Đề tài: Khảo nghiệm một số giống lúa chất lượng cao có triển vọng vụ Đông Xuân 2009 – 2010 tại Vĩnh Thủy – Vĩnh Linh – Quảng trị - Pdf 19

BÁO CÁO THỰC TẬP
Đề tài:
Khảo nghiệm một số giống lúa chất
lượng cao có triển vọng vụ Đông
Xuân 2009 – 2010 tại Vĩnh Thủy –
Vĩnh Linh – Quảng trị
1
MỤC LỤC
BÁO CÁO THỰC TẬP 1
Đề tài: 1
Khảo nghiệm một số giống lúa chất lượng cao có triển vọng vụ Đông Xuân 2009 – 2010
tại Vĩnh Thủy – Vĩnh Linh – Quảng trị 1
MỤC LỤC 2
PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Đặt vấn đề
Lúa (Oryza sativa. L) là một trong ba cây lương thực chủ yếu của thế
giới (lúa mì, lúa gạo, ngô), đứng thứ hai sau lúa mì (về diện tích) và sau ngô
(về sản lượng). Khoảng 40% dân số thế giới xem lúa gạo là nguồn lương thực
chính, 25% dân số sử dụng làm một nửa khẩu phần hàng ngày. Như vậy lúa
gạo ảnh hưởng tới 60% dân số trên thế giới.
Ý nghĩa quan trọng nhất cây lúa là giá trị dinh dưỡng của nó trong từng
hạt gạo, lượng calo mà nó cung cấp nhiều hơn bất cứ loại ngũ cốc nào khác.
Trong lúa gạo thành phần các hợp dinh dưỡng rất phong phú rất có lợi cho
sức khỏe con người. Bởi vậy hạt gạo có trong từng bữa ăn hàng ngày.
Hiện nay Việt Nam đã xuất khẩu được lúa gạo nhưng trên thực tế giá
gạo của nước ta luôn thấp hơn các nước khác. Người tiêu dùng sử dụng nhiều
và sẵn sàng trả giá cao hơn với các loại gạo thơm, ngon. Như vậy việc nghiên
cứu, lai tạo, chọn lọc những giống lúa có chất lượng cao là rất cần thiết, phù
hợp với xu thế phát triển tất yếu của ngành sản xuất lúa gạo, góp phần cung
ứng cho nhu cầu của thị trường trong nước và thế giới, nâng cao thu nhập cho

3
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn
2.1.1. Cơ sở khoa học
Theo FAO “Giống chỉ một tập hợp cá thể cây trồng được phân biệt với
trồng trọt, trồng rừng hay trồng vườn mà sau khi nhân lên (có tính chất hữu
thụ) nó vẫn duy trì được tính trạng đó [15].
Các giống lúa trước khi đưa vào sản xuất đại trà phải đạt được những
tiêu chuẩn về năng suất và phẩm chất nhất định, có khả năng chống chịu với
điều kiện ngoại cảnh bất lợi và sâu bệnh hại, thích ứng với điều kiện canh tác
và khí hậu địa phương.
Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều giống tốt sau một thời gian canh tác đã
bị thoái hóa, năng suất, phẩm chất và tính chống chịu giảm rõ rệt.
Các giống lúa chất lượng cao thường có năng suất thấp, khả năng sinh
trưởng thấp hơn và chịu ảnh hưởng của sâu bệnh hại cũng như tác động của
điều kiện ngoại cảnh nhiều hơn các giống bình thường.
Vì vậy, việc tuyển chọn các giống lúa chất lượng cao để thay thế các
giống cũ bị thoái hóa và bổ sung thêm giống cho địa phương là việc làm cấp
thiết và phải được thực hiện thường xuyên. Qua đó góp phần thực hiện chủ
trương sản xuất 2 triệu ha giống lúa chất lượng cao dùng cho xuất khẩu trong
những năm tới.
4
2.2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Khảo nghiệm và tuyển chọn một số giống lúa chất lượng cao phù hợp
với điều kiện sinh thái của tỉnh Quảng trị.
Góp phần tìm ra giống lúa chất lượng cao để đưa và thâm canh và
mở rộng sản xuất, tạo ra vùng chuyên canh sản xuất lúa chất lượng cao cho
tỉnh Quảng trị.
Góp phần làm phong phú về số lượng và chủng loại giống lúa chất


