1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ THUỶ CHỐNG GIAN LẬN THƢƠNG MẠI QUA GIÁ TRONG
HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 05
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: Tiến sĩ Phạm Quang Vinh
Hiệp định thƣơng mại song phƣơng Việt Nam - Hoa Kỳ, các cam kết của Việt
Nam với APEC, AFTA và gia nhập Tổ chức thƣơng mại thế giới, Việt Nam
đã có những bƣớc đi quan trọng nhằm triển khai áp dụng Hiệp định trị giá Hải
quan theo GATT/WTO. Ngày 6/6/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định
60/2002/NĐ-CP quy định việc xác định trị giá tính thuế theo nguyên tắc của
Hiệp định thực hiện Điều VII Hiệp định chung về thuế quan thƣơng mại (gọi
tắt Hiệp định trị giá GATT). Trên cơ sở đó, ngày 8/12/2003 Bộ Tài chính ban
hành Thông tƣ 118/2003/TT-BTC hƣớng dẫn việc thực hiện trị giá hải quan.
Tiếp theo đó Nghị định 155/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính Phủ
quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập
khẩu thay thế Nghị định số 60/2002/NĐ-CP, Nghị định số 40/2007/NĐ-CP
ngày 16/3/07 của Chính phủ quy định chi tiết về việc xác định trị giá Hải quan
3
đối với hàng hoá xuất nhập khẩu thay thế Nghị định số 155/2005/NĐ-CP. Các
văn bản pháp quy liên tục đƣợc điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung theo hƣớng minh
bạch, công khai phù hợp với Luật chơi chung của Thế giới. Luật thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/01/2006, Luật
quản lý thuế có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007 kèm theo đó là Nghị định
số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ Nghị định quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế.
Cùng với việc bắt đầu triển khai áp dụng hệ thống xác định trị giá tính
thuế mới, Việt Nam đứng trƣớc một thách thức mới là tình trạng gian lận
thƣơng mại qua giá ngày càng gia tăng. Trong điều kiện đó, việc tổ chức
phòng ngừa và chống gian lận thƣơng mại qua giá trong hoạt động nhập khẩu
trở thành một yếu tố quan trọng, đảm bảo chống thất thu cho Ngân sách nhà
nƣớc và tạo điều kiện lành mạnh hoá môi trƣờng cạnh tranh trên thị trƣờng
nội địa. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của công tác chống gian lận thƣơng
mại qua giá trƣớc đòi hỏi bức xúc của thực tế, các nhà quản lý phải thay đổi
phƣơng pháp quản lý để thích ứng với yêu cầu hội nhập. Trong bối cảnh đó,
thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá”, Luận án thạc sỹ
kinh tế Mai Đình Tú.
Các đề tài trên có đề cập ở mức độ nhất định về chống thất thu thuế,
chống gian lận thƣơng mại, quản lý thuế nói chung và thuế xuất nhập khẩu
nói riêng. Tuy nhiên, nghiên cứu độc lập về chống gian lận thƣơng mại qua
giá trong hoạt động nhập khẩu ở Việt Nam cũng chƣa có công trình khoa học
nào dƣới dạng luận văn thạc sỹ, luận văn tiến sỹ về đề tài này đƣợc công bố.
3- Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
*Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về chống gian lận
thƣơng mại qua giá trong hoạt động nhập khẩu, để đề xuất các giải pháp
chống gian lận thƣơng mại qua giá trong hoạt động nhập khẩu ở Việt Nam
hiện nay.
* Nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn chống gian lận thƣơng mại qua giá
trong hoạt động nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay trƣớc tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế.
- Đánh giá thực trạng công tác chống gian lận thƣơng mại qua giá trong
hoạt động nhập khẩu ở Việt Nam trong thời gian qua.
- Đề xuất những giải pháp chống gian lận thƣơng mại qua giá trong
hoạt động nhập khẩu ở Việt Nam, đảm bảo chống thất thu cho Ngân sách nhà
nƣớc và tạo điều kiện lành mạnh hoá môi trƣờng trên thị trƣờng cạnh tranh
nội địa. 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Chống gian lận thƣơng mại qua giá trong hoạt
động nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu công tác
6
7.Bố cục của luận văn
Không kể phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về gian lận thƣơng mại, gian
lận thƣơng mại qua giá trong hoạt động nhập khẩu.
