nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác cây cải dầu ở tây nguyên - Pdf 13


BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU DẦU VÀ CÂY CÓ DẦU BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH
CANH TÁC CÂY C

I D

U
Ở TÂY NGUYÊN
MÃ SỐ ĐỀ TÀI: 197.RD/ HĐ-KHCN

CHỦ TRÌ THỰC HIỆN: TS. NGUYỄN THỊ LIÊN HOA



NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH
CANH TÁC CÂY CẢI D

U
Ở TÂY NGUYÊN
Thực hiện theo Hợp đồng đặt hàng sản xuất và cung cấp dịch vụ
sự nghiệp công nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
số 197.RD/HĐ-KHCN ngày 16/03/2009 giữa Bộ Công Thương
và Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu Chủ trì thực hiện: TS. Nguyễn Thị Liên Hoa

Tham gia thực hiện: KS. Trần Thành Tân
KS. Lê Văn Sang
KTV. Đinh Viết Toản
TP. Hồ Chí Minh, tháng 12/ 2009

i
LỜI NÓI ĐẦU

để đưa cây cải dầu vào
trong sản xuất và đó cũng là lý do chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng
quy trình canh tác cây cải dầu ở Tây Nguyên” trong vụ Thu Đông 2009. ii
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ v
TÓM TẮT NHIỆM VỤ vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC. 2
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC 4
CHƯƠNG 2. THỰC NGHIỆM 9
2.1 VẬT LIỆU & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. 9
2.1.1 Vật liệu. 9
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 9
2.1.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 9
2.1.2.1.1 Nghiên cứu xác định liều lượng đạm thích hợp và có hiệu quả kinh t
ế đến
sinh trưởng và phát triển cây cải dầu 9
2.1.2.1.2 Nghiên cứu ứng dụng thiết bị gieo hạt cải dầu. 9
2.1.2.1.3 Tiếp tục đánh giá khả năng thích nghi một số giống cải dầu nhập nội. 10
2.1.2.1.4 Mô hình trồng cải dầu. 10
2.1.2.2 Địa điểm. 10
2.1.2.3 Điều kiện nhiệt độ và lượng mưa. 10
2.1.2.4 Một số chỉ tiêu nông hóa của đất làm thí nghiệm. 11

tay. 20
3.1.3 Quy trình canh tác cây cải dầu có năng suất và hiệu quả kinh tế ở Lâm Đồng
(Tây Nguyên) 21
3.1.3.1 Phạm vi áp d
ụng của quy trình canh tác 21
3.1.3.2 Quy trình canh tác 22
3. 2 TIẾP TỤC ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THÍCH NGHI MỘT SỐ GIỐNG CẢI
DẦU NHẬP NỘI Ở LÂM ĐỒNG . 26
3.2.1 Đặc tính sinh trưởng của 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng (Vụ Thu Đông 2009).26
3.2.2 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng
(Vụ Thu Đông 2009). 27
3.2.3 Hàm lượng dầu, năng suất dầu và thành ph
ần axít béo của 9 giống cải dầu ở
Lâm Đồng (vụ Thu Đông 2009) 29
3.2.4 Tình hình sâu bệnh. 30
3.3 NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRỒNG CÂY CẢI DẦU CÓ NĂNG
SUẤT CAO VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ Ở LÂM ĐỒNG, TÂY NGUYÊN 32
3.3.1 Kỹ thuật canh tác được áp dụng trong mô hình cây cải dầu ở Lâm Đồng, Tây
Nguyên 32
3.3.2 Đặc tính sinh trưởng của 3 giống cải dầu ở mô hình trồng cải dầu ở 3 huyện
Di Linh, Đơn Dương và Đà Lạ
t trong vụ Thu Đông 2009 34
3.3.3 Các yếu tố năng suất, năng suất, hàm lượng dầu và năng suất dầu của 3 giống
cải dầu ở mô hình trồng cải dầu ở 3 huyện Di Linh, Đơn Dương và Đà Lạt trong vụ
Thu Đông 2009 35
3.3.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế ở mô hình trồng cải dầu trong vụ Thu Đông 2009 ở
Lâm Đồng, Tây Nguyên 37
KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ 39
TÀI LIỆ
U THAM KHẢO 40

