PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Đặt vấn đề
Lúa (Oryza sativa. L) là một trong ba cây lương thực chủ yếu của thế
giới (lúa mì, lúa gạo, ngô), đứng thứ hai sau lúa mì (về diện tích) và sau ngô
(về sản lượng). Khoảng 40% dân số thế giới xem lúa gạo là nguồn lương thực
chính, 25% dân số sử dụng làm một nửa khẩu phần hàng ngày. Như vậy lúa
gạo ảnh hưởng tới 60% dân số trên thế giới.
Ý nghĩa quan trọng nhất cây lúa là giá trị dinh dưỡng của nó trong từng
hạt gạo, lượng calo mà nó cung cấp nhiều hơn bất cứ loại ngũ cốc nào khác.
Trong lúa gạo thành phần các hợp dinh dưỡng rất phong phú rất có lợi cho
sức khỏe con người. Bởi vậy hạt gạo có trong từng bữa ăn hàng ngày.
Hiện nay Việt Nam đã xuất khẩu được lúa gạo nhưng trên thực tế giá
gạo của nước ta luôn thấp hơn các nước khác. Người tiêu dùng sử dụng nhiều
và sẵn sàng trả giá cao hơn với các loại gạo thơm, ngon. Như vậy việc nghiên
cứu, lai tạo, chọn lọc những giống lúa có chất lượng cao là rất cần thiết, phù
hợp với xu thế phát triển tất yếu của ngành sản xuất lúa gạo, góp phần cung
ứng cho nhu cầu của thị trường trong nước và thế giới, nâng cao thu nhập cho
người dân và đem lại nguồn thu lớn cho đất nước.
Quảng Trị nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa. Khí hậu ở đây khắc
nghiệt, chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió Tây Nam khô nóng, thời tiết khí hậu
diễn biến thất thường. Vì vậy, trong sản xuất và đời sống nhân dân gặp không ít
khó khăn. Nhưng nhờ có hệ thống sông lớn như: Cam Lộ, Thạch Hãn, Bến
Hải,... là một trong những yếu tố thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
Vĩnh Thủy là xã nằm phía Tây Nam huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị), với địa
hình bán sơn địa, có tổng diện tích tự nhiên là 4.813ha. Từ lâu Vĩnh Thủy cùng 2
xã Vĩnh Sơn, Vĩnh Lâm (Lâm - Sơn - Thủy), được biết đến như là vựa lúa lớn
cung cấp lúa gạo cho huyện Vĩnh Linh và nhiều địa phương khác trong tỉnh. Xã
Vĩnh Thủy có 1.534 hộ dân với 6.238 nhân khẩu canh tác trên 496 ha lúa [40].
Tuy nhiên diện tích đất dùng cho sản xuất lúa chất lượng cao chiếm một phần rất
nhỏ. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó, trong đó có nguyên nhân chính
bị thoái hóa, năng suất, phẩm chất và tính chống chịu giảm rõ rệt.
Các giống lúa chất lượng cao thường có năng suất thấp, khả năng sinh
trưởng thấp hơn và chịu ảnh hưởng của sâu bệnh hại cũng như tác động của
điều kiện ngoại cảnh nhiều hơn các giống bình thường.
Vì vậy, việc tuyển chọn các giống lúa chất lượng cao để thay thế các
giống cũ bị thoái hóa và bổ sung thêm giống cho địa phương là việc làm cấp
thiết và phải được thực hiện thường xuyên. Qua đó góp phần thực hiện chủ
trương sản xuất 2 triệu ha giống lúa chất lượng cao dùng cho xuất khẩu trong
những năm tới.
2.2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Khảo nghiệm và tuyển chọn một số giống lúa chất lượng cao phù hợp
với điều kiện sinh thái của tỉnh Quảng trị.
Góp phần tìm ra giống lúa chất lượng cao để đưa và thâm canh và
mở rộng sản xuất, tạo ra vùng chuyên canh sản xuất lúa chất lượng cao cho
tỉnh Quảng trị.