Chương 2: Thực trạng chống gian lận thƣơng mại qua giá trong hoạt
động nhập khẩu ở Việt Nam trong thời gian qua.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cƣờng chống gian lận thƣơng
mại qua giá trong hoạt động nhập khẩu ở Việt Nam.
hình thức và tính chất từ đơn giản đến tinh vi, phức tạp. Nguy cơ gian lận
thƣơng mại sẽ trở thành hiện thực và tỉ lệ thuận với chiều yếu kém về chính
sách và khả năng kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan quản lý.
Nhƣ vậy, bản chất của gian lận thƣơng mại là sự gian dối trong hoạt
động mua bán hàng hoá nhằm mục đích chiếm đoạt lợi ích kinh tế một cách
bất hợp pháp.
Theo định nghĩa của Tổ chức Hải quan thế giới, gian lận thương mại
(trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan) là những hành vi trái với qui
định của của pháp luật về hải quan nhằm mục đích: “trốn thuế đánh vào việc
nhập khẩu hàng hoá; trốn tránh những quy định về hạn chế hay cấm đoán đối
với hàng hoá nhập khẩu; thu nhận những khoản thoái chi bất hợp lý; thu
nhận những lợi thế cạnh tranh không bình đẳng trong kinh doanh”. Theo đó,
8
gian lận thương mại qua giá là hành vi khai báo gian dối giá trị thực của của
hàng hoá nhập khẩu nhằm trốn tránh những nghĩa vụ quy định cho hàng
nhập khẩu đó.
1.1.2. Các hình thức gian lận thƣơng mại, gian lận thƣơng mại qua
giá trong hoạt động nhập khẩu.
1.1.2.1. Các hình thức gian lận thương mại phổ biến trong hoạt động
nhập khẩu.
Gọi là các hình thức gian lận thƣơng mại phổ biến bởi vì đây là những
hình thức gian lận thƣơng mại có tính chất chung phổ biến nhất xảy ra trong
thực tế đã bị cơ quan Hải quan phát hiện xử lý. Trên thực tế có rất nhiều hình
thức, thủ đoạn gian lận thƣơng mại khác đã và đang xảy ra ở dạng này hoặc
dạng kia, ở vào đối tƣợng này hoặc đối tƣợng kia, ở thị trƣờng này hoặc thị
trƣờng khác, thậm chí các cơ quan chức năng chƣa phát hiện đƣợc nên không
thể đƣa ra nghiên cứu cùng một lúc đƣợc. Vì vậy, trên cơ sở những loại hình
gian lận thƣơng mại chủ yếu này có thể bổ sung thêm những trƣờng hợp cụ
thể làm sáng tỏ hành vi, thủ đoạn của gian lận thƣơng mại.
- Kinh doanh “ma” đăng ký không trung thực trong kinh doanh để lợi
dụng chế độ ƣu đãi về thời gian nộp thuế;
- Khai sai hoặc thổi phồng số tiền khẩu trừ thuế, hoàn thuế.
Gian lận do ý thức kém của đối tƣợng nộp thuế nhƣ:
- Hình thức thứ nhất: Lợi dụng chế độ hàng tạm nhập tái xuất, hàng tạm
xuất tái nhập
Hàng tạm nhập tái xuất, hàng tạm xuất tái nhập là những hàng hoá, vật
phẩm tạm thời đƣa vào trong nƣớc một khoản thời gian nhất định sau đó phải
tái xuất toàn bộ ra khỏi lãnh thổ và tạm thời đƣa ra nƣớc ngoài những hàng
hoá, vật phẩm sau đó phải tái nhập trở lại toàn bộ.
Nguyên tắc cơ bản để thực hiện các loại hình tạm nhập để tái xuất, tạm
xuất để tái nhập là: Phải đƣợc cơ quan có thẩm quyền (Bộ Thƣơng mại) cho
phép; Phải khai báo thủ tục hải quan và chịu sự giám sát quản lý của cơ quan
Hải quan; Phải tái xuất hoặc tái nhập toàn bộ hàng hoá vật phẩm sau khi tạm
nhập tái xuất.
Lợi dụng chế độ này một số ngƣời đã tìm mọi thủ đoạn để gian lận nhằm
thu lợi bất chính.
Ví dụ: Đối tƣợng gian lận là rƣợu Vodka.
