Về nguyên tác khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật - Pdf 13

A.PHẦN MỞ BÀI:
Nhà nước ta có những quy định pháp lý nhằm điều chỉnh hoạt động xét xử của Tòa án
bằng việc ghi nhận những nguyên tắc cơ bản, trong đó có nguyên tắc “ khi xét xử,
Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Nguyên tắc “ khi xét xử,
Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là một trong những nguyên
tắc quan trọng, có tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa án.
Nguyên tắc này đã được ghi nhận từ rất sớm và phát triển cùng với sự phát triển của
Hiến pháp và pháp luật. Trong phạm vi bài viết này xin trình bày về nguyên tắc “ khi
xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” - thực trạng và
phương hướng hoàn thiện.
B.PHẦN THÂN BÀI:
I. Một số vấn đề lý luận và pháp lý về nguyên tắc “ Khi xét xử, Thẩm phán và
Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”:
1. Cơ sở pháp lý của nguyên tắc “ Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật”
Điều 130 Hiến pháp 1992 quy định: “ Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật”. Trong suốt lịch sử lập hiến Việt Nam, nguyên tắc này luôn
được xem như một trong những nguyên tắc Hiến pháp điều chỉnh hoạt động của tổ
chức Tòa án.
Mặc dù trên thực tế nguyên tắc này đã được giải thích và áp dụng giống như tính
khách quan của Tòa án, song điều khoản Hiến pháp nói trên vẫn được xem như nền
tẳng hiến định cho nguyên tắc “ khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật”. Không những được quy định trong Hiến pháp thành một điều khoản
riêng, nguyên tắc này còn được thể hiện trong tất cả các văn bản pháp luật cụ thể hóa
Hiến pháp về tổ chức và hoạt động của Tòa án, ví dụ Luật tổ chức và hoạt động của
Tòa án năm 2002, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2003 và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.
2. Mục đích, ý nghĩa:
Đã từ lâu, sự độc lập của hoạt động xét xử đã được ghi nhận trong pháp luật Việt
Nam, cụ thể là trong Hiến pháp 1946 và điều này đã trở thành một trong những nguyên
tắc quan trọng nhất của hệ thống tư pháp. Sự độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa

xét xử không còn trách nhiệm gì đối với việc làm của mình nữa và như vậy phiên tòa
sẽ trở thành hình thức.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử không thể vì thế mà có quyền tùy tiện xét xử theo ý mình
mà gắn liền với quyền độc lập xét xử, đó là Hội đồng xét xử phải nghiêm chỉnh chấp
hành pháp luật, do đó pháp luật càng hoàn chỉnh, càng ổn định và cụ thể thì đó là cơ sở
để Hội đồng xét xử thực hiện quyền độc lập xét xử. Có thể hiểu độc lập bao gồm
những khía cạnh sau:
- Sự độc lập của Tòa án với các cơ quan nhà nước. Các cơ quan nhà nước không can
thiệp vào những vụ án cụ thể mà Tòa án xét xử.
- Độc lập giữa các Tòa án các cấp, Tòa án cấp dưới không chịu sự chỉ đạo của Tòa án
cấp trên.
- Độc lập giữa các thành viên Hội đồng xét xử với nhau. Thể hiện qua việc Hội thẩm
có ngang quyền như Thẩm phán.
Mặc dù, đề tài chỉ đưa ra vấn đề “độc lập” nhưng ở đây chúng ta cần hiểu ở cả góc
độ “tuân theo pháp luật” nữa, bởi hai luận điểm này có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập không có nghĩa là xét xử tùy tiện mà
việc xét xử phải tuân theo pháp luật. Độc lập là biểu hiện của tuân thủ pháp luật. Nếu
2
Vũ Thị Hồng Nhung – HC33A004
Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập, không chịu bất cứ tác động nào thì phán quyết
của Hội đồng xét xử mới có tính khách quan, vô tư, quyết định của Hội đồng xét xử
phải đảm bảo đúng pháp luật. Mặt khác, tuân theo pháp luật là cơ sở để thể hiện tính
độc lập trong xét xử. Xét khía cạnh thuần túy của tính độc lập, để có thể tự mình đưa ra
phán quyết, Thẩm phán và Hội thẩm phải có kiến thức pháp luật và phải chấp hành quy
định của pháp luật. Từ sự phân tích ở trên, có thể nói rằng, yếu tố độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật có mối quan hệ biện chứng với nhau, độc lập trong sự thống nhất với
việc tuân theo pháp luật.
II. Thực tiễn thực hiện nguyên tắc “ khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật” hiện nAy:
1. Khái quát chung về thực trạng đảm bảo nguyên tắc “ khi xét xử, Thẩm phán và