Bảng 11. Hiệu quả kinh tế của việc gieo hạt cải dầu bằng thiết bị so với gieo hạt bằng tay
(tính cho một ha) 21

Bảng 12. Đặc tính sinh trưởng của 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng (Vụ Thu Đông 2009). 26
Bảng 13. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng (Vụ
Thu Đông 2009) 28

Bảng 14. Ma trận tương quan của năng suất hạt với số cành/trên cây, số quả/cây, chiều
dài trái, số hạt trong quả và khối lượng 1000 hạt 28

Bảng 15. Hàm lượng dầu và năng suất dầu của 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng (vụ Thu
Đông 2009) 29

Bảng 16. Thành phần axít béo của 9 giống cải dầu ở Lâm Đồng. 30
Bảng 17. Tỷ lệ cây có lá bên dưới bị cháy lá do vi khuẩn Xanthomonas sp. trên 9 giống
cải dầu ở Lâm Đồng trong vụ Thu Đông 2009. 31

Bảng 18. Thời gian sinh trưởng, và tổng số cành trên cây của 3 giống cải dầu ở mô hình
trồng cải dầu ở 3 huyện Di Linh, Đơn Dương và Đà Lạt trong vụ Thu Đông 2009.
34

Bảng 19. Số quả trên cây và số hạt trong quả của 3 giống cải dầu ở mô hình trồng cải
dầu ở 3 huyện Di Linh, Đơn Dương và Đà Lạt trong vụ Thu Đông 2009 35

Bảng 20. Khối lượng 1000 hạt và năng suất hạt của 3 giống cải dầu ở mô hình trồng cải
dầu ở 3 huyện Di Linh, Đơn Dương và Đà Lạt trong vụ Thu Đông 2009 36

Bảng 21. Hàm lượng dầu và năng suất dầu của 3 giống cải dầu ở mô hình trồng cải dầu
ở 3 huyện Di Linh, Đơn Dương và Đà Lạt trong vụ Thu Đông 2009 37


hiệu quả kinh tế thích nghi trồng ở Lâm Đồng, Tây Nguyên: giống HSR-13 có
n
ăng suất hạt và năng suất dầu lần lượt 3130 kg/ha và 1200 kg/ha, giống Hyola
433 có năng suất hạt và năng suất dầu lần lượt 2540 kg/ha và 1130 kg/ha và
giống HSR-32 có năng suất hạt và năng suất dầu lần lượt 2820 kg/ha và 1110
kg/ha. 3 giống này có chất lượng dầu tốt đáp ứng được tiêu chuẩn làm dầu ăn và
có thời gian sinh trưởng ngắn (100-120 ngày) thích hợp để phổ biến trong sản
xuất. Ngoài ra đã xác định
được mô hình trồng cây cải dầu có năng suất và hiệu
quả kinh tế ở Lâm Đồng, Tây Nguyên.Với mô hình trồng giống Hyola 433 đã
cho năng suất hạt cao: 2300 kg/ha, năng suất dầu cao: 1010 kg/ha và có hiệu
quả kinh tế với lợi nhuận trong mùa vụ 4 tháng trồng là 13.603.000 đ/ha. Vùng
trồng cây cải dầu có năng suất hạt, năng suất dầu cao và có hiệu quả kinh tế
nên trồng ở độ cao 1000m so với mặt nước bi
ển và nhiệt độ trung bình 20-21
o
C. 1
MỞ ĐẦU Cơ sở pháp lý/xuất xứ của nhiệm vụ.
Đề tài thực hiện theo Hợp đồng đặt hàng sản xuất và cung cấp dịch vụ sự
nghiệp công nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ số 197.RD/HD-KHCN
ký ngày 16/03/2009 giữa Bộ Công Thương và Viện Nghiên Cứu Dầu và Cây có
dầu về việc thực hiện nhiệm vụ “Nghiên cứu xây dựng quy trình canh tác cây cải
dầu ở Tây Nguyên”.
Mục tiêu.

