1
BỘ CÔNG THƯƠNG
TẬP ĐOÀN DỆT MAY VIỆT NAM
====================
VIỆN NGHIÊN CỨU BÔNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NHA HỐ
BÁO CÁO TỔNG KẾT DỰ ÁN Tên dự án:
SẢN XUẤT THỬ NGHIỆM GIỐNG BÔNG LAI VÀ
GIỐNG NGÔ LAI TRÊN MÔ HÌNH XEN CANH Chủ nhiệm dự án: TS. Trần Thanh Hùng 9048
Ninh Thuận, 01/2012
bách của thực tiễn sản xuất bông.
* Mục tiêu của dự án
- Mục tiêu tổng quát của dự án
Hoàn thiện được quy trình kỹ thuật công nghệ sản xuất hạt giống bông lai
xen canh với sản xuất h
ạt giống ngô lai có hiệu quả cao.
3
- Mục tiêu cụ thể của dự án
+ Xác định được mô hình xen canh bông sản xuất hạt giống lai với ngô sản
xuất hạt giống lai có hiệu quả cao và chất lượng tốt.
+ Tăng hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích gieo trồng, góp phần tăng thu
nhập và cải thiện đời sống cho người dân trong vùng dự án.
+ Hoàn thiện, áp dụng và giới thiệu được quy trình sản xuất hạt giống bông
lai tr
ồng xen canh với cây ngô giống.
+ Cung cấp 28 tấn hạt giống bông lai, 120 tấn hạt giống ngô lai đủ tiêu
chuẩn chất lượng cho thị trường.
2.3 Thời gian và địa điểm triển khai dự án……………………………… 19
3 KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN………………………………………… 20
3.1 Kết quả xây dựng các mô hình trồng xen canh sản xuất hạt giống
bông lai và hạt giống ngô lai
20
3.2 Kết quả nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật sản xuất xen canh 23
5
giống bông lai với giống ngô lai………………………………………
3.3 Kết quả nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất giống bông lai
xen canh với ngô lai……………………………………………………
27
3.4 Kết quả nhân dòng bố mẹ và sản xuất thử nghiệm giống bông lai và
giống ngô lai trên mô hình xen canh…………………………………
28
3.4.1 Kết quả nhân dòng bố mẹ cung cấp cho sản xuất hạt lai………………… 28
3.4.2 Kết quả sản xuất thử nghiệm giống bông lai và giống ngô lai trên mô
hình xen canh……………………………………………………………
29
3.5 Kết quả đào tạo kỹ thuật cho cán bộ khuy
ến nông và công nhân sản
xuất giống………………………………………………………………
33
3.6 Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của dự án………… 34
3.6.1 Hiệu quả kinh tế………………………………………………………… 34
3.6.2 Hiệu quả xã hội và môi trường…………………………………………. 36
4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ………………………………………… 37
4.1 Kết luận…………………………………………………………………. 37
4.2 Kiến nghị……………………………………………………………… 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………… 39
TÓM TẮT DỰ ÁN (TRONG 2 NĂM 2010 - 2011)
7
TT Nội dung công việc Sản phẩm cần đạt Kết quả đạt được
NĂM 2010
1.
Xây dựng các mô
hình trồng xen canh
sản xuất hạt giống
bông lai và hạt giống
ngô lai
Xác định được 1 - 2
mô hình sản xuất
giống bông xen với
ngô lai có hiệu quả
cao, phù hợp với
điều kiện của vùng.
Xác định được 1 mô hình sản
xuất giống bông xen với ngô lai
vụ; phòng trừ sâu chích hút
bằng thuốc có nguồn gốc hữu
cơ sinh học; tổng thời gian lai
thích hợp là 30-35 ngày (rút
ngắn từ 5 - 10 so với trồng
thuần theo quy trình cũ)
4 Sản xuất thử
nghiệm giống bông
lai và giống ngô lai
trên mô hình xen
canh
10 - 15 ha mô hình
sản xuất thử nghiệm
hạt giống bông lai
xen ngô lai
Đã tổ chức sản xuất thử nghiệm
30 ha mô hình sản xuất thử
nghiệm hạt giống bông lai xen
ngô lai
NĂM 2011
8
TT Nội dung công việc Sản phẩm cần đạt Kết quả đạt được
1
Xây dựng quy trình
sản xuất giống bông
lai xen canh với ngô
lai
01 quy trình kỹ thuật
công nghệ sản xuất
giống trong điều kiện
xen canh và chất
lượng hạt giống
- Báo cáo đánh giá
hiệu quả sản xuất
- 28 tấn hạt giống
bông và 120 tấn hạt
giống ngô được
kiểm nghiệm chất
lượng
- Báo cáo đánh giá hiệu quả
kinh tế của mô hình sản xuất
giống bông lai xen ngô lai.