Ngày 6/10/2003, Hải quan cửa khẩu biên giới đƣờng bộ giữa Nauy và
Thụy Điển, thuộc thành phố OSLO, Nauy đã tiếp nhận làm thủ tục tạm nhập
cho 6 chiếc xe tải chuyên chở 37.000 chai rƣợu Vodka từ Hunggari chuyển
đến cảng OSLO để chuẩn bị đƣa xuống tàu biển tới Canađa. Nhƣng mấy
ngày hôm sau chủ hàng đến cơ quan Hải quan để khai báo xin tái xuất toàn bộ
lô hàng về lại Hunggari với lý do dung lƣợng của chai Volka không đúng nhƣ
10
hợp đồng (hợp đồng quy định rƣợu Volka nhập khẩu mỗi chai là 0,7lít thực tế
là loại volka 0,5lít) để đổi rƣợu khác. Nhƣng sau đó trên đƣờng vận chuyển
những nhà nhập khẩu rƣợu đã đƣa 6 xe ôtô rƣợu đến thành phố Eilsvol của Na
uy để tiêu thụ.
11
đồng rất dài vì vậy đã tạo điều kiện để các đối tƣợng thực hiện các hành vi
phạm pháp. Công tác phát hiện của cơ quan Hải quan mang tính thụ động giải
quyết hậu quả không mang tính chủ động đấu tranh ngăn chặn không để cho
hành vi phạm tội xảy ra; Ngƣời thuê gia công và nhận gia công dễ thông đồng
với nhau để gian lận thƣơng mại. Bên cạnh việc thuê và nhận gia công giữa
doanh nghiệp trong nƣớc và doanh nghiệp nƣớc ngoài, việc thuê và nhận gia
công giữa hai đối tác cùng chung một công ty nhƣng có trụ sở ở hai nƣớc
khác nhau hoạt động trên cơ sở Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam cũng
đang phát triển rất phức tạp. Lợi dụng việc đƣợc phép thành lập công ty, chi
nhánh ở Việt Nam theo Luật Đầu tƣ, một số công ty nƣớc ngoài đã thông
đồng với nhau đƣa hàng hoá, nguyên phụ liệu vào trong nƣớc với danh nghĩa
thuê gia công nhƣng thực chất là tuồn hàng trái phép vào cho công ty, chi
nhánh của họ để tiêu thụ trong nội địa Việt Nam và thay thế bằng nguồn hàng
hoá, nguyên phụ liệu của Việt Nam dùng sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Đây là
một trong những hành vi gian lận thƣơng mại rất khó phát hiện và xử lý.
Biểu đồ loại hình gian lận thương mại lợi dụng sản xuất hàng gia công
đối với hai đối tác cùng chung một công ty ở nước ngoài.
XK sản phẩm
Nhập khẩu hoặc xuất sang
nguyên thị trƣờng khác
liệu
Thay thế nguyên liệu nội địa
các đối tƣợng này. Hầu hết những đối tƣợng hàng hoá chuyển khẩu đều có
những thủ tục riêng biệt và đƣợc miến thuế xuất nhập khẩu và thủ tục xuất
nhập khẩu đƣợc tiến hành đơn giản thuận tiện. Về nguyên tắc chuyển khẩu là
một hoạt động thƣơng mại có lợi cho các nhà xuất nhập khẩu. Đặc biệt các
nƣớc đang phát triển loại hình này còn tạo ra thu nhập từ các dịch vụ neo đậu,
kho tàng, bốc xếp, tái chế…Tuy nhiên một số đối tƣợng gian lận đã triệt để
khai thác những sơ hở của loại hình này để kiếm lợi. Đây chính là hành vi
gian lận thƣơng mại.
Nhƣ vậy gian lận chuyển khẩu và chuyển tải là việc sử dụng một nƣớc
thứ ba để giấu nguồn gốc, lai lịch thật sự của hàng hoá để trốn tránh sự kiểm
tra, phát hiện của cơ quan Hải quan nƣớc nhập khẩu. Chính tại nƣớc thứ 3
(nƣớc chuyển khẩu) chủ hàng đã biến những lô hàng có nguồn gốc từ những
nƣớc xuất khẩu bị hạn chế bởi côta, giấy phép thành những lô hàng đƣợc
hƣởng chế độ ƣu đãi bởi xuất khẩu với nguồn gốc xuất xứ tại nƣớc này. Bằng
thủ đoạn này những ngƣời đối tƣợng gian lận đã tránh đƣợc các chỉ định
nghiêm ngặt đối với hàng hoá mà họ nhập khẩu. Thậm chí còn đƣợc hƣởng
ƣu đãi về thuế và ƣu đãi khác.