Góp phần làm phong phú về số lượng và chủng loại giống lúa chất
lượng cao trong quỹ giống lúa của tỉnh.
3
2.2. Nguồn gốc và phân bố của cây lúa
2.2.1. Nguồn gốc
Người ta cho rằng tổ tiên của chi lúa Oryza là một loài cây hoang dại
trên siêu lục địa Gondwana cách đây ít nhất 130 triệu năm và phát tán rộng
khắp các châu lục trong quá trình trôi dạt lục địa. Hiện nay có khoảng 21 loài
cây hoang dại thuộc chi này và 2 loài lúa được đã thuần hoá là lúa châu Á
(Oryza sativa) và lúa châu Phi (Oryza glaberrima) [39].
Lúa châu Phi đã được gieo trồng trong khoảng 3.500 năm. Trong khoảng
thời gian từ 1500 TCN
1
đến 800 TCN thì O. glaberrima đã lan rộng từ trung
tâm xuất phát của nó là lưu vực châu thổ sông Niger và mở rộng tới Sénégal.
trên cạn, dưới nước sâu trung bình hoặc nước sâu khoảng 1,5 – 5m [17].
Ở Việt Nam lúa được trồng khắp cả nước đặc biệt là khu vực đồng
bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long.
2.3. Giá trị dinh dưỡng của lúa gạo
Trên thế giới lúa gạo là nguồn cung cấp năng lượng lớn nhất cho con
người, bình quân gạo 180 - 200kg/người/năm tại các nước châu Á, khoảng
10kg/người/năm tại các nước châu Mỹ.
Việt Nam, dân số gần 86 triệu người và 100% người Việt Nam sử dụng
lúa gạo làm lương thực chính không thể thiếu trong khẩu phần ăn hàng ngày.
Trung bình hạt gạo chứa 80% tinh bột, 7,5% protein, 12% nước, còn lại
là vitamin và khoáng chất cần thiết cho cơ thể như Vitamin nhóm B (B1, B2,
B6) Vitamin PP, Vitamin E… Hạt gạo là loại thức ăn dễ tiêu hóa và cung cấp
loại protein tốt nhất cho cơ thể [6]. Protein trong gạo là loại protein có giá trị
dinh dưỡng cao nhất trong các loại protein ngũ cốc, mặc dù hàm lượng của nó
thấp hơn các loại ngũ cốc khác. Theo cách phân loại của Osborne (1924) thì
protein dự trữ trong nội nhũ của lúa gạo bao gồm 4 nhóm Albumin,
Globumin, Prolamin, Glutelin [8].
Tinh bột của gạo thuộc dạng rất dễ đồng hóa. Trong hạt gạo tinh bột
chiếm tỉ lệ lớn nhất (72,18 – 80,44%). Các thực phẩm khác chiếm tỉ lệ ít hơn
(6,96 – 10,43%), tro (4,68 – 6,93%), cenllulose (8,74 – 12,23%) [8].
Hàm lượng lipit của lúa gạo vào loại trung bình, phổ biến chủ yếu ở lớp
vỏ, nếu ở gạo xay là 2,02% thì gạo giã 0,52% [11].
Ngày nay để sử dụng hiệu quả các thực phẩm dinh dưỡng từ hạt gạo,
các nhà khoa học ở một số nước đã khuyến cáo người dân nên dùng gạo lứt
trong bữa ăn hàng ngày đặc biệt với những nước sử dụng gạo làm nguồn
dinh dưỡng chính.
2.4. Những đặc tính của giống lúa chất lượng
Phân loại theo các tính trạng đặc trưng thì tập đoàn lúa chất lượng cao
là tập hợp các giống có chất lượng gạo cao theo yêu cầu của từng vùng khác
5
thấp ở giai đoạn trỗ đến chín.
