vùng.
5
+ 60 kg K
2
O (tỷ lệ
2:1:1) cho năng suất bông hạt và hiệu quả kinh tế cao nhất [8]. Tuy nhiên
việc bón phân ở từng vùng còn phụ thuộc chất đất, và điều kiện canh tác
của nông hộ.
Theo báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học năm 1999 của Trung tâm
nghiên cứu cây bông Nha Hố: phân bón có ảnh hưởng khá rõ đến số quả/cây
giai đoạn cuối vụ. Tại Đồng Nai, khi tăng lượng phân bón thì số quả/cây cũng
tăng dầ
n và đạt cao ở mức phân 150 Kg N + 75 kg P
2
O
5
+ 75 kg K
2
O. Trong
điều kiện Đắc Lắc, khi lượng phân bón tăng số quả/cây cũng tăng và cao nhất
ở mức phân 120 Kg N + 60 kg P
2
O
5
+ 60 kg K
2
O, nếu lượng phân bón tiếp
tục tăng thì số quả/cây giảm [12]. - 13 -
- Điều tra thành phần và mức phổ biến cỏ dại trên nương bông: Xác định
tên và số lượng cỏ từng loại theo phương pháp của Phạm Hoàng Hộ (1993).
Điều tra 5 điểm theo đường chéo góc, mỗi điểm là một khung vuông có kích - 14 -
thước 0,5 x 0,5 m, đếm số cây của từng loại cỏ và chia thành 3 mức:.
+ Rất phổ biến: + + + loài cỏ đó có số lượng chiếm trên 70%
+ Phổ biến: + + loài cỏ đó có số lượng chiếm 10 - 70%
+ ít phổ biến: + loài cỏ đó có số lượng chiếm dưới 10%
- Mật độ và khối lượng cỏ tươi: trên mỗi ô thí nghiệm, của từng công
thức lấy mẫu trên 3 điểm theo đường zích zắ
c, mỗi điểm là 1 khung vuông 0,5
x 0,5 m tiến hành đếm xác định mật độ, sau đó nhổ toàn bộ, rửa sạch, để
nơi thoáng cho khô nước (sau khoảng 1 giờ) rồi đem cân xác định khối
lượng cỏ tươi.
2.3.3. Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng:
2.3.3.1. Xác định phương thức trồng bông xen với cây cao su và cây keo lai.
a. thí nghiệm
:
- Thí nghiệm 1: Nghiên cứu hiệu quả của phương thức trồng bông theo
hàng xen với cây cao su (3 - 4 năm tuổi) tại Sơn La. Gồm các công thức trồng
xen như sau:
+ Đ/c: Cao su và bông trồng thuần ngoài đại trà
+ CT1 : Trồng xen 5 hàng bông giữa 2 hàng cây cao su (hàng bông cách
nhau 0,7m; cây cách cây 0,3m). Hàng bông cách hàng cao su 2,1m.
+ CT2: Trồng xen 6 hàng bông giữa hai hàng cây cao su (hàng bông
cách nhau 0,7m; cây cách cây 0,3m). Hàng bông cách hàng cao su 1,75m.
+ CT3: Trồng xen 7 hàng bông giữa 2 hàng cao su (hàng bông cách nhau
+ Số cành đự
c/cây (cành/cây): đếm toàn bộ số cành đực trên 20 cây theo
dõi của từng ô thí nghiệm
+ Số cành quả/cây (cành/cây): đếm toàn bộ số cành quả trên 20 cây
theo dõi của từng ô thí nghiệm.
+ Thời gian sinh trưởng (ngày): tính từ khi gieo đến tận thu, theo dõi cả ô.
+ Chiều cao cây cuối cùng: đo trên 20 cây theo dõi của từng ô thí
nghiệm (cm).
+ Số quả/cây: đếm toàn bộ số quả trên 20 cây tại thời điểm 50% số quả
trên cây nở
+ Cân xác định khối lượng quả (gam): mỗ
i công thức lấy 3 mẫu ở 3 thời
kỳ khác nhau, Mỗi mẫu lấy 50 quả, phơi khô, cân khối lượng của từng mẫu rồi
tính khối lượng quả trung bình.
- Theo dõi đánh giá thành phần và mức độ nhiễm sâu bệnh hại:
+ Cây cao su, keo lai: theo dõi bệnh phấn trắng, sâu róm, rệp sáp.
+ Cây bông: Theo dõi bệnh đốm cháy lá, mốc sương, rầy và rệp
· Bệnh hại: đánh giá TLB(%) và CSB(%)
TLB
A
B
(% ) =×100
(%) ;
CSB
an
B
K
(% )
(. )
.
Cấp 0: Cây không bị bệnh
Cấp 1: 1-5% diện tích lá bị bệnh
Cấp 2: >5-15% diện tích lá bị bệnh, hoặc <5% diện tích lá bị
bệnh và 5% số quả thối do bệnh.
Cấp 3: >15-30% diện tích lá bị bệnh, hoặc 5-15% diện tích lá bị
b
ệnh và 10% số quả thối do bệnh.
Cấp 4: >30-50% diện tích lá bị bệnh, hoặc 15 -30% diện tích lá
bị bệnh và 15% số quả thối do bệnh.