Một số hình thức gian lận chủ yếu đối với loại hình thƣơng mại này nhƣ:
Hàng hoá đƣợc chuyển từ một nƣớc bị hạn chế đến nƣớc có ƣu đãi để chuyển
khẩu - ở đây những ngƣời có hàng thay thế bằng nhãn của nƣớc chuyển khẩu;
Hàng hoá đƣợc đƣa vào nƣớc nhận chuyển khẩu với tƣ cách là hàng tiêu dùng
13
ở nƣớc này. Sau đó dùng nhãn hiệu của nƣớc chuyển khẩu gắn vào hàng hoá
trở thành hàng hoá của nƣớc chuyển khẩu xuất khẩu; Hàng hoá đƣợc đƣa vào
nƣớc chuyển khẩu nhƣ là nguyên liệu để sản xuất hoặc chế biến thành sản
phẩm. Thông thƣờng hàng đã đƣợc chế biến một nửa còn lại là nguyên liệu
của nƣớc chuyển khẩu. Nhƣng đƣợc khai báo với hải quan là nguyên phụ liệu
xuất xứ của nƣớc chuyển tải; Thậm chí hàng hoá đƣợc đƣa lên tàu từ nƣớc
xuất xứ hàng hoá để sang nƣớc thứ hai nhƣng đã đƣợc hợp thức hoá đủ hồ sơ
thƣờng sử dụng cảng của các nƣớc này để xuất khẩu hàng tới nƣớc kia.
Gian lận thƣơng mại xuất nhập khẩu những hàng hoá đặc biệt là lợi
dụng việc xuất nhập khẩu hàng hoá thuộc lĩnh vực an ninh quốc phòng để
buôn bán qua biên giới trái phép thu lợi bất chính.
- Hình thức thứ tư: Lợi dụng chế độ quá cảnh mƣợn đƣờng để nhập khẩu
hàng tiêu thụ trong nƣớc.
Chế độ quá cảnh mƣợn đƣờng là những quy định đối với phƣơng tiện,
hàng hoá của nƣớc thứ nhất đƣợc phép đi ngang qua lãnh thổ của một nƣớc
thứ hai để đến nƣớc thứ ba. Đây là những hoạt động thƣơng mại thông thƣờng
giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhau về
kinh tế, thƣơng mại.
Theo quy định của luật pháp Việt Nam thì phƣơng tiện vận tải, hàng hoá
quá cảnh không phải đối tƣợng chịu thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu nhƣng
phải đảm bảo các nguyên tắc chủ yếu sau: Phải đƣợc Bộ Thƣơng mại cho
phép vận chuyển hàng quá cảnh đi thẳng bằng đƣờng hàng không; Phải tuân
thủ đúng luật pháp Việt Nam và chịu sự giám sát của cơ quan Hải quan; Phải
xuất khẩu toàn bộ hàng hoá đã nhập khẩu vào Việt Nam và cấm tiêu thụ hàng
quá cảnh trên lãnh thổ Việt Nam.
Thủ đoạn gian lận đƣợc sử dụng ở loại hình này rất nhiều dạng nhƣng
tập trung ở bốn loại: Giả mạo hồ sơ giấy tờ để tiến hành quá cảnh, mƣợn
đƣờng; Tuồn hàng đang quá cảnh mƣợn đƣờng vào nội địa trong lúc vận
chuyển hoặc dừng lại dọc đƣờng; Đánh tráo hàng hoá quá cảnh mƣợn đƣờng
bằng những hàng hoá khác; Đƣa lẫn hàng của nƣớc cho quá cảnh, mƣợn
đƣờng vào lô hàng đang vận chuyển để nhập khẩu vào nƣớc thứ ba nhằm
tránh sự kiểm soát của cơ quan Hải quan.
Nhƣ vậy gian lận thƣơng mại lợi dụng hàng quá cảnh mƣợn đƣờng là
hành vi “mƣợn cớ” hoặc giả mạo giấy tờ tạo “vỏ bọc” hợp pháp để đƣa hàng
trái phép vào trong nƣớc hoặc tuồn hàng trái phép ra nƣớc ngoài; Đối tƣợng
thƣờng lợi dụng sơ hở của cơ quan chức năng