Yếu tố ngày ngắn thõa mãn trong khoảng thời gian 23/9 đến 21/3
năm sau. Số lá tối thiểu là 14 – 15 lá. Trổ khi 11 – 12 lá gặp thời tiết lạnh
2
Khối lượng 1000 hạt
6
thì năng suất thấp. Do đó cần bố trí thời vụ sao cho sinh trưởng được 15 lá
(7,5 – 8,5 lá thời kì mạ).
Giai đoạn trổ gặp nhiệt độ quá thấp (dưới 15
0
C) thì các giống chuyên
mùa rất khó hoặc không trổ bông. Sau trỗ ở miền Bắc gặp nhiệt độ thấp kéo
dài dẫn đến hạt lúa không vào chắc, lép lững. Ở miền Nam muốn đạt năng
suất cao chú ý cung cấp đủ nước giai đoạn cuối, đảm bảo điều kiện các giống
lúa đạt số lá cần thiết [12].
2.5. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới
2.5.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Dân số thế giới ngày càng tăng, theo Cục điều tra dân số Mỹ, tính đến
ngày 13/8/2009 dân số toàn cầu 6,777 tỉ người và sẽ đạt ngưỡng 9 tỉ người
vào năm 2040 [39]. Với mức gia tăng dân số như hiện nay vấn đề an ninh
lương thực toàn cầu đang là vấn đề cấp bách.
Bảng 2.1. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới giai đoạn 2004 – 2008
Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn)
2004 151,0 40,0 606,0
2005 153,5 40,1 614,0
2006 152,6 41,0 622,1
2007 153,0 41,0 622,2
2008 158,9 43,0 685,0
(Nguồn: FAOSAT)
Toàn thế giới có khoảng 158 triệu ha diện tích trồng lúa, châu Á 141
2008/09 2009/10 Tên các nước NK
(4)
2008/09 2009/10
1 Thái Lan 8.570 10.000 Philippine 2.000 2.600
2 Việt Nam 5.950 5.500 Nigeria 1.900 1.600
3 Hoa Kỳ 3.100 3.150 Iran 1.700 1.700
4 Pakistan 3.000 3.800 Arập Xêút 1.370 1.400
5 Ấn Độ 2.000 2.000 EU-27 1.350 1.350
6 Myanmar 1.052 800 Iraq 1.000 1.100
7 Uruguay 926 750 Malaysia 830 850
8 Campuchia 800 800 Nam Phi 800 800
9 Trung Quốc 760 1.500 Cote d'Ivoire 800 860
10 Brazil 650 300 Senegal 715 700
Thế giới 29.029 30.845 Thế giới 29.029 30.845
(Nguồn: Bộ nông nghiệp Mỹ)
3
Xuất khẩu
4
Nhập khẩu
8
Thị trường gạo chất lượng cao là thị trường cao cấp. Thị trường này
chiếm 25% tổng lượng gạo xuất khẩu của thế giới, thị trường tiêu thụ trước
hết là các nước phát triển, khu vực Tây Âu và Nhật sau đó là các nước NIC
(3)
.
Thị trường này đặc biệt chú trọng quy cách phẩm chất và vệ sinh công nghệ.
Các nhà xuất khẩu chính là Mỹ và Thái Lan. Thực tế những năm qua gạo xuất
khẩu đạt tiêu chuẩn quốc tế được xếp loại A là gạo Mỹ số 2, tỉ lệ tấm không
quá 4%, hạt dài, trắng trong, kích cỡ hạt đều, không lẫn tạp chât, không có
mùi vị lạ, không lẫn hạt đỏ, vàng, sọc…Ngay gạo Mỹ số 5 giá cao hơn gạo
lúa tăng 3 lần. hàm lượng sắt trong gạo tăng khắc phục bệnh thiếu máu [23].
Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đang phát triển 2 giống lúa gạo
vàng là IR64 và BR29. Hàm lượng β – carotene trong các giống IR64 và
BR29 lần lượt được kiểm chứng là 2,32 và 9,24 microgram [28].