- Đã tổ chứ
c sản xuất được 56,2
tấn hạt giống bông lai F1 và
122,5 tấn hạt giống ngô lai F1
đạt tiêu chuẩn kiểm nghiệm
chất lượng
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
9
Trong khi đó, việc sản xuất hạt giống bông lai ở nước ta cũng tương tự như
Trung Quốc nhưng giá thành thấp hơn, giá 1 kg hạt giống bông lai thương mại trong
nước hiện nay khoảng 9,5 USD. Bên cạnh đó, việc sử dụng các giống bông lai trong
sản xuất ở Việt Nam trong những năm qua đã chứng tỏ những đặc điểm ưu việt của
nó so với các giống bông thuần (
ưu thế lai về năng suất cao hơn từ 20-30%; khả năng
kháng sâu bệnh được cải thiện đáng kể, qua đó giảm chi phí phòng trừ sâu bệnh
khoảng 1/3 lần; các đặc tính về chất lượng xơ được cải tiến rất nhiều đáp ứng yêu cầu
về phẩm chất xơ sợi cho công nghiệp Dệt trong nước), do đó việc sản xuất và sử dụng
hạ
t giống bông lai trong nước là một yêu cầu không thể thiếu, hợp lý và có cơ sở.
1.2. Tình hình nghiên cứu về mô hình xen canh bông với cây trồng ngắn ngày
trên thế giới
Nghiên cứu trồng xen canh bông với các cây trồng khác đã được nhiều nước
trên thế giới quan tâm. Tại những vùng trồng bông thì với cơ cấu luân xen canh
hợp lý đã có tác dụng làm cân bằng sinh thái, giảm tác hại của sâu bệnh, tăng hệ số
sử dụng đất và nhất là có hi
ệu quả kinh tế cao hơn so với trồng độc canh hoặc
trồng thuần.
Sử dụng cây trồng xen với bông cũng được nhiều nước nghiên cứu và áp
dụng. Tại Brazil, với nghiên cứu mô hình trồng xen bông - đậu đũa (tỷ lệ 2 bông :
1 đậu đũa) có hiệu quả kinh tế cao (Bezerra-Neto và ctv, 1991) [8].
Tại Ấn Độ trồng bông xen lạc làm tăng hiệu quả kinh tế và hiệu suất sử dụng
đất có ý nghĩa so v
ới trồng bông xen đậu xanh hoặc trồng bông thuần, tuy năng
suất bông ở mô hình bông xen lạc có thấp hơn (0,91 tấn/ha) so với bông thuần
(1,04 tấn/ha) nhưng không đáng kể.
Đặc biệt, trong công tác phòng trừ tổng hợp sâu hại bông thì những thành
tựu nghiên cứu trồng xen các loại cây trồng khác với bông đã góp phần đáng kể
11
trí thời vụ gieo ngô sao cho khi thời kỳ sâu xanh cao trên
12
bông trùng với thời kỳ phun râu của ngô đã làm giảm tác hại của sâu xanh đối với
bông và hạn chế được việc sử dụng thuốc hóa học trên đồng bông.
1.3. Tình sản xuất và sử dụng giống bông tại Việt Nam
Trước năm 1995, sản xuất bông trong nước chủ yếu sử dụng các giống bông
thuần không kháng sâu như TH1, TH2, M456-10, MCU5; MCU9, LRA5166,
TM1, D16-2, C118… Mặc dù các giống này cho năng suất khá (năng suất bình
quân cả nước khoả
ng 800 kg bông hạt/ha) nhưng tiềm năng năng suất vẫn chưa ổn
định trước những biến đổi bất lợi của các tiểu vùng sinh thái trồng bông vốn rất đa
dạng. Bên cạnh đó, các giống bông này không có khả năng chống chịu một số loại
sâu hại chính như sâu đục quả (Helicoverpa armigera), rầy xanh chích hút
(Amrasca devastans), đồng thời chất lượng xơ bông vẫn chưa đáp ứng
được nhu
cầu của công nghiệp Dệt May nên sản xuất bông của nước ta trong giai đoạn này
gặp nhiều khó khăn, diện tích trồng bông hàng năm (niên vụ 1996/1997) chỉ dao
động trong khoảng dưới 10 ngàn ha (Nguyễn Hữu Bình và Đào Hữu Vinh, 1998)
[1].