của châu Âu

vào khoảng năm 800 TCN

. Thời gian nửa sau của
thế kỷ 15

, thì lúa đã trải rộng tới Ý

và sau đó là Pháp

và tất cả các châu lục
khác. Năm 1694

, lúa đã đến South Carolina

. Người Tây Ban Nha

đem các
giống lúa tới Nam Mỹ

vào đầu thế kỷ 18

[39].
1
Trước công nguyên
5
Tuy chưa có thống nhất nhưng nhiều tài liệu đều chứng minh nghề
trồng lúa có từ lâu đời, nguồn gốc cây lúa có từ vùng đầm lầy Đông Nam Á,

protein dự trữ trong nội nhũ của lúa gạo bao gồm 4 nhóm Albumin,
Globumin, Prolamin, Glutelin [8].
6
Tinh bột của gạo thuộc dạng rất dễ đồng hóa. Trong hạt gạo tinh bột
chiếm tỉ lệ lớn nhất (72,18 – 80,44%). Các thực phẩm khác chiếm tỉ lệ ít hơn
(6,96 – 10,43%), tro (4,68 – 6,93%), cenllulose (8,74 – 12,23%) [8].
Hàm lượng lipit của lúa gạo vào loại trung bình, phổ biến chủ yếu ở lớp
vỏ, nếu ở gạo xay là 2,02% thì gạo giã 0,52% [11].
Ngày nay để sử dụng hiệu quả các thực phẩm dinh dưỡng từ hạt gạo,
các nhà khoa học ở một số nước đã khuyến cáo người dân nên dùng gạo lứt
trong bữa ăn hàng ngày đặc biệt với những nước sử dụng gạo làm nguồn
dinh dưỡng chính.
2.4. Những đặc tính của giống lúa chất lượng
Phân loại theo các tính trạng đặc trưng thì tập đoàn lúa chất lượng cao
là tập hợp các giống có chất lượng gạo cao theo yêu cầu của từng vùng khác
nhau trên thế giới. Tập đoàn này cung cấp nguồn gen cho chọn tạo các giống
có chất lượng gạo cao hoặc các giống đặc sản [12].
Theo tiến sĩ Lê Văn Bảnh: “Lúa chất lượng cao phân thành mấy
nhóm, thứ nhất là lúa thơm hạt dài thon có mùi thơm, hàm lượng amylose
thấp dẻo cơm. Còn loại chất lượng cao là loại gạo hạt dài không bạc bụng
có hàm lượng amylose trung bình thấp khoảng 20% tới 24% trở lại, nhưng
mềm cơm dẻo xuất khẩu được. Còn lại loại trung bình thấp có hàm lượng
amylose tương đối cao cứng cơm, hạt gạo ngắn, giống này chỉ thích hợp
làm gạo 15% tới 25% tấm” [35].
Đặc điểm nhóm giống lúa có phẩm chất cao.
Thứ nhất là nhóm giống lúa cao sản ngắn ngày. Có thời gian sinh
trưởng từ 90 – 110 ngày, chiều cao cây từ 90 – 115cm, P
1000
2
hạt từ 22 – 31g,