Giống lúa giàu sắt là Jao Hon Nin 3 được các nhà khoa học Thái Lan
lai tạo giữa giống lúa Khao Dak Mali và giống lúa Hon Nin. Giống mới này
có hàm lượng sắt là 0,6 mg/100g gạo, cao gấp 30 lần so với gạo của những
giống lúa thường. Ngoài ra nó cũng chứa protein, kẽm và những tác nhân
chống oxy hóa [28].
Với những thành tựu trên trong tương lai, các ứng dụng của công
nghệ sinh học sẽ giúp cho lúa gạo ngày càng có nhiều giá trị đối với đời
sống con người.
2.6. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa ở Việt Nam
2.6.1. Tổng quan ngành lúa gạo Việt Nam
Việt Nam được mệnh danh là cái nôi của nền văn minh lúa nước.
Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, điều kiện thuận lợi cho
lúa phát triển. Với vị trí địa lí dài trên 15 vĩ độ ở Bắc bán cầu, từ Bắc
vào Nam hầu như vùng nào cũng trồng lúa.
Bảng 2.4. Tình hình sản xuất lúa Việt Nam từ 2000 – 2009
Năm
Diện tích
(1000ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng
(1000tấn)
2004 7445,3 48,6 36148,9
2005 7329,2 48,9 35832,9
2006 7324,8 48,9 35849,5
2007 7207,4 49,9 35942,7
2008 7414,3 52,2 38725,1
(Nguồn: Tổng cục hải quan)
Lúa gạo nước ta được xuất khẩu sang một số thị trường chính và chiếm
thị phần lớn đó là: Philippin 1.707.994 tấn, Malaixia 613.213 tấn, Đài Loan
204.959 tấn, Singgapo 327.533 tấn, Irắc 171.000 tấn… (tính riêng năm 2009).
Tháng 1/2010 lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đạt 380.688 tấn về
sản lượng (tăng 86,11% so với cùng kì năm ngoái) và 204.963.159 USD về
giá trị. Các nước châu Á luôn chiếm thị phần lớn trong xuất khẩu gạo nước ta,
điển hình nhất là xuất khẩu sang Philippin đạt 209.728 tấn chiếm đến 55%
tổng sản lượng xuất khẩu.
2.6.2. Tình hình sản xuất lúa chất lượng ở Việt Nam
Từ năm 1999, nông nghiệp bắt đầu tập trung triển khai chương trình
mở rộng diện tích trồng lúa chất lượng cao nhằm tăng giá trị hàng hóa và
thu nhập cho người dân, phấn đấu đạt tổng sản lượng 40 triệu tấn/năm
11
trong đó có 3 – 4 triệu tấn xuất khẩu. Nhà nước đặt chỉ tiêu gieo trồng lúa
chất lượng cao cho đồng bằng sông Cửu Long là 1 triệu ha và đồng bằng
sông Hồng 300.000 ha [12].
Theo Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn căn cứ yêu cầu và khả năng
xuất khẩu gạo cao năm 2007, Bộ chọn 7 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
(Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Long An, Sóc Trăng, Kiên Giang, TP
Cần Thơ) tổ chức mô hình sản xuất lúa chất lượng cao. Các tỉnh này sẽ phối
hợp với tổng công ty Lương thực miền Nam tổ chức mô hình sản xuất 1 triệu
ha lúa chất lượng cao trong vụ Đông xuân 2006 – 2007, chế biến 500.000 tấn
gạo chất lượng cao xuất khẩu [33].
Vụ lúa Đông xuân 2006 - 2007 tỉnh Đồng Tháp xuống giống được hơn
125.000 ha lúa chất lượng cao, chiếm 60,20% diện tích trồng lúa toàn tỉnh,
bình quân mỗi ha sau khi trừ chi phí cho lợi nhuận từ 20 đến 30 triệu đồng,
cao hơn sản xuất lúa bình thường từ 5 đến 15 triệu đồng/ha [32].