Từ năm 1995 trở đi, Việt Nam kết hợp nhập nội và thử nghiệm một số giống
lai từ Ấn Độ, đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu s
ử dụng ưu thế lai, tập trung vào các
giống lai cùng loài bông Luồi (Intra-hirsutum). Kết quả sử dụng giống lai nhập nội
như Bioseed 7 và các giống lai nội đầu tiên như L18, VN20 và VN35 thành công
trong sản xuất đã góp phần mở rộng đáng kể diện tích và tăng năng suất từ 1,5-2,0
lần (từ 0,6-0,7 tấn/ha lên 1,0-1,2 tấn/ha). Mặc dù các giống bông lai L18, VN20 và
VN35 có ưu thế lai cao về năng suất, chất lượng xơ, có khả năng kháng r
ầy xanh
(Amrasca devastans) từ trung bình đến khá, nhưng các giống này không có khả
ng
thường. Bông trồng xen ngô hoặc các loại đậu còn có tác dụng làm tăng quần thể
thiên địch có ích, làm giảm mật độ rệp và sâu xanh so với trồng bông thuần
(Nguyễn Thị Hai, 1996) [2].
14
Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Bông và Phát triển nông nghiệp
Nha Hố tại Quảng Nam trong những năm qua cho thấy, trồng bông xen canh với
ngô và các loại cây họ đậu cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với trồng bông thuần.
Đồng thời, việc trồng xen đậu xanh với bông còn có tác dụng làm tăng thiên địch
trên cây bông như ong mắt đỏ, nhện … do đó tỷ lệ sâu xanh giảm, tỷ lệ bệnh và chỉ
số b
ệnh xanh lùn cũng giảm hẳn so với bông trồng thuần. Trồng gối ngô vào bông
cũng làm cho sâu xanh trên cây bông chỉ tồn tại ở mức thấp và khá ổn định.
Kết quả nghiên cứu của Đinh Quang Tuyến và cs năm 2008 [6] cho thấy, tại
Quảng Nam, cây bông chủ yếu được trồng xen với đậu cove lùn, đậu tương và ngô.
Việc trồng bông xen với đậu cove lùn với khoảng cách giữa hai hàng bông là 0,8m
xen hàng 2 hàng đậu cove lùn đã mang lại hiệu quả kinh t
ế rất cao so với trồng
bông thuần.
Kết quả thử nghiệm qua 2 năm (2001 và 2002) tại Quảng Ngãi, bước đầu
cho thấy cây bông trong hệ thống trồng xen với các cây trồng truyền thống của địa
phương đã cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với trồng bông thuần và cao hơn so
với các cơ cấu cây trồng khác. Việc trồng bông xen với các cây trồng khác đã tận
dụng được thời gian, không gian và tiế
t kiệm được công chăm sóc. Các mô hình
bông xen lạc, đậu cô ve, ngô hoặc đậu tương trong điều kiện mùa khô có tưới bổ
sung đều cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với mô hình trồng thuần (Lê Quang
Quyến và cs, 2004) [5].
Theo Phạm Xuân Hưng, 2002 [4] tại Thanh Hóa, trồng bông xen lạc với
Chương 2. THỰC NGHIỆM
2.1. Nội dung triển khai dự án
Để đáp ứng mục tiêu và yêu cầu đề ra, dự án tiến hành triển khai trong hai
năm (2010-2011) theo các nội dung chính, gồm:
1) Xây dựng các mô hình trồng xen canh sản xuất hạt giống bông lai và hạt
giống ngô lai.
2) Xây dựng một số giải pháp kỹ thuật sản xuất xen canh giống bông lai với
giống ngô lai.
3) Nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất giống bông lai xen canh với
ngô lai.
4) Sản xuất thử nghiệm giống bông lai và giống ngô lai trên mô hình xen canh.
5) Đánh giá hiệu quả của mô hình sản xuất giống trong điều kiện xen canh
và chất lượng hạt giống.
6) Đào tạo cán bộ kỹ thuật và công nhân sản xuất giống.
2.2. Điều kiện và phương án triển khai dự án
Để thực hiện được khối lượng công việc theo nội dung đề ra, bên cạnh việc hỗ
trợ kinh phí của dự án, Viện đã huy động các nguồn lực tại chỗ bao gồm: cơ sở vật
chất, nguồn nhân lực và một số điều kiện khác để tổ chức triển khai.
2.2.1. Điều kiện triển khai dự án
* Giống bông cho sản xuất
- Các giống bố mẹ ban đầu sử dụng cho triển khai sản xuất hạt F
1
là sản
phẩm nghiên cứu, đánh giá chọn lọc qua nhiều năm của Viện Nghiên cứu bông và
Phát triển nông nghiệp Nha Hố (gồm bố mẹ của 02 giống bông lai VN04-3 và
17
+ 100kg P
2
O
5
+ 100 kg K
2
O/ha. Tỷ lệ gieo bông bố/mẹ là ¼, chiều dài hàng bông:
9m; vật liệu là bố mẹ của giống bông lai VN04-3.