2.5. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới
2.5.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Dân số thế giới ngày càng tăng, theo Cục điều tra dân số Mỹ, tính đến
ngày 13/8/2009 dân số toàn cầu 6,777 tỉ người và sẽ đạt ngưỡng 9 tỉ người
vào năm 2040 [39]. Với mức gia tăng dân số như hiện nay vấn đề an ninh
lương thực toàn cầu đang là vấn đề cấp bách.
Bảng 2.1. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới giai đoạn 2004 – 2008
Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn)
2004 151,0 40,0 606,0
2005 153,5 40,1 614,0
2006 152,6 41,0 622,1
2007 153,0 41,0 622,2
2008 158,9 43,0 685,0
8
(Nguồn: FAOSAT)
Toàn thế giới có khoảng 158 triệu ha diện tích trồng lúa, châu Á 141
triệu ha chiếm hơn 89% diện tích trồng lúa của thế giới, tiếp đến là châu
Phi (9 triệu ha), châu Mỹ (6 triệu ha), châu Âu và châu Đại Dương diện
tích ít nhất. Châu Á có sản lượng lúa gạo cao nhất thế giới (622684,34
nghìn tấn) nhưng năng suất trung bình lại thấp (43,86 tạ/ha) so với các nước
châu Âu (58,22 tạ/ha), do châu Âu có khoa học kĩ thuật, trình độ canh tác
phát triển hơn hẳn các nước châu Á và châu Phi.
Bảng 2.2. Tổng hợp sản lượng lúa Thế giới và Châu lục năm 2008
Vùng/châu lục
Diện tích
(1000ha)
Năng suất (hg/ha)
Sản lượng
(1000tấn)
Thế giới 158955,39 43,09 685013,37

8 Campuchia 800 800 Nam Phi 800 800
9 Trung Quốc 760 1.500 Cote d'Ivoire 800 860
10 Brazil 650 300 Senegal 715 700
Thế giới 29.029 30.845 Thế giới 29.029 30.845
(Nguồn: Bộ nông nghiệp Mỹ)
Thị trường gạo chất lượng cao là thị trường cao cấp. Thị trường này
chiếm 25% tổng lượng gạo xuất khẩu của thế giới, thị trường tiêu thụ trước
hết là các nước phát triển, khu vực Tây Âu và Nhật sau đó là các nước NIC
(3)
.
Thị trường này đặc biệt chú trọng quy cách phẩm chất và vệ sinh công nghệ.
Các nhà xuất khẩu chính là Mỹ và Thái Lan. Thực tế những năm qua gạo xuất
khẩu đạt tiêu chuẩn quốc tế được xếp loại A là gạo Mỹ số 2, tỉ lệ tấm không
quá 4%, hạt dài, trắng trong, kích cỡ hạt đều, không lẫn tạp chât, không có
mùi vị lạ, không lẫn hạt đỏ, vàng, sọc…Ngay gạo Mỹ số 5 giá cao hơn gạo
Thái Lan 100B (loại gạo trắng hạt dài 100%, không tấm) [27].
2.5.2. Tình hình nghiên cứu chất lượng lúa gạo trên thế giới
Việc nghiên cứu chất lượng lúa gạo đã được các nhà khoa học trên
thế giới quan tâm từ lâu. Tuy nhiên, đến sau đại chiến lần thứ hai, các công
trình nghiên cứu về chất lượng lúa gạo mới được triển khai một cách mạnh
mẽ tại nhiều nước trên thế giới.
Ngày 10/1978 cuộc hội thảo các nhà di truyền chọn giống, hóa sinh,
hóa học hạt của nhiều nước trên thế giới được tổ chức ở Viện lúa quốc tế
IRRI
4
, đã phân chia chất lượng lúa gạo thành bốn nhóm: Chất lượng xay xát,
chất lượng thương phẩm, chất lượng nấu nướng và ăn uống, chất lượng dinh
dưỡng. Ngày nay bốn nhóm đã được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu cũng
như sản xuất lúa gạo [8].
Các nhà khoa học Nhật Bản đã phát hiện được giống lúa mới, giống

Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, điều kiện thuận lợi cho
lúa phát triển. Với vị trí địa lí dài trên 15 vĩ độ ở Bắc bán cầu, từ Bắc
vào Nam hầu như vùng nào cũng trồng lúa.
Bảng 2.4. Tình hình sản xuất lúa Việt Nam từ 2000 – 2009
11
Năm
Diện tích
(1000ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng
(1000tấn)
2004 7445,3 48,6 36148,9
2005 7329,2 48,9 35832,9
2006 7324,8 48,9 35849,5
2007 7207,4 49,9 35942,7
2008 7414,3 52,2 38725,1
2009
5
7440,1 52,3 38895,5
(Nguồn: Tổng cục hải quan)
Năm 2008 được mùa lớn với sản lượng lúa đạt 38,7 triệu tấn, tăng 2,8
triệu tấn so với năm 2007 và là năm sản lượng lúa đạt mức cao nhất trong 12
năm trước đó. Năm 2009, mặc dù nước ta bị bão lũ gây thiệt hại nặng nề,
nhưng nhờ có sự nỗ lực đẩy mạnh sản xuất của các vùng, miền, nhất là đồng
bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long nên sản lượng lúa cả năm vẫn
đạt gần 38,9 triệu tấn, tăng 165,7 nghìn tấn so với năm 2008.
Bảng 2.5. Tình hình xuất khẩu gạo Việt Nam từ 2004 - 2009
Năm Xuất khẩu Tăng so với năm trước (%)
Lượng
(1000 tấn)

sông Hồng 300.000 ha [12].
Theo Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn căn cứ yêu cầu và khả năng
xuất khẩu gạo cao năm 2007, Bộ chọn 7 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
(Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Long An, Sóc Trăng, Kiên Giang, TP
Cần Thơ) tổ chức mô hình sản xuất lúa chất lượng cao. Các tỉnh này sẽ phối
hợp với tổng công ty Lương thực miền Nam tổ chức mô hình sản xuất 1 triệu
ha lúa chất lượng cao trong vụ Đông xuân 2006 – 2007, chế biến 500.000 tấn
gạo chất lượng cao xuất khẩu [33].
Vụ lúa Đông xuân 2006 - 2007 tỉnh Đồng Tháp xuống giống được hơn
125.000 ha lúa chất lượng cao, chiếm 60,20% diện tích trồng lúa toàn tỉnh,
bình quân mỗi ha sau khi trừ chi phí cho lợi nhuận từ 20 đến 30 triệu đồng,
cao hơn sản xuất lúa bình thường từ 5 đến 15 triệu đồng/ha [32].
Vụ mùa năm 2009, toàn huyện Lương Tài (Bắc Ninh) gieo trồng 866,2
ha giống lúa chất lượng cao, chiếm gần 20% diện tích, bằng 147% so với
cùng kỳ. Các giống lúa chất lượng cao như: HT1, BC15, Bắc thơm số 7, Nếp
87, Nếp 97,… gieo trồng nhiều ở một số xã Bình Định, Phú Hòa, Quảng Phú,
Mỹ Hương [28].
Theo Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn): Vụ thu
đông và mùa 2009 tại các tỉnh ĐBSCL sẽ canh tác bằng các giống lúa chất
lượng cao và hạn chế đến mức thấp nhất giống lúa IR 50404 và OM 576 [34].
13
Từ cuối 1994 Việt Nam đã sản xuất được gạo cao cấp, điển hình là gạo 5%
tấm, gần tương đương với gạo Thái Lan. Chất lượng gạo nước ta có tiến bộ
nhiều nhưng chỉ là tương đối.
Bảng 2.6. So sánh 9 chỉ tiêu chất lượng xuất khẩu loại gạo IR 5% giữa
Mỹ và Việt Nam
9 chỉ tiêu cơ bản Gạo Mỹ Gạo Việt Nam
Long – grain (hạt dài)
Tối thiểu 6,7 – 7 mm, ít
nhất phải > 35%

