LỜI NÓI ĐẦU
Nguyên tắc TP và HTND xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là một trong
những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xét xử nói chung và trong xét xử vụ án dân sự
nói riêng. Nguyên tắc này được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật có giá trị
pháp lý cao và được đảm bảo thi hành trên thực tế. Tuy nhiên, việc đảm bảo thực hiện
nguyên tắc này ở nước ta vẫn còn một số bất cập, hạn chế, khiến cho nguyên tắc này
chưa thực sự phát huy được hết ý nghĩa của nó.
NỘI DUNG
I, LÝ LUẬN CHUNG
1, Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc TP và HTND xét xử độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật
1.1, Khái niệm
Nguyên tắc TP và HTND xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là một nguyên
tắc cơ bản trong Luật TTDS Việt Nam, thể hiện tư tưởng, định hướng trong hoạt động
xét xử các vụ việc dân sự. TP và HTND độc lập khi xét xử, tự mình quyết định việc giải
quyết các vụ việc dân sự mà không bị chi phối bởi bất kỳ ý kiến của cá nhân, cơ quan,
tổ chức nào cũng như của chính các thành viên HĐXX và tự chịu trách nhiệm về quyết
định của mình. Tuy nhiên, độc lập không có nghĩa là tùy tiện mà phải căn cứ vào pháp
luật để xét xử.
Ngoài việc tuân theo các quy định của pháp luật, TP và HTND chỉ tuân thủ các
quy tắc xét xử. Điều này nhằm tránh mọi sự lạm dụng quyền lực của các TP, cũng như
để cho các TP tránh được mọi áp lực từ phía các cơ quan Nhà nước.
Độc lập xét xử là một nguyên tắc Hiến định. Trong TTDS, TA độc lập ngay từ khi
đương sự nộp đơn khởi kiện lên TA và TA thụ lý đơn khởi kiện. TP và HTND tuy độc
lập xét xử nhưng phải trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự. TA chỉ thụ
1
lý vụ án khi có đơn khởi kiện của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu của
đương sự. Trong quá trình tố tụng, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi, bổ sung các
yêu cầu của mình; có quyền thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án không trái
pháp luật và đạo đức xã hội. Như vậy, TA mặc dù giữ vai trò chủ định, độc lập xét xử và
chỉ tuân theo pháp luật, song việc giải quyết vụ án dân sự vẫn phải dựa trên cơ sở tôn
Theo khoản 1 Điều 197 Điều 234 BLTTDS 2004, Kiểm sát viên có quyền phát
biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của TP,
HĐXX; việc chấp hành pháp luật của người tham gia TTDS… Tuy nhiên, những ý kiến
này chỉ mang tính chất khuyến nghị và không có ý nghĩa trực tiếp làm thay đổi hành vi
tố tụng và phán quyết của HĐXX. Khi xét xử, TP và HTND phải căn cứ vào các tài
liệu, chứng cứ đã được kiếm tra, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đối chiếu với các quy
định của pháp luật và trên cơ sở nhận định, đánh giá của mình để ra bản án, quyết định
giải quyết vụ án dân sự và có quyền kết luận khác với ý kiến của VKS. Hoạt động kiểm
sát xét xử trong TTDS của VKS không làm ảnh hưởng tới nguyên tắc TP và HTND xét
xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
1.1.2, Khi xét xử TP và HTND độc lập với TA các cấp
Việc chỉ đạo của Chánh án đối với việc giải quyết vụ việc dân sự không phải là
duyệt án mà chỉ là định hướng, hướng dẫn các TP áp dụng đúng pháp luật. Quyền quyết
định cuối cùng vẫn thuộc về HĐXX, nếu sai, HĐXX phải chịu trách nhiệm về phán
quyết của mình. Nguyên tắc trao đổi án cũng chỉ giúp TP xem xét vụ án ở nhiều góc
cạnh, hạn chế những sao sót chứ không bắt buộc TP phải tuân theo.
Trong mối quan hệ giữa các cấp xét xử: Trong xét xử phúc thẩm, HĐXX phúc
thẩm hoàn toàn độc lập với những nhận định của TA cấp sơ thẩm về nội dung của vụ án.
HĐXX phúc thẩm có quyền hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho TA cấp sơ thẩm
3
xét xử lại vụ án, nhưng không có quyền yêu cầu TA cấp dưới công nhận hay bác bỏ
những chứng cứ nào trong quá trình xét xử lại vụ án, cũng như không có quyền yêu cầu
TA cấp dưới xét xử theo những nhận định của mình. TA cấp sơ thẩm khi xét xử lại vụ án
thì vẫn độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Các hướng dẫn của TA cấp trên đối với TA cấp dưới thông qua việc tổng kết kinh
nghiệm xét xử không phải là hướng dẫn hay chỉ đạo việc xét xử một vụ án cụ thể mà
chỉ có ý nghĩa là đường lối xét xử chung, đảm bảo tính thống nhất của pháp luật.
1.1.3, Nguyên tắc TP và HTND xét xử độc lập trong mối quan hệ với nguyên tắc
Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội
Điều 4 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng
2, Khi xét xử TP và HTND chỉ tuân theo pháp luật
Đây chính là giới hạn của hoạt động xét xử. Độc lập xét xử không đồng nghĩa với
xét xử tùy tiện. Sự độc lập trong hoạt động xét xử đòi hỏi TP phải có trách nhiệm xét xử
đúng pháp luật, phải ngăn chặn được sự lạm dụng địa vị pháp lý trong quan hệ tố tụng.
Khi xét xử, TP và HTND phải xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện các
tình tiết của vụ án để có thể áp dụng chính xác pháp luật. Áp dụng luật phải sáng tạo,
linh hoạt đối với từng trường hợp chứ không được rập khuôn máy móc.
TP và HTND chỉ tuân theo pháp luật , cả luật nội dung và luật hình thức. Hoạt
động xét xử thể hiện trực tiếp thái độ của nhà nước đối với ác vụ án cụ thể. Do đó, hoạt
động xét xử phải chính xác, công minh trong việc vận dụng và áp dụng pháp luật, “tôn
trọng nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân” (khoản 1 Điều 13 BLTTDS)
3, Mối quan hệ giữa độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc lẫn nhau.
Độc lập và điều kiện tiên quyết để TP và HTND chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử. Và
ngược lại, chỉ tuân theo pháp luật là cơ sở cần thiết để TP và HTND được độc lập khi
5