Cây ngô: khoảng cách gieo 0,7m x 0,2 x 1 cây, lượng phân bón 180 kg N +
100 kg P
2
0
5
+ 100 kg K
2
0. Tỷ lệ gieo ngô bố/mẹ là ¼, chiều dài hàng ngô: 7m; vật
liệu là bố mẹ của giống ngô lai LVN10.
- Nội dung 2
: Xây dựng hệ thống giải pháp kỹ thuật sản xuất xen canh giống
bông lai với giống ngô lai: trên cơ sở các giải pháp kỹ thuật đang áp dụng phổ biến
trong sản xuất, dự án sẽ nghiên cứu bổ sung một số giải pháp kỹ thuật khác (mật độ
gieo trồng, phun PIX sớm kết hợp bấm ngọn cho bông, biện pháp duy trì bộ lá cuối
vụ) phù hợp cho mô hình sản xuất giống bông lai xen ngô lai mang lại hi
ệu quả
kinh tế cao và bền vững.
- Nội dung 3
: Nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất giống bông lai xen
canh với ngô lai: nghiên cứu bổ sung các thông số kỹ thuật phù hợp cho quy trình
sản xuất hạt giống bông lai và giống ngô lai trên mô hình trồng xen để áp dụng cho
sản xuất thử nghiệm.
Duyên hải miền Trung và Tây nguyên thông qua hợp đồng với Công ty Cổ phần
giống cây trồng Trung Ương và các đơn vị kinh doanh khác. 20
Bảng 2.2. Phương án tiêu thụ sản phẩm của dự án
Niên
vụ
Tên sản
phẩm
Nơi tiêu thụ
Hình thức tiêu
thụ
Số lượng
tiêu thụ
(kg)
Đơn giá
(1.000 đ)
Thành tiền
(1.000 đ)
Hạt giống
bông lai F1
Các vùng
trồng bông
trong nước
Hợp đồng với
Công ty CP
Bông Việt Nam
14.000 125 1.750.000
Trung bộ,
Tây nguyên
Hợp đồng với
Công ty CP
giống cây trồng
Trung Ương
60.000 23 1.380.000
Tổng cộng 6.260.000
2.3. Thời gian và địa điểm triển khai dự án
- Thời gian: tổng thời gian thực hiện dự án là 24 tháng, từ tháng 01/2010 -
12/2011.
- Địa điểm thực hiện dự án: tất cả các nội dung của dự án được triển khai tại
Viện Nghiên cứu bông & phát triển nông nghiệp Nha Hố, Ninh Thuận. 21
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN
3.1. Kết quả xây dựng các mô hình trồng xen canh sản xuất hạt giống bông lai
và hạt giống ngô lai
Thí nghiệm được tiến hành trong vụ khô 2010 tại Nha Hố, Ninh Thuận, gồm
7 công thức:
+ Công thức 1: Bông thuần (đối chứng 1).
+ Công thức 2: Ngô thuần (đối chứng 2).
+ Công thức 3: 1 băng ngô + 1 băng bông.
+ Công thức 4: 1 băng ngô + 2 băng bông.
+ Công thức 5: 1 băng ngô + 3 băng bông.
+ Công thức 6: 2 băng ngô + 1 băng bông).
+ Công thức 7: 3 bă
ng ngô + 1 băng bông).
Ngô Bông
Ngô Bông
Ngô Bông
Ngô Bông
CT1- Bông thuần (đ/c 1) - 3.56 - 3.56
CT2- Ngô thuần (đ/c 2) 7.15 - 7.15 -
CT3- 1 băng ngô+1 băng bông 7.11 3.50 -0.6 -1.7 3.71 1.68 -48.2 -52.9
CT4- 1 băng ngô+2 băng bông 7.10 3.49 -0.7 -2.0 2.50 2.26 -65.0 -36.5
CT5- 1 băng ngô+3 băng bông 7.12 3.53 -0.4 -0.8 1.90 2.59 -73.5 -27.2
CT6- 2 băng ngô+1 băng bông 7.09 3.49 -0.8 -2.0 4.86 1.10 -32.0 -69.2
CT7- 3 băng ngô+1 băng bông 7.11 3.47 -0.6 -2.5 5.44 0.81 -23.9 -77.2
Kết quả nghiên cứu tại bảng 3.2 cho thấy năng suất bông trên các mô hình
trồng xen giảm không đáng kể so với đối chứng trồng thuần từ 0,8-2,5 %, trong đó,
công thức 5 (1 băng ngô+3 băng bông) có tỷ lệ giảm thấp nhất 0,8%, đạt 3,53
tấn/ha, tương đương đối chứng trồng bông thuần.