rất rõ đến sinh trưởng phát triển, năng suất và hàm lượng dầu. Trong vụ Đông
Xuân 2006-2007, năng suất hạt biến động 1500-3800 kg/ha, năng suất dầu biến
động 557-1485 kg/ha. Trong vụ Thu Đông 2007 năng suất hạt biến động 2250-
2730 kg/ha và năng suất dầu biến động 910-1067 kg/ha Ở nh
ững vùng như Đà Lạt
có nhiệt độ trung bình là 18
o
C thì vụ Đông Xuân và Thu Đông đều thích hợp để
trồng cải dầu. Ở những vùng có nhiệt độ trung bình là 21
o
C như ở Đức Trọng, thì
vụ Thu Đông mới là vụ trồng có nhiệt độ thích hợp để trồng cải dầu có năng suất
cao và tiết kiệm được chi phí tưới. Giống cải dầu Hyola 61 khi trồng ở Lâm Đồng
có hàm lượng axít oleic cao biến động 66,35-66,66 %, và axít erucic rất thấp biến
động 0,69-0,76% (đạt tiêu chuẩn dầu để làm dầu ăn, không gây hại cho sức khỏe).
Đánh giá khả năng thích nghi của giố
ng cải dầu Hyola 61 ở huyện Mộc
Châu, tỉnh Sơn La và huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn vào vụ Thu Đông 2007 nhận
thấy điều kiện khí hậu ở vùng Tây Bắc và Đông Bắc Việt Nam thích hợp để trồng
cải dầu. Năng suất hạt biến động từ 1500-2000 kg/ha, năng suất dầu biến động
619-797 kg/ha. Thành phần axít béo của giống Hyola 61 không thay đổi nhiều
giữa các đ
iểm, hàm lượng axít erucic thấp (1,1%) và axít oleic biến động từ 61,92-
66,43%, chất lượng dầu tốt. Vụ Thu Đông là vụ thích hợp để trồng cải dầu do cây
trồng được cung cấp nước từ mưa.
Kết quả nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tuyển chọn giống và một số biện pháp
canh tác cây cải dầu phục vụ mục tiêu phát triển vùng nguyên liệu cho ngành dầu
thực vật” trong vụ Thu Đông 2007 và Đ
ông Xuân 2007-2008 cho thấy cây cải dầu
sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện khí hậu ở Lâm Đồng. Đã tuyển chọn

ng từ 1690-2320 kg/ha và thời gian sinh trưởng phù hợp từ 95-122
ngày. Giống Hyola 61 mặc dầu có năng suất hạt thấp hơn 07821-1RA nhưng cây
chống chịu đổ ngã tốt hơn 07821-1RA. Trong vụ Thu Đông 2008, ở Lâm Đồng
mô hình trồng giống 07821-1RA trên diện rộng có năng suất hạt đạt 2270 kg/ha.
Ở Bắc Giang, điều kiện đất trồng cải dầu sau vụ lúa không thích hợp để trồng cải
dầu, năng suất h
ạt của giống 07821-1RA là giống tốt nhất khi trồng ở Bắc Giang
chỉ bằng 53% so với trồng ở Lâm Đồng và bằng 64% so với trồng ở Sơn La. Ở
Sơn La liều lượng N, P, K và S thích hợp cho cây cải dầu là 120N, 60P
2
O
5
, 60K
2
O
và 30S. Ở Bắc Giang liều lượng N, P, K và S thích hợp cho cây cải dầu là 90N,
60P
2
O
5
, 60K
2
O và 40S.
Trong báo cáo thực hiện dự án “ Hợp tác nghiên cứu, nhập nội một số giống
cây trồng và công nghệ bảo quản, chế biến phù hợp vào một số tỉnh miền núi phía
Bắc Việt Nam” của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam vụ Đông Xuân năm
2002-2003 thì kết quả nghiên cứu cây cải dầu ở Thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng
trong vụ Đông 2002 với 10 giống nhập cho thấy thờ
i gian sinh trưởng biến động
từ 112-141 ngày và năng suất biến động từ 625-930 kg hạt/ha. Kết quả thử nghiệm