Cấp 5: >50% diện tích lá bị bệnh, hoặc 30-50% diện tích lá bị
bệnh và 20% số quả thối do bệnh.
+ Đánh giá mức rầy hại bông (cấp hại):
Cấp 0: cây không bị hại - 17 -
Cấp 1: lá chớm cong và có biểu hiện bị hại
Cấp 2: 1/3 số lá trên cây bị cong và có biểu hiện vàng
Cấp 3: 2/3 số lá trên cây bị cong và chuyển màu vàng
Cấp 4: toàn bộ lá bị cong vàng và chớm cháy
Cấp 5: lá bị cong nhiều và chuyển màu vàng đỏ
+ Đánh giá mức rệp hại bông (cấp hại):
Cấp 0: cây không bị hại
Cấp 1: 1-2 con/lá (hoặc 10-20% cây bị rệp ở mức nhẹ, lá chưa cong)
Cấp 2: < 10 con/lá (hoặc từ 21-50% cây bị rệp, lá cong)
Cấp 3: > 10 con/lá (hoặc trên 50% số cây bị rệp, lá co rút)
- Các yếu tố cấu thành năng suất cây bông: Theo dõi số quả/cây, số quả
thối/cây, khối lượng quả, mật độ cây cuối vụ.
- Năng suất lý thuyết (NSLT): NSLT = {KLquả x Số quả/cây x Mật
Các công thức được trồng xen 6 hàng bông giữa 2 hàng cao su, bón
thêm phân vào giai đoạn cuối vụ mưa (bông bắt đầu nở quả).
- Trồng bông xen với keo lai gồm các công thức:
+ CT1: Không sử dụng thêm phân bón
+ CT2: Bón thêm 30 kg N
+ CT3: Bón thêm 30 kg N + 15 kg K
2
O
+ CT4: Bón thêm 50 kg N
+ CT5: Bón thêm 50 kg N+ 25 kg K
2
O
Các công thức được trồng xen 1 hàng bông giữa 2 hàng keo lai, bón
thêm phân vào giai đoạn cuối vụ mưa (bông bắt đầu nở quả).
- Các chỉ tiêu theo dõi: năng suất thực thu, hiệu quả kinh tế của các
công thức bón phân.
2.3.4. Phân tích mẫu đất:
- Dung lượng mẫu phân tích: Mỗi công thức thí nghiệm lấy 1 mẫu vào
2 thời điểm, trước khi trồng xen 5 ngày và sau khi thu hoạch bông 5 ngày.
- Phương pháp lấy mẫu: Mẫu đất được lấy ở tấ
ng 0-20 cm ở giữa các
hàng bông theo phương pháp 5 điểm chéo góc rồi trộn đều và lấy mẫu trung
bình theo phần đối diện của 2 đường chéo, mỗi mẫu lấy khoảng 1 kg.
- Phương pháp phân tích mẫu đất: Theo phương pháp phân tích đất của
Phòng PT Đất và Môi trường của Viện Quy hoạch & TKNN.
2.3.5. Phương pháp xử lý số liệu: Các số liệu thí nghiệm được xử lý vi tính
trên phần mềm Excel và IRISTART.
2.3.6. Phương pháp canh tác:
* Thí nghiệm:
chung của Ngành cao su, keo lai và bông.
* Thực nghiệm: thực hiện tương tự như trong thí nghiệm, lượng phân
bón bổ sung được bón vào cuối vụ mưa (cây bông khoảng 90 ngày tuổi). - 20 -
Chương 3 – KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN
3.1. Một số đặc điểm thời tiết khí hậu tại các vùng nghiên cứu năm 2011
Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng lớn đến việc bố trí thí nghiệm cũng như
sinh trưởng phát triển và năng suất chất lượng của cây trồng trong thí nghiệm. Từ
số liệu thu được ở bảng 1 cho thấy:
Bảng 1
: Một số yếu tố khí tượng chính từ tháng 4 đến tháng 11 năm
2011 tại huyện Yên Châu – Sơn La và Lục Ngạn – Bắc Gang
Yếu tố
Tháng
Lượng mưa
trung bình
(mm)
14 - 21,1 78 105
Lục Ngạn
4
12,5 5 24,5 81 63,8
5
190,8 12 26,5 78 157,9
6
190,1 15 28,8 83 151,9
7
175,1 14 29,3 80 192,3
8
170,5 15 28,4 84 165,5
9
202,6 17 26,9 83 147,0
10
44,9 12 23,7 84 101,0
11
24,7 15 22,6 82 152,7
Nguồn: Trạm khí tượng huyện Yên Châu – Sơn La, Lục Ngạn – Bắc Giang - 21 -
Tại Yên Châu:
Từ tháng 5 đến tháng 8 lượng mưa trung bình tương đối lớn và trải đều
trong tháng, thích hợp cho việc bố trí thí nghiệm, gieo trồng cũng như sinh trưởng
phát triển ra hoa, đậu quả của cây bông. Thời kỳ cây bông nở quả (tháng 10, 11)
lượng mưa giảm thấp (14 – 66 mm) rất thuận lợi cho việc nở quả cũng như thu hái
bông.
Nhiệt độ từ tháng 5 đến tháng 9 nằm trong khoảng 26,1 – 29,3
u tố khí hậu có ảnh hưởng
rất lớn đến sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng của cây trồng cũng