23
Bên cạnh đó, năng suất ngô xen giảm so với đối chứng trồng thuần từ 0,4-
0,8%, trong đó giảm ít nhất là công thức 5 (1 băng ngô+3 băng bông).
Tuy nhiên, do tỷ lệ diện tích bông và ngô khác nhau trên các mô hình xen
nên sản lượng bông và ngô thu được có sự khác biệt giữa các công thức thí
nghiệm. Trong đó, công thức 1 (trông thuần) đạt sản lượng 3,56 tấn/ha, các công
thức trồng xen có sản lượng bông đạt từ 0,81-2,59 tấn/ha, giảm so với đối chứng
trồng bông thu
ần từ 27,2-77,2%. Sản lượng ngô đạt từ 1,90-5,44 tấn/ha, giảm từ
23,9-73,5% so với đối chứng trồng ngô thuần (bảng 3.2).
Trên sở phân tích các khoản thu, chi phục vụ mô hình, chúng tôi tiến hành
đánh giá hiệu quả kinh tế của từng công thức, kết quả thể hiện chi tiết tại bảng 3.3.
Bảng 3.3
đực và lai hoa). Do đó, các công thức xen có tỷ lệ diện tích bông càng cao thì chi
phí sản xuất càng lớn và ngược lại. Các công thức xen có tổng chi từ 43,2 - 123,5
triệu đồng/ha, trong đó, cao nhất là công thức 5 (1 băng ngô+3 băng bông), kế đến
là công thức 4 (1 băng ngô+2 băng bông) và ít chi phí nhất là công thức 7 (3 băng
ngô+1 băng bông).
Tuy nhiên, do giá bông (70.000 đồng/kg) cao hơn rất nhiều so với giá ngô
(8.200 đồng/kg) nên các công th
ức có diện tích và năng suất bông cao mang lại
tổng thu cao hơn. Công thức 5 (1 băng ngô+3 băng bông) đạt tổng thu (196,8 triệu
đồng/ha) và lợi nhuận (63,8 triệu đồng/ha) cao nhất trong các công thức trồng xen,
tương đương với đối chứng trồng bông thuần. Các công thức xen còn lại đều có lợi
nhuận thấp hơn so với đối chứng trồng bông thuần từ 20-65% và cao hơn đối
chứng ngô thuần (23,0 triệu đồng/ha) có ý nghĩa.
3.2. K
ết quả nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật sản xuất xen canh giống
bông lai với giống ngô lai
Thực trạng sản xuất hạt giống bông lai trong những năm qua cho thấy, hệ
thống tổ chức sản xuất và chế biến khá chặt chẽ, tuân thủ đúng quy trình đề ra
nhằm đạt được năng suất và chất lượng hạt lai cao nhất. Tuy nhiên, quy trình kỹ
thuật đang áp dụng có s
ố ngày khử đực - lai hoa khá nhiều (từ 40 - 45 ngày/vụ lai),
theo đó chi phí công lao động tăng lên đáng kể. Mặt khác, chất lượng hạt giống
giữa các lô thu hoạch ít đồng đều (các lô thu hoạch đợt cuối thường có độ thuần
thấp hơn, hạt giống không mẩy, sức nảy mầm giảm ).
Trong bối cảnh hiện nay, việc sản xuất hạt giống bông lai F
1
bằng phương
pháp thủ công gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là áp lực công lao động thời vụ, chi phí
vật tư đầu vào cho sản xuất còn khá cao. Để giảm bớt áp lực về công lao động,
cạnh tranh cây trồng, tăng hiệu quả sử dụng đất, tăng hiệu quả sản xuất giống; đồng
2,3 3,0 ns ns ns
Kết quả nghiên cứu tại bảng 3.4 cho thấy, thời gian sinh trưởng của giống
bông lai VN04-3 trên mô hình trồng xen có sự sai khác so với đối chứng trồng
thuần (thời gian từ gieo đến nở quả ngắn hơn đối chứng khoảng 5 ngày). Chiều cao
cây và số cành quả/cây của giống bông lai VN04-3 không có sự sai khác giữa mô
hình và đối chứng.
Theo nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, việc trồng xen bông với các cây
trồng ngắn ngày không những giúp tăng hiệ
u quả kinh tế và còn cải thiện được chất