Vụ mùa năm 2009, toàn huyện Lương Tài (Bắc Ninh) gieo trồng 866,2
ha giống lúa chất lượng cao, chiếm gần 20% diện tích, bằng 147% so với
Hạt thóc còn sót lại Tối đa 3 hạt/kg Thường ≤ 5 hạt/kg
Độ ẩm Tối đa 14% Thường ≤ 14,5%
Ngoại chất Tối đa 0,1% Thường còn 0,5-1%
(Nguồn: FAO: Thông tin thương mại toàn cầu trên mạng Internet)
Bảng trên so sánh gạo chất lượng cao của Việt Nam với gạo chất lượng
thấp của Mỹ mà không đề cập gạo chất lượng cao hơn vì lúc đó Việt Nam
không có. Trong 9 chỉ tiêu cơ bản nhất được đưa ra, gạo Việt Nam đều thua
kém rất nhiều so với gạo Mỹ, trừ tiêu chuẩn 5 (lẫn gạo nếp). Còn rất nhiều
công việc phải làm để nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu của nước ta [24].
Mặc dù gạo Việt Nam đứng thứ hai thế giới về sản lượng xuất khẩu
nhưng lại đứng thứ ba về chất lượng. Muốn nâng cao chất lượng gạo tiêu
dùng nội địa và gạo xuất khẩu, trước tiên phải làm một cuộc cách mạng về
giống lúa.
13
Bảng 2.7. Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam sangớmotj số thị trường
ngày 26/10/2009
Mặt hàng
Giá (USD/
tấn)
Nước xuất
khẩu
Cảng xuất khẩu
Đ/K giao
hàng
Gạo trắng 100% tấm 300.00 Singapore ICD Phước Long Thủ Đức FOB
Gạo trắng 100% tấm 300.00 Đài Loan
ICD III - Transimex (Cang
SG khu vực IV)
FOB
Gạo trắng 100% tấm
Sơn…cũng đã quan tâm đến vấn đề chất lượng lúa gạo và việc nghiên cứu chất
lượng lúa gạo [1].
Nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng nông sản nói chung và
chất lượng lúa gạo nói riêng những năm qua nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu
về chất lượng lúa gạo và đã có nhiều công trình được công bố.
Để tăng năng suất, phẩm chất cây trồng thì công tác giống là biện pháp
tối ưu nhất. Trong khoảng 20 năm trở lại đây, nước ta đã có những bước tiến
nhảy vọt trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo.
Ở miền Bắc sau khi được thành lập, trường Đại học Nông nghiệp I đã
tiến hành thu thập, đánh giá và bảo quản được 750 mẫu giống lúa có tiềm
năng năng suất, phẩm chất tốt, phản ứng khá với sâu bệnh và có khả năng
chống chịu với điều kiện ngoại cảnh [24].
Hiện nay nước ta có khoảng 6.000 giống lúa địa phương được lưa giữ
tại ngân hàng gen Hà Nội, trong đó có 167 giống lúa nếp và 108 giống lúa
thơm. Ở Đại học Cần Thơ cũng có hơn 5.000 giống lúa trong đó có 1.552
giống địa phương, 498 giống lúa rẫy được thu thập từ miền Bắc đến Tây
Nguyên [33]. Hiện Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long đang tồn trữ 1.826
mẫu giống lúa mùa gồm 219 giống lúa sớm, ít cảm quang và 1.617 giống lúa
lỡ và muộn có tính cảm quang [7]. Trung tâm Tài nguyên di truyền Thực vật
của Viện khoa học nông nghiệp kĩ thuật Việt Nam đã thu thập và bảo quản
trên 5000 mẫu giống lúa địa phương. Đó thực sự là những gen quý trong công
tác tạo giống [4].