30.234.863 ha với năng suất bình quân là 1.637 kg/ha, trong đó Trung Quốc, Ấn
Độ và Canada có diện tích trồng cải dầu chiếm khoảng 64% diện tích cải dầu của
thế giới; Trung Quốc có diện tích trồng cải dầu lớn nhất thế giới với 7.050.010 ha
với năng suất bình quân là 1.472 kg/ha. Nước có năng suất cải dầu bình quân cao
nh
ất thế giới là Chi Lê: 3603 kg/ha (FAO-Stat, 2008). Ở Úc , năng suất hạt đại trà
trung bình từ 1-2 tấn/ha nhưng có thể dao động lên đến 5 tấn hạt/ha ở những thời
vụ kéo dài có khí hậu mát mẻ và đủ ẩm độ (Walton et al., 1999).
Trong những năm gần đây, Trung Quốc nghiên cứu làm tăng hàm lượng axít
oleic và giảm axít linoleic để nâng cao dinh dưỡng của dầu cải. Mặt khác do nhu
cầu sử dụng dầu cải làm biodiesel, giống mới được t
ạo ra có hàm lượng dầu cao
đang được quan tâm như giống Zhongyou 0361 có hàm lượng dầu đạt 55%. Sản
lượng cải dầu ở Trung Quốc tăng rất nhanh từ thập niên 1980, đặc biệt thập niên
1990, so sánh với thập niên 1950-1960 thì diện tích cải dầu tăng gấp 3-4 lần và
sản lượng tăng gấp 10 lần.Trong 5 năm từ 2000-2005 có 217 giống được đăng ký
và đưa ra sản xuất trong đó giống OP (open pollination) chiếm 21,7% và giống ư
u
thế lai chiếm 78,3%. Ở Trung Quốc 2 cách lai hữu hiệu trong sản xuất hạt cải dầu
lai ở quy mô thương mại bao gồm: CMS (cytoplasmic male sterile: bất dục đực tế
bào chất), GMS (Genic male sterile : bất dục đực do gen), 2 cách này chiếm 80%
trong các cách để sản xuất hạt lai cải dầu. Trong số ba loài Brassica được canh tác
chính cho sản xuất dầu thì có hàm lượng dầu rất biến thiên. Thông thường
Brassica napus có hàm lượng dầu cao nhất, có thể hơn 40%, Brassica rapa
đứng
thứ hai và thấp nhất là Brassica juncea. Giống Hyola 61, Hyola 76 và Hyola 433
của Công ty Pacific Seeds thuốc lòai Brassica napus. Khi trồng ở Úc, giống Hyola
61 có năng suất hạt biến động từ 1,43-2,35 tấn/ha, hàm lượng dầu 40,8%, và hàm
lượng protein là 44,5% và có thời gian sinh trưởng ngắn, giống Hyola 76 có năng
suất hạt bình quân 2066 kg/ha và hàm lượng dầu 40-45%, có thời gian sinh trưởng