Mặt hàng
Giá
(USD/tấn)
Nước xuất
khẩu
Cảng xuất khẩu
Đ/K giao
hàng
Gạo trắng 100% tấm 300.00 Singapore ICD Phước Long Thủ Đức FOB
Gạo trắng 100% tấm 300.00 Đài Loan
ICD III - Transimex (Cang
SG khu vực IV)
FOB
Gạo trắng 100% tấm
(đóng bao 50 kí tịnh)
464.00 Thổ Nhĩ Kỳ Cảng Vict FOB
Gạo trắng 100% tấm 330.00 Ghana
Cảng Cát Lái (Hồ Chí
Minh)
CF
Gạo trắng 25% tấm 400.00 Singapore ICD Phước Long Thủ Đức FOB
(Nguồn: Vinanet)
Gạo chất lượng cao luôn bán được giá tại các thị trường trên thế giới,
Gạo trắng 25% tấm giá 400.000 USD/tấn (thị trường Singapore) trong khi
đó gạo trắng 100% tấm giá chỉ 300.000 USD/tấn (thị trường Singapore),
chênh lệch nhau 100.000 USD/tấn. Đây là nguồn lợi hấp dẫn kích thích sản
xuất gạo chất lượng cao.
2.6.2. Nghiên cứu giống lúa chất lượng và chất lượng lúa gạo Việt Nam
15
Vấn đề nghiên cứu chất lượng nông sản nói chung và chất lượng lúa gạo

Nguyên [33]. Hiện Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long đang tồn trữ 1.826
16
mẫu giống lúa mùa gồm 219 giống lúa sớm, ít cảm quang và 1.617 giống lúa
lỡ và muộn có tính cảm quang [7]. Trung tâm Tài nguyên di truyền Thực vật
của Viện khoa học nông nghiệp kĩ thuật Việt Nam đã thu thập và bảo quản
trên 5000 mẫu giống lúa địa phương. Đó thực sự là những gen quý trong công
tác tạo giống [4].
Viện nghiên cứu lúa Đồng bằng sông Cửu Long đã sử dụng phương
pháp ứng dụng phương pháp ứng dụng CNSH
(6)
kết hợp với phương pháp
khảo nghiệm đồng ruộng để chọn tạo các giống lúa ngắn ngày, năng suất
cao, chất lượng tốt như OM1490, OM2517, OM3536 [21].
Trần Duy Quý, Hoàng Tuyết Minh, Bùi Huy Thủy thuộc Viện Di truyền
nông nghiệp giai đoạn 1996 – 2000 đã chọn tạo thành công một số giống năng
suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh, tạo giống lúa lai 2 dòng, 3 dòng…
Trong đó có giống DT17, DT21 là giống chất lượng cao, xuất khẩu [14].
Vũ Tuyên Hoàng và CTV
(7)
, giai đoạn 1997 – 2000 đã thu thập và
đánh giá 1621 dòng giống và kết quả cho thấy: 73 giống địa phương/1621
dòng giống thu thập có hàm lượng protein trong gạo lật biến động từ 6,5 –
10,5%. Một số giống có hàm lượng protein cao như Nếp cẩm (Sơn La)
10,3%, Lốc hạt tròn (Hà Tĩnh) 9,5%, Tám thơm (Hải Dương) 8,1% một số
dòng nhập nội có hàm lượng protein gạo lật cao: IR1529 – 680: 8,7%,
IR64: 7,8%, IET2938: 8,3%… [14].
Trường Đại học Thành Tây (Hà Đông, Hà Nội) vừa nghiên cứu thành
công hai giống lúa mới là giống thơm MHT và giống thơm RVT. Đây là hai
giống lúa thơm, ngon, chất lượng cao, phù hợp với thổ nhưỡng và khí hậu của
vùng đồng bằng sông Hồng và trung du miền núi phía Bắc [28].