Viện nghiên cứu lúa Đồng bằng sông Cửu Long đã sử dụng phương
pháp ứng dụng phương pháp ứng dụng CNSH
(6)
kết hợp với phương pháp
khảo nghiệm đồng ruộng để chọn tạo các giống lúa ngắn ngày, năng suất
cao, chất lượng tốt như OM1490, OM2517, OM3536... [21].
6
Công nghệ sinh học
tấn (2004) lên 218,3 nghìn tấn (2008). Bên cạnh đó nhờ áp dụng những tiến bộ
khoa học kĩ thuật, đưa nhiều giống mới năng suất cao, chất lượng tốt, chống
chịu với sâu bệnh hại, điều kiện ngoại cảnh bất lợi cùng với việc nâng cao trình
độ sản xuất cho người dân mà năng suất lúa ngày càng được cải thiện.
7
Cộng tác viên
16
2.7.2. Tình hình ngiên cứu lúa ở Quảng Trị
Năm 1990 công tác giống do Trung tâm khảo nghiệm phụ trách, năm
2000 Trung tâm giống Quảng Trị được thành lập và đảm nhiệm công tác này
cùng với hai trại giống lúa ở huyện Vĩnh Linh và Thị xã Quảng Trị. Ngoài ra
trung tâm kết hợp với các Hợp tác xã để sản xuất các giống lúa xác nhận. Do
còn nhiều hạn chế nên đội ngũ cán bộ khoa học kĩ thuật và cơ sở vật chất nên
hiện nay trung tâm chỉ mới thực hiện một số nhiệm vụ: khảo nghiệm giống
mới, phục tráng giống, sản xuất và cung ứng giống cho nông dân.
Là khu vực chịu ảnh hưởng của hai loại khí hậu nên Quảng Trị có thể
trồng được giống lúa ở khu vực Bắc, Nam. Lợi dụng điều đó trung tâm đã thu
thập các giống lúa từ Viện, Trung tâm nghiên cứu trong toàn quốc để đưa vào
khảo nghiệm tại địa phương. Những năm qua trung tâm đã khảo nghiệm 76
giống xuất xứ từ miền Nam, 80 giống miền Bắc và đã xác định được bộ giống
mới đưa vào sản xuất như HT1, HC95, P6, IR35366, IR50404… Ngoài ra
trung tâm còn phục tráng giống lúa chủ lực: Khang dân, HT1…thực hiện tốt
công tác cung ứng giống phục vụ nhu cầu sản xuất trên địa bàn.
2.7.3. Tình hình sản xuất lúa ở huyện Vĩnh Linh – Quảng Trị
Vĩnh Linh là huyện thuần nông với 51% dân số tham gia sản xuất nông
nghiệp. Tổng diện tích tự nhiên là 620 km
2
diện tích trồng lúa ở Vĩnh Linh
tăng liên tục trong những năm gần đây, từ 6.450ha (năm 2000) lên 6.555 (năm
2008). Bên cạnh đó sản lượng lúa gạo cũng tăng từ 25.146 nghìn tấn (năm
các giống lúa chất lượng cao.
Nghiên cứu khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất
lợi của các giống.
Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống.
Nghiên cứu một số chỉ tiêu phẩm chất gạo của các giống như chất lượng
gạo.
Hiệu quả kinh tế của các giống lúa thí nghiệm.
18
3.3. Phương pháp nghiên cứu
Khảo nghiệm - thăm dò sự thích ứng của một số giống lúa thông qua các
thí nghiệm, bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCB) với 3 lần nhắc lại.
Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi tuân theo qui phạm khảo nghiệm 10
TCVN-2002 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành và theo sổ
tay phương pháp nghiên cứu khoa học ngành trồng trọt - trường Đại học Nông
Lâm Huế. Các biện pháp kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm thực hiện theo qui
trình kỹ thuật chung.
3.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm gồm 7 giống (HT1 làm đối chứng).
Mỗi giống là 1 công thức, gồm 3 lần nhắc lại.