ra ở cuối vụ, sau khi ra hoa có thể gây ra sự thất thu lớn về năng suất (Colton &
Sykes, 1992). Cải dầu rất nhạy cảm với sự ngậ
p nước và năng suất sẽ giảm sau khi
bị ngập 3 ngày, khi bị ngập nước, cây có triệu chứng lá hoá vàng hoặc tím, thân
lùn, ra ngồng sớm và các lá già hơn có màu tím và trở nên già nhanh hơn. Sự sinh
trưởng và năng suất hạt cải dầu ở Úc thường bị ảnh hưởng bởi lượng nước sẵn có
cho cây trồng, đặc biệt trong thời kỳ chín của hạt (Walton et al., 1999).
Cải dầu sinh trưởng tốt trên đất có pH từ 5,0-8,0 (Colton & Sykes, 1992). pH
đấ
t ảnh hưởng ít đến năng suất trừ phi trên đất rất chua nơi mà có sự ngộ độc của
mangan và nhôm làm ảnh hưởng đến năng suất (trên những loại đất như vậy, trước
khi trồng cải dầu cần bón vôi để làm giảm bớt tình hình xấu trên) (Potter et al.,
1999). Cây cải dầu yêu cầu đạm, lân và lưu huỳnh cao hơn cây ngũ cốc và những
cây trồng khác và sẽ không cho năng suất cao nếu không có 3 nguyên tố này.
Haneklaus & Schnug (1991) tính toán mức khủng hoảng dinh dưỡng ở cây cải dầu
như sau: N: 3,60%, P: 0,37%, K: 2,15%, Ca: 1,60%, Mg: 0,10%, S: 0,47%, Mn:
20ppm, Fe:82ppm, B:20ppm, Cu:4ppm và Zn:28ppm (lấy mẫu lá vừa mới trưởng
thành ở ví trí cao nhất trước khi cây trổ hoa để phân tích. Grant, (2000) nghiên
cứu về hiệu quả của đạm và lưu huỳnh trên năng suất cải dầu và lượng khoáng lấy
đi cho thấy để có tổng lượng chất khô của cây là 9,2 tấn/ha, trong đó có năng suất
hạt là 2 tấn/ha, năng suấ
t dầu là 902,3kg/ha thì phần thân lá của cây cải dầu đã lấy
đi trong đất 110 kg N, 21 kg P, 140 kg K, và 50,9 kg S, còn phần hạt đã lấy đi 62,1
kg N, 13 kg P, 17 kg K và 6,6 kg S.
Hầu hết những nghiên cứu cho rằng phân đạm có tác dụng tăng đáng kể đến
năng suất hạt ngay cả những thay đổi khác nhau về điều kiện (Maroni et al., 1994;
Sieling & Christen, 1997). Tuy nhiên yêu cầu phân đạm có thể thay đổi rất nhiều
theo loại đất, khí hậu, kỹ thuật canh tác, thời gian bón
đạm, giống (Holmes &
Ainsley, 1977; Kalkafi et al.,1998). Hàm lượng đạm trong cây tích luỹ cao nhất ở

một số ít cành được hình thành.Vòm lá của cây cải dầu trên đồng ruộng bị mỏng và
có nhiều khoảng hở. Việc phát triển của hoa ở vào giai
đoạn cuối bị giảm, giai
đoạn ra hoa và chín bị rút ngắn và số quả trên cây thấp. Năng suất hạt bị giảm
mạnh (Orlovius, 2003). Theo Hocking et al.,(1999) nghiên cứu về dinh dưỡng
khoáng cho cây cải dầu ở Úc cho thấy khi cải dầu được trồng sau cây lúa mì có
năng suất là 3 tấn/ha thì liều lượng N cần bón là 75-100 kg N/ha để có năng suất
hạt 2-3 tấn/ha, phân N được bón lót và bón thúc lúc bắt đầu ra nụ. Ở Châu Âu cải
dầu vụ xuân
đáp ứng tốt đối với lượng đạm giữa 120 và 200 kg N/ha (Almond et
al.1986; Holmes, 1980). Ở Canada, yêu cầu đạm cho cải dầu rất biến thiên, thường
vượt quá 200 kg N/ha (Holmes, 1980).
Cải dầu là một cây trồng rất linh hoạt, sự biến thiên về mật độ trồng với biên
dao động tương đối lớn thông thường cũng ít ảnh hưởng đến năng suất cuối cùng.
Không cần thiết tăng mật độ trên 60 cây/m
2
, tuy nhiên có mật độ vừa phải ở thời
kỳ đầu sẽ có lợi bởi vì nó giảm bớt sự mất mát do sâu bọ (Carmody, 2001). Lượng
giống cần gieo có khuynh hướng từ 4-6 kg/ha, với giống lai lượng giống cần gieo
là 3 kg/ha.Ở Úc, mật độ cây được khuyến cáo là 30-50 cây/m
2
, với mật độ này nó
giúp cho việc chín nhanh hơn, sớm hơn và thu hoạch dễ hơn.