Tòa án.
Thứ nhất, cách thức tổ chức hệ thống Tòa án có tác động mạnh mẽ đến sự độc lập
của Tòa án khi xét xử. Kết quả nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước cho
thấy rõ cách thức tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc phân quyền hay tập quyền
thì việc phân định rạch ròi giữa quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là đòi hỏi khách
quan, cần thiết để hạn chế lạm dụng quyền lực, đảm bảo cho bộ máy nhà nước hoạt
động thống nhất và hiệu quả. Ở nước ta, hệ thống Tòa án được tổ chức theo cấp hành
chính (lãnh thổ), với cách thức tổ chức hệ thống Tòa án theo tiêu chí lãnh thổ thì bên
cạnh những ưu điểm như hoạt động xét xử của Tòa án bám sát nhiệm vụ chính trị, xã
hội của địa phương, giữa chính quyền địa phương và Tòa có mối quan hệ gần
gũi….nhưng còn bộc lộ những hạn chế làm ảnh hưởng đến tính độc lập của Thẩm phán
và Hội thẩm khi xét xử. Những hạn chế này có nguyên nhân từ việc Tòa án có những
mức độ khác nhau phải chịu sự chi phối của chính quyền địa phương… Chính sự rang
buộc này đã tác động đến tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân.
Thứ hai, ngân sách cho Tòa án và hoạt động xét xử. Ngân sách cho hoạt động của
Tòa án là yếu tố quan trọng bảo đảm độc lập xét xử. Ở nước ta, nhiều năm qua, Nhà
nước đã có nhiều cố gắng bố trí nguồn tài chính để đảm bảo hoạt động của Tòa án. Tuy
nhiên, nguồn tài chính được bố trí chưa đủ đảm bảo để Tòa án thực hiện nguyên tắc
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập, chưa có sự ưu tiên về tài chính cho
hoạt động của Tòa án. Khắc phục hạn chế này Nghị quyết 49 NQ/TW “ Về chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020” khẳng định: “Nhà nước đảm bảo điều kiện vật chất
cho hoạt động tư pháp phù hợp với đặc thù của từng cơ quan tư pháp và khả năng của
đất nước”. Việc đảm bảo cơ sở vật chất cho hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động
xét xử nói riêng là điều kiện để Thẩm phán và Hội thẩm được độc lập trong quá trình
giải quyết vụ án.
Thứ ba, các yếu tố cá nhân của Thẩm phán và Hội thẩm. Ngoài những yếu tố về
chính sách, cơ chế thì các yếu tố thuộc về cá nhân Thẩm phán, Hội thẩm có ý nghĩa
quan trọng trong việc thực hiện nguyên tắc đảm bảo Thẩm phán, Hội thẩm độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử. Đó là những yếu tố sau:
- Nhiệm kỳ của Thẩm phán: Nhiệm kỳ của Thẩm phán là một trong những yếu tố có

thành nhiệm vụ. Vì vậy, cũng cần sớm hình thành cơ chế bảo vệ Thẩm phán để họ có
thể thực thi tốt nhiệm vụ xét xử của mình.
- Trình độ, năng lực, phẩm chất của Thẩm phán và Hội thẩm: Trình độ của Thẩm
phán và Hội thẩm có quan hệ mật thiết với tính độc lập xét xử của Tòa án, họ chỉ có
thể độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, không bị phụ thuộc vào ai khác khi họ tự tin vào
khả năng, trình độ chuyên môn của mình. Yếu tố này đặc biệt cần thiết đối với các Hội
thẩm ở các nước theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa – nơi mà Hội thẩm được
ngang quyền với Thẩm phán khi xét xử.
3. Một số biểu hiện của việc vi phạm nguyên tắc “khi xét xử, Thẩm phán và Hội
thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật ” trong thực tiễn:
Qua nghiên cứu, tìm hiểu hoạt động xét xử của Tòa án trên thực tế có thể thấy rằng,
việc chưa tuân thủ nguyên tắc “khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân
thEo pháp luật” được biểu hiện khá đa dạng, song có thể khái quát ở những biểu hiện
chủ yếu sau:
5
Vũ Thị Hồng Nhung – HC33A004
Thứ nhất, theo quy định của Hiến pháp và pháp luật thì Thẩm phán và Hội thẩm phải
độc lập với nhau và chỉ tuân theo pháp luật, nhưng trên thực tế họ lại “không thể” độc
lập với nhau. Tại phiên tòa, cũng như Thẩm phán, Hội thẩm được quyền xét hỏi để làm
rõ các tình tiết khách quan của vụ án, được thảo luận và biểu quyết các vấn đề giải
quyết vụ án. Tuy nhiên, trên thực tế, Hội thẩm chưa phát huy được quyền riêng của
mình đã được pháp luật ghi nhận. Thông thường, đối với những vụ án không phức tạp.
Hội thẩm chỉ đến nghiên cứu hồ sơ một buổi trước sát ngày mở phiên tòa, thậm chí có
những vị Hội thẩm chỉ đến nghiên cứu cáo trạng hoặc là không nghiên cứu hồ sơ
nhưng vẫn tiến hành hoạt động xét xử tại phiên tòa. Những trường hợp này, Hội thẩm
sẽ không bị lệ thuộc vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhưng lung túng
không triển khai được mô hình để điều tra, đánh giá chứng cứ tại phiên tòa, không xác
định được những vấn đề cần phải chứng minh của vụ án. Chính vì thế, Thẩm phán lại
phải tóm tắt nội dung vụ án, gợi ý cho Hội thẩm những vấn đề cần hỏi. Khi tham gia
xét hỏi, do nắm chắc nội dung của vụ án nên chủ tọa là người “độc diễn”, hỏi hết các