trồng được giống lúa ở khu vực Bắc, Nam. Lợi dụng điều đó trung tâm đã thu
thập các giống lúa từ Viện, Trung tâm nghiên cứu trong toàn quốc để đưa vào
khảo nghiệm tại địa phương. Những năm qua trung tâm đã khảo nghiệm 76
giống xuất xứ từ miền Nam, 80 giống miền Bắc và đã xác định được bộ giống
mới đưa vào sản xuất như HT1, HC95, P6, IR35366, IR50404… Ngoài ra
trung tâm còn phục tráng giống lúa chủ lực: Khang dân, HT1…thực hiện tốt
công tác cung ứng giống phục vụ nhu cầu sản xuất trên địa bàn.
2.7.3. Tình hình sản xuất lúa ở huyện Vĩnh Linh – Quảng Trị
Vĩnh Linh là huyện thuần nông với 51% dân số tham gia sản xuất nông
nghiệp. Tổng diện tích tự nhiên là 620 km
2
diện tích trồng lúa ở Vĩnh Linh
tăng liên tục trong những năm gần đây, từ 6.450ha (năm 2000) lên 6.555 (năm
18
2008). Bên cạnh đó sản lượng lúa gạo cũng tăng từ 25.146 nghìn tấn (năm
2000) lên 3.1703 nghìn tấn (năm 2008).
Thời gian qua huyện cũng phối hợp với Trung tâm Giống cây trồng vật
nuôi đưa về khảo nghiệm nhiều giống lúa chất lượng cao. Vụ Hè thu 2009
tiến hành khảo nghiệm sản xuất tập đoàn giống lúa chất lượng cao: TL6, P6
ĐB, XT27 của Viện Cây lương thực – cây thực phẩm Hải Dương [1].
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu gồm 7 giống (HT1 làm đối chứng). Giống HT1 là
một trong những giống lúa chủ lực của địa phương, thích hợp sản xuất cả hai
vụ Hè thu và Đông xuân, năng suất trung bình đạt 55 – 58 tạ/ha, đặc biệt
phẩm chất gạo tốt (gạo trong, thơm, cơm mềm) được người dân ưa chuộng.
Bảng 3.1. Tên giống và nguồn gốc giống
Công thức Tên giống Nguồn gốc
I HT1 (đ/c) Nhập nội từ Trung Quốc năm 2000

3.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm gồm 7 giống (HT1 làm đối chứng).
Mỗi giống là 1 công thức, gồm 3 lần nhắc lại.
Diện tích mỗi ô thí nghiệm: 10m
2
(2m x 5m).
Diện tích mỗi công thức thí nghiệm: 3 x 10m
2
= 30m
2
.
Diện tích thí nghiệm: 7 x 30m
2
= 210m
2
.
* Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Bảo vệ
Bảo vệ
I
a
VII
a
V
a
IV
a
VI
a
II

III
c
Bảo vệ
I, II, III,…,VII: Là thứ tự công thức thí nghiệm.
20
a, b, c: Là thứ tự 3 lần nhắc lại.
3.3.2. Điều kiện thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí trên đất vụ lúa 2 vụ/năm, đất thịt nhẹ được canh
tác qua nhiều năm, tưới tiêu chủ động.
3.3.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Thí nghiệm được tiến hành tại Hợp tác xã Vĩnh
Thủy – Vĩnh linh – Quảng Trị.
Thời gian nghiên cứu: từ ngày 11/01/2010 đến 05/05/2010.
3.4. Quy trình kĩ thuật
Được áp dụng theo quy phạm khảo nghiệm giống cây trồng quốc gia.
3.4.1. Kĩ thuật làm ruộng gieo
Thời vụ: vụ Đông xuân 2009 - 2010.
Làm đất: Đất được cày bừa kỹ, nhuyễn bùn, sạch cỏ dại, bằng phẳng,
be bờ chia ô.
Lượng gieo: 140 kg/ha tương đương 7 kg/sào (500m
2
).
3.4.2. Phân bón và cách bón phân
- Lượng phân bón (tính cho 1ha): 5 tấn phân chuồng + 100 kg N
+ 60 kgP
2
O
5
+ 60 kg K
2