7
Trong điều kiện độ ẩm đất tối ưu cho sự nẩy mầm, hạt cải dầu được gieo
với độ sâu 2-4 cm sẽ nẩy mầm nhanh chóng. Khi độ ẩm đất bị khô và nhiệt độ đất
cao, hạt giống cần gieo ở độ sâu tới 6 cm để có ẩm độ cho mọc mầm (Walton et
al., 1999). Tuy nhiên, với độ sâu như vậy thường cho mọc mầm chậm, sinh trưởng
và năng su

để phơi bị hạn chế. Tuy nhiên việc thu hoạch trực tiếp làm giảm năng suất và chất
lượng và do vậy cách chọn lựa tốt nhất để có năng suất và chất lượng tối đa là cắt
cây sớm và phơi trướ
c cho khô đều (Carmody & Cox 2001).
Hiện nay ở các nước như Ấn Độ, Iran thường sử dụng thiết bị gieo hạt để gieo
cải dầu. Ở Iran dùng thiết bị gieo hạt đẩy tay yêu cầu khoảng cách gieo giữa 2 hàng
(25 cm) hẹp hơn so với máy gieo hạt yêu cầu khoảng cách hàng lớn hơn (35 cm)
và qua nghiên cứu gieo bằng thiết bị đẩy tay cho tỷ lệ cây mọc mầm, tỷ lệ cây cho
thu hoạch và độ đồng nhất cây trên hàng và n
ăng suất hạt không khác biệt so với
gieo hạt cải bằng máy (Taheri & Sedghi, 2004). Công ty Jang Automation của Hàn
Quốc chuyên sản xuất các thiết bị đẩy tay hoặc chạy bằng máy để gieo hạt cải, hạt
rau và vừng gồm các loại gieo 1 hàng (AP-1), 3 hàng (JP-3) hoặc 6 hàng (JP-6)

8
cùng một lúc. Các thiết bị này rất phù hợp cho đồng ruộng có diện tích nhỏ như ở
Việt Nam. Ở Trung Quốc người ta sử dụng thiết bị gieo hạt lúa và thay đổi kích
thước lỗ của đĩa vòng thì có thể gieo được hạt cải, thiết bị này gieo cùng 1 lúc 2
hàng, và khoảng cách gieo giữa 2 hàng là 25 cm, thiết bị này phù hợp cho nông
dân có diện tích ruộng nhỏ.
Ở Ấn Độ việc cải thiện kỹ thuật canh tác cho cây c
ải dầu trên vùng đất dựa
vảo nước trời cũng như vùng đất có tưới được phát triển với sự chú trọng vào thời
gian gieo, khoảng cách gieo, lượng giống, phân bón, tỉa cây ở thời điểm thích hợp.
Sự tiếp nhận kỹ thuật của mô hình thâm canh cây cải dầu làm tăng năng suất 67-
190% so với kỹ thuật canh tác của địa phương. Trong số các yếu tố trong kỹ thuật
canh tác cây c
ải dầu, việc áp dụng phân bón được nhận thấy là sự đầu tư mang tính
quyết định nhất (Kumar 1999).


3. Bón 120N
4. Bón 150 N
- Nền phân cho 1 ha: 60 kg P
2
O
5
+ 60 kg K
2
O + 1 kg B + 300 kg vôi + 5 tấn phân
bò hoai
2.1.2.1.2 Nghiên cứu ứng dụng thiết bị gieo hạt cải dầu.
Thí nghiệm đơn yếu tố gồm 3 công thức được bố trí theo khối đầy đủ ngẫu
nhiên với 4 lần lặp lại, diện tích ô: 25 m
2
.

Công thức :
1. Rạch hàng và gieo hạt bằng tay (đối chứng)
2. Gieo bằng thiết bị gieo hạt đẩy tay có 1 hộp chứa hạt (Thiết bị AP-1, Hàn Quốc)
3. Gieo bằng thiết bị gieo hạt đẩy tay có 4 hộp chứa hạt (Thiết bị JP-6, Hàn Quốc)
+ thiết bị gieo hạt đẩy tay có 1 hộp chứa hạt

10
- Nền phân cho 1 ha: 90 kg N + 60 kg P
2
O
5
+ 60 kg K
2
O + 1 kg B + 300 kg vôi +