tụng. Họ có thể tác động trực tiếp hay gián tiếp thông qua các cá nhân có chức vụ
quyền hạn.
- Sự tác động của cơ quan báo chí, dư luận: Càng ngày báo chí và dư luận có tác động
rất lớn đến các hoạt động của đất nước và đặt biệt là hoạt động tư pháp. Xét cho cùng,
báo chí cũng chỉ là những quan điểm tranh luận của cá nhân, thậm chí đó là quan điểm
của tập thể, quan điểm đó có thể đúng và cũng có thể chưa chính xác. Nếu Tòa án xét
xử không theo luật và bị tác động bởi dư luận, báo chí thì rõ rang vi phạm nguyên tắc
“khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.
Thứ ba, có sự thống nhất và định hướng trước việc xét xử. Đó là việc họp án ban
ngành, họp bản án trong nội bộ cơ quan “duyệt án”. Pháp luật tố tụng hoàn toàn không
quy định việc báo cáo án, duyệt án. Tuy nhiên, trong thực tế xét xử thì việc báo cáo án,
duyệt án trước khi xét xử đã trở thành một thông lệ của các Tòa án địa phương. Thông
lệ này được đánh giá là lợi bất cập hại.
III. Một số giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc “khi xét xử, Thẩm
phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” trong giAi đoạn hiện nAy:
Về hệ thống pháp luật: Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và các
quy định có lien quan trực tiếp đến việc thực hiện nguyên tắc “khi xét xử, Thẩm phán
và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân thEo pháp luật”. Cần có một cơ chế pháp lý hoàn
chỉnh, rõ rang và thống nhất để tạo cơ sở cho Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử chỉ
tuân theo pháp luật. Cần có những văn bản hướng dẫ kịp thời để có cách áp dụng pháp
luật thống nhất trong xét xử. Cần trao cho Tòa án quyền giải thích pháp luật, phán xét
tính hợp pháp, hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước
ban hành. Kinh nghiệm của các nước trong việc giải quyết vấn đề này là chuyển việc
giám sát và tuyên bố tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật cho
Tòa án. Cần ban hành Luật bảo vệ Thẩm phán. Có lẽ trước hết là có Nghị định của
Chính phủ, sau đó nâng lên thành Pháp lệnh, thành luật. Cần có những quy định pháp
luật phù hợp về chế tài áp dụng dành riêng cho các Thẩm phán theo nguyên tắc khoa
học, chế độ trách nhiệm rõ rang, thể hiện rõ nguyên tắc dân chủ và bình đẳng, bảo đảm
cả chất và lượng hoạt động, về uy tín của hệ thống tư pháp trong nhà nước XHCN để
ngăn chặn hiện tượng tiêu cực.

giải pháp đồng bộ, khả thi. Các giải pháp này cần phải xác định phù hợp với yêu cầu
của cải cách tư pháp, quan điểm về Nhà nước pháp quyền được đề ra trong các chủ
trương chính sách của Đảng.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bàn về nguyên tắc độc lập xét xử của tòa án và việc tang cường tranh luận tại phiên
tòa xét xử hình sự/ Ths. Đỗ Thị Ngọc Tuyết/ Tạp chí Kiểm sát. Viện Kiểm sát nhân
dân tối cao, Số 7/2004, tr. 16 - 18, 32.
- Độc lập xét xử ở các nước quá độ: một góc nhìn so sánh/ Lưu Tiến Dũng/ Tạp chí
Toà án nhân dân. Toà án nhân dân tối cao, Số 20 và 21/2006, tr. 5 - 14 và 12 – 19.
8
Vũ Thị Hồng Nhung – HC33A004
- Trọng tâm của công tác cải cách tư pháp hiện nay là đảm bảo cho nguyên tắc tòa án
độc lập/ PGS.TS.Nguyễn Đăng Dung/ Dân chủ & pháp luật. Bộ Tư Pháp, Số 01/ Năm
2007, tr. 23 - 25
- Nguyên tắc “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật”: Khóa luận tốt nghiệp/ Nguyễn Hữu Quảng - H.: Trường Đại học Luật Hà
Nội, 1997 . - 32 tr.; 28 cm.
- Nguyên tắc “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật”:Khóa luận tốt nghiệp/ Vũ Văn Sang - H.: Trường Đại học Luật Hà Nội,
1997 . - 31 tr.; 28 cm
MỤC LỤC
- A.PHẦN MỞ BÀI…………………………………………………………….….1
- B.PHẦN THÂN BÀI………………………………………………………… …1
- I. Một số vấn đề lý luận và pháp lý về nguyên tắc “ Khi xét xử, Thẩm phán và Hội
thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”…………………………………….…… 1
9
Vũ Thị Hồng Nhung – HC33A004
- 1. Cơ sở pháp lý của nguyên tắc “ Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật”………………………………………………………………1
- 2. Mục đích, ý nghĩa……………………………………………………………….1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status