Diện tích mỗi ô thí nghiệm: 10m
2
(2m x 5m).
Diện tích mỗi công thức thí nghiệm: 3 x 10m
2
= 30m
2
.
Diện tích thí nghiệm: 7 x 30m
2
= 210m
b
VI
b
VII
c
IV
c
II
c
V
c
I
c
VI
c
III
c
B
ả
o
v
ệ
Bảo vệ
I, II, III,…,VII: Là thứ tự công thức thí nghiệm.
a, b, c: Là thứ tự 3 lần nhắc lại.
3.3.2. Điều kiện thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí trên đất vụ lúa 2 vụ/năm, đất thịt nhẹ được canh
tác qua nhiều năm, tưới tiêu chủ động.
3.3.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Lần 2: Sau lần 1 từ 15 - 20 ngày: 45% đạm + 30% kali
Lần 3: Bón đón đòng (trước trổ 20 – 25 ngày): 25% đạm + 50% kali
2.4.3. Chăm sóc
Tiến hành tỉa dặm, định cây theo dõi và cây ở ruộng bảo vệ vào giai
đoạn lúa 3 lá thật (sau gieo 15 ngày).
Làm cỏ sục bùn kết hợp bón thúc đợt 1.
Thường xuyên làm sạch cỏ hai bên bờ ruộng tạo cho ruộng lúa thông
thoáng đề phòng sâu bệnh và chuột phá hại.
2.4.4. Chế độ nước
Chế độ nước trong ruộng phụ thuộc từng thời kì sinh trưởng, phát triển
của cây lúa.
Giai đoạn cây con: giữ khô mặt ruộng trong vòng 3 ngày sau khi sạ.
Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng: Sau khi sạ được 7 - 10 ngày, cho nước vào
ruộng và giữ nước trên mặt ruộng ở mức 5 – 7 cm. Giai đoạn sinh trưởng sinh
thực: Giữ nước trong ruộng ở mức 3 – 5 cm. Giai đoạn chín: Giữ nước trong
ruộng ở mức 2 – 3 cm cho đến giai đoạn chín vàng (7 - 10 ngày trước khi thu
hoạch) tháo cạn nước trong ruộng.
20
2.4.5. Thu hoạch
Thu hoạch khi 85% số hạt/bông đã chin. Thu riêng từng ô, phơi đến độ
ẩm 14%, cân khối lượng (kg/ô).
3.5. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
3.5.1. Một số đặc điểm hình thái và tính trạng đặc trưng của giống
Các chỉ tiêu được theo dõi trên 10 cây định trước ở mỗi ô
- Màu sắc thân.
- Dạng thân.
- Hình dạng lá.
- Màu sắc lá.
- Kích thước lá đòng (Chiều dài lá đòng, Chiều rộng lá đòng).
- Thời gian của giai đoạn trỗ.
- Số nhánh tối đa: Tổng số nhánh sau khi kết thúc đẻ.
- Số nhánh hữu hiệu: Là số nhánh thành bông có trên 10 hạt chắc.
- Tỷ lệ nhánh hữu hiệu (%) = Số nhánh hữu hiệu/số nhánh tối đa x 100.
- Động thái đẻ nhánh: Theo dõi số nhánh theo từng thời kỳ.
+ Thời kỳ bén rễ hồi xanh.
+ Thời kỳ lúa đẻ nhánh rộ.
+ Thời kỳ lúa làm đòng.
3.5.5. Một số chỉ tiêu về yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
- Số bông/m
2
: Số bông/m
2
= số khóm/m
2
x số bông/khóm.
- Số hạt trên bông: Mỗi ô đếm tổng số hạt có trên bông của 30 bông rồi
tính trung bình số hạt/bông.
- Số hạt chắc/bông: Trên cơ sở đếm số hạt/bông, loại bỏ hạt lép rồi tính
trung bình số hạt chắc/bông .