. Mô hình được lặp lại ở 3 điểm: Xã Tam Bố huyện Di
Linh ở độ cao 900 m có nhiệt độ trung bình trong vụ Thu Đông từ tháng 9-12:
21,4
o
C, xã Ka Đô huyện Đơn Dương ở độ cao 1000 m có nhiệt độ trung bình
trong vụ Thu Đông từ tháng 9-12: 20,53
o
C và phường 7 Đalat ở độ cao 1500 m có
nhiệt độ trung bình trong vụ Thu Đông từ tháng 9-12: 17,1
o
C.
- Nền phân cho 1 ha: 90 kg N + 60 kg P
2
O
5
+ 60 kg K
2
O+ 1 kg B + 300 kg vôi + 5
tấn phân bò hoai.
2.1.2.2 Địa điểm.
Xã Tam Bố huyện Di Linh, xã Ka Đô, huyện Đơn Dương và phường 7
thành phố Đà Lạt.
2.1.2.3 Điều kiện nhiệt độ và lượng mưa.
Theo dõi số liệu ở Bảng 1 về nhiệt độ, nhận thấy ở trạm Bảo Lộc dùng cho
khu vực huyện Di Linh có nhiệt độ trung bình năm (21,93
o
C) cao hơn ở trạm Liên
Khương (21,13
o
C) dùng cho khu vực huyện Đơn Dương và trạm Đà Lạt dùng cho

Liên
Khương
Trạm
Đà Lạt
Trạm Bảo
Lộc
Trạm Liên
Khương
Trạm
Đà Lạt
1 21 20,1 16,4 2.7 7,1 26,8
2 20,5 19,7 16,1 56 2,2 35
3 21,8 21,4 17,6 200,8 29,1 68
4 23,6 22,9 18,9 165,1 16,8 119,1
5 23 22,1 19,1 418,1 274,5 22
6 22,9 22,1 19,4 146,4 155,2 59,3
7 22,7 21,7 19,1 296,7 152,2 201,1
8 22,1 21,5 18,5 327,7 148,4 210,6
9 22 21,5 15,9 371,7 161,1 203,4
10 22,1 21,5 18,7 566,2 115,1 205,3
11 21,3 20,7 17,5 169,2 24,2 176,2
12 20,2 18,4 16,3 27,4 24,2 51,6
Tổng 2748 1201,3 1378,4
Trung bình 21,93 21,1 17,8
2.1.2.4 Một số chỉ tiêu nông hóa của đất làm thí nghiệm.
Bảng 2. Một số chỉ tiêu nông hóa của điểm thí nghiệm.
pH (H
2
O)
(1 :5)

2.1.2.6 Phương pháp lấy mẫu để theo dõi số liệu.
Về đặc tính sinh trưởng:
* Đối với chiều cao cây, số cành trên cây, số quả trên cây, thì lấy 5 cây liên tục
nhau trên ô thí nghiệm để đo và lấy trung bình của 5 cây, mẫu được lấy theo 4 lần
lặp lại cho mỗi công thức. Đối với thí nghiệm thiết bị gieo hạt lấy thêm chỉ tiêu
như số khoảng cách, chiều dài khoảng cách không có cây mọc mầm và số cây mọc
m
ầm/m
2
.
* Đối với chiều dài quả và số hạt trên quả, từ 5 cây lấy mẫu trên, chọn 1 cây và lấy
5 quả/cây trên thân chính của cây. Đo chiều dài và đếm số hạt từng quả và tiến
hành tương tự đối với các nghiệm thức và các lần lặp lại của mỗi nghiệm thức
Về các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất:
* Đối với khối lượng 1000 h
ạt thì đếm 1000 hạt và cân lấy khối lượng (lấy mẫu
theo 4 lần lặp lại ở tất cả các công thức).
* Đối với năng suất: Thu hoạch năng suất cho cả ô. Thu hoạch tất cả các công
thức theo 4 lần lặp lại.
Đánh giá hiệu quả kinh tế: Tính toán chi phí đầu vào (phân bón, giống,
công chăm sóc, thu hoạch), đầu ra (năng suất đạt được x giá bán) và lợi nhuận ở
mô hình trồng cả
i dầu
2.1.2.7 Phân tích thành phần axít béo và hàm lượng dầu.
Phân tích thành phần axít béo theo phương pháp AOCS Ce 1e-91 tại Bộ
môn Công nghệ dầu béo và Phân tích, Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu
Phân tích hàm lượng dầu bằng phương pháp Soxhlet và bằng máy phân tích
dầu Minispec mq10 NMR Analyser
2.1.2.8 Phương pháp xử lý số liệu.
Số liệu được xử lý thống kê theo phần mềm, MSTATC và Excel.