3.5. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
3.5.1. Một số đặc điểm hình thái và tính trạng đặc trưng của giống
Các chỉ tiêu được theo dõi trên 10 cây định trước ở mỗi ô
- Màu sắc thân.
- Dạng thân.
- Hình dạng lá.
- Màu sắc lá.
- Kích thước lá đòng (Chiều dài lá đòng, Chiều rộng lá đòng).
- Thời gian của giai đoạn trỗ.
- Độ thoát cổ bông.
- Màu sắc vỏ trấu (Trừ mỏ hạt).
- Độ rụng hạt.
- Độ thuần đồng ruộng.
- Độ tàn lá.
3.5.2. Thời gian sinh trưởng
Tính số ngày từ khi gieo đến các thời kỳ.
- Ngày gieo.
22
- Ngày bắt đầu đẻ nhánh (10% số cây có nhánh).
- Ngày đẻ nhánh rộ (trên 50% số cây đẻ).
- Ngày kết thúc đẻ (trên 80% số cây đẻ).
- Ngày bắt đầu trổ (10% số cây trổ).
- Ngày trổ hoàn toàn (80% số cây trổ).
- Ngày chín hoàn toàn (85% số hạt trên bông chín).
- Tổng thời gian sinh trưởng.
3.5.3. Một số chỉ tiêu về sinh trưởng phát triển
- Diện tích lá đòng = chiều dài x chiều rộng x K (Hệ số K = 0,8 ).
- Chiều cao cây cuối cùng.
- Chiều dài bông.
- Động thái tăng trưởng chiều cao: Theo dõi theo từng thời kỳ.

- Khối lượng 1000 hạt (g): Cân 10 mẫu, mỗi mẫu 100 hạt ở độ ẩm 13%,
- Năng suất lý thuyết (tạ/ha):
NSLT = (Số bông/m
2
) x ( số hạt chắc/bông) x P
1000 hạt
/ 10.000
- Năng suất thực thu (tạ/ha): Cân khối lượng thực thu sau khi phơi khô
(độ ẩm hạt 14%) của 3 lần nhắc lại, quạt sạch đem cân lấy trung bình, đơn vị
kg/ô, quy ra năng suất tạ/ha.
3.5.6. Một số chỉ tiêu về khả năng chống chịu sâu bệnh hại
- Đánh giá các bệnh đạo ôn, đốm nâu theo thang điểm của IRRI – 1996.
- Đánh giá các loài sâu hại nguy hiểm như bọ xít, sâu cuốn lá, rầy nâu
theo thang điểm của IRRI – 1996.
- Phương pháp điều tra: Điều tra 10 điểm, lấy mẫu điều tra theo đường
chéo. Đối với sâu điều tra khung 25 x 40 cm, đối với bệnh hại thân điều tra 10
dảnh/điểm, bệnh hại lá điều tra toàn bộ số lá của 2 dảnh điểm, bệnh hại cổ
bông điều tra 100 bông/điểm.
* Đối với bệnh đạo ôn
- Tỷ lệ bệnh tính theo công thức
* Tỉ lệ bệnh (%) =
Số lá, bông bị bệnh
x 100
Tổng số lá, bông điều tra
Bảng phân cấp bệnh:
Cấp 1: < 1% diện tích lá bị bệnh.
Cấp 3: Từ 1 - 5% diện tích lá bị bệnh.
Cấp 5: > 5 - 25% diện tích lá bị bệnh.
Cấp 7: > 25 - 50% diện tích lá bị bệnh.
Cấp 9: > 50% diện tích lá bị bệnh.

N1: Là số dảnh bị bệnh cấp 1.
Nn: Là số dảnh bị bệnh cấp n.
N: Là tổng số lá điều tra.
K: Là cấp bệnh cao nhất của thang phân cấp.
* Đối với rầy nâu
Điều tra mật độ rầy: Con/m
2
.
Mật độ rầy tính bằng công thức:
Mật độ (con/m
2
) =
Tổng số rầy điều tra
x 100
Tổng số m
2
điều tra
* Đối với sâu cuốn lá nhỏ
25

Trích đoạn Tổng số lá/cây Sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guence): Sâu cuốn lá nhỏ Bệnh đốm nâu: Ddo nấm Helminthosporium Oryza gây ra Bệnh xuất hiện suốt thời kì sinh trưởng của cây lúa áu và gây hại trên tất cả các bộ Số nhánh hữu hiệu: Giống đối chứng có hệ số biến động về số
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status