- Tỉ lệ lép/bông (%): Tính tỷ lệ (%) hạt lép trên bông.
- Khối lượng 1000 hạt (g): Cân 10 mẫu, mỗi mẫu 100 hạt ở độ ẩm 13%,
- Năng suất lý thuyết (tạ/ha):
NSLT = (Số bông/m
2
) x ( số hạt chắc/bông) x P
1000 hạt
/ 10.000
- Năng suất thực thu (tạ/ha): Cân khối lượng thực thu sau khi phơi khô
(độ ẩm hạt 14%) của 3 lần nhắc lại, quạt sạch đem cân lấy trung bình, đơn vị
kg/ô, quy ra năng suất tạ/ha.
K: Là cấp bệnh cao nhất của thang phân cấp.
* Đối với bệnh khô vằn
- Tỷ lệ bệnh tính theo công thức:
* Tỉ lệ bệnh (%) =
Số dảnh bị bệnh.
Tổng số dảnh điều tra
x 100
Bảng phân cấp bệnh
23
- Cấp 1: < 1/4 diện tích bẹ lá bị bệnh.
- Cấp 3: Từ 1/4 - 1/2 diện tích bẹ lá bị bệnh.
- Cấp 5: Từ 1/4 - 1/2 diện tích bẹ lá bị bệnh, cộng lá thứ 3, 4 bị nhiễm bệnh.
- Cấp 7: > 1/2 - 3/4 diện tích bẹ lá và lá phía trên bị bệnh.
- Cấp 9: Vết bệnh leo tới đỉnh cây lúa, các lá nhiễm nặng, một số cây chết.
- Chỉ số bệnh tính theo công thức
* Chỉ số bệnh (%) =
∑[(N1x1) +...+ (Nn x n)]
NxK
x 100
Trong đó:
N1: Là số dảnh bị bệnh cấp 1.
Nn: Là số dảnh bị bệnh cấp n.
N: Là tổng số lá điều tra.
K: Là cấp bệnh cao nhất của thang phân cấp.
* Đối với rầy nâu
Điều tra mật độ rầy: Con/m
2
.
Mật độ rầy tính bằng công thức:
theo thiết diện, cho theo thang điểm từ 1 đến 9 điểm.
+ Điểm 1: Hoàn toàn trong hoặc có 1 đốm nhỏ bạc bụng.
+ Điểm 5: Vết màu trắng chiếm khoảng 1/2 thiết diện hạt gạo
+ Điểm 9: Quá nửa thiết diện có màu trắng.
- Chiều dài hạt gạo: Chọn 50 – 100 hạt gạo giã nguyên vẹn, dùng thước
kẹp Palme để đo chiều dài và chiều rộng (chiều rộng đo từ giữa lưng đến giữa
bụng hạt), rồi đưa vào bảng xếp loại.
Bảng phân loại chiều dài và hình dạng hạt gạo
Xếp hạng
chiều dài
hạt gạo
Chiều dài hạt
(mm)
Thang
điểm
Xếp loại
dạng hạt
gạo
Tỉ lệ dài/rộng Điểm
Rất dài > 7,50 1 Thon > 3,0 1
Dài 6,61 – 7,50 3 Trung bình 2,1 – 3,0 3
Trung bình 5,51 – 6,60 5 Bầu 1,1 – 2,0 5
Ngắn 5,50 7 Tròn < 1,1 9
Rất ngắn < 5,50 9
3.5.8.2. Chất lượng xay xát
- Tỉ lệ gạo xay (%): Cân 100 g lúa có độ ẩm thuỷ phần là 14% , xát
sạch vỏ trấu rồi đem cân khối lượng và tính % khối lượng gạo đã xát sạch vỏ
trấu và khối lượng lúa ban đầu .
- Tỉ lệ gạo giã (%): lấy gạo đã xay sạch vỏ trấu tiếp tục xát trắng , rồi
đem cân lượng gạo và tính tỷ lệ.