0N
(Đối chứng)
99,0 b
(100)
#

10,8 b
(100)
#

4,8
(100)
#

90N 107,0 a
(108)
15,3 a
(142)
5,3
(110)
120N 109,3 a
(110)
15,8 a
(146)
5,2
(108)
150N 112,5a
(114)
15,5 a
(144)


90
95
100
105
110
115
0N 90N 120N 150N
Liều lượng N (kg/ha)
Chiều cao cây (cm)
Chiều cao cây

Biểu đồ 1. Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến chiều cao cây.

0
5
10
15
20
0N 90N 120N 150N
Liều lượng N (kg/ha)
Tổng số cành/cây
Tổng số cành

Biểu đồ 2. Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến tổng số cành trên cây.

15
3.1.1.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến số quả trên cây, số hạt trong
quả, khối lượng 1000 hạt, năng suất hạt, hàm lượng dầu và năng suất dầu (vụ
Thu Đơng 2009).

(140)
20,8 b
(122)
3,20 a
(114)
120N 317,0 a
(145)
20,4a
(19)
3,14 a
(112)
150N 304,8 a
(139)
20,2 a
(118)
3,21 a
(115)
CV(%)
LSD (0,05)
13,8
63,2
6,2
1,9
4,1
0,2
#
: Chữ in nghiêng chỉ % so đối chứng
0
100
200


Bảng 5. Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến năng suất hạt, hàm lượng
dầu và năng suất dầu (vụ Thu Đông 2009).
Công thức Năng suất
hạt
(kg/ha)
Bội
thu
Hiệu suất
phân N
(kg hạt/kg N)
Hàm lượng dầu
(%)
Năng
suất dầu
(kg/ha)
0N
(Đối chứng)
1600 b
(100)
#40.48
(100)
#

650 b
(100)
#

y = -0.0597x
2
+ 14.205x + 1601.2
R
2
= 1
0
500
1000
1500
2000
2500
3000
0 20 40 60 80 100 120 140 160
Liều lượng N (Kg/Ha)
Năng suất hạt (Kg/Ha)

Biểu đồ 4. Đường hồi quy giữa liều lượng N và năng suất hạt/ha.

17
Qua tính toán phương trình hồi quy giữa liều lượng phân đạm và năng suất hạt như
sau : Y= -0,0597x
2
+ 14,20x + 1601, cho thấy bón đạm có tác dụng rõ đến năng
suất hạt cải dầu. Năng suất hạt có tương quan thuận rất chặt với liều lượng phân
đạm (Biểu đồ 4).

Bảng 6. Hệ số tương quan (r) của chiều cao cây, số cành, chiều dài quả, số
quả, số hạt, khối lượng 1000 hạt và hàm lượng dầu với liều lượng phân đạm.
Chiều cao

ịch với liều lượng
phân đạm (r=-0,70).
3.1.1.3 Hiệu quả kinh tế của việc bón phân đạm.
Bảng 7. Hiệu quả kinh tế của việc bón phân đạm.
Công thức Chi phí
sử dụng
phân đạm
(đồng)
Thu thêm nhờ phân đạm Hiệu quả kinh tế

Năng
suất hạt
(kg/ha)
Chênh lệch
năng suất
hạt so với
đối chứng
(kg/ha)
Thu thêm
(đồng)
Lợi nhuận
tăng thêm
(đồng)
Tỷ suất lợi
nhuận tăng
thêm so với
chi phí bón
phân đạm
(lần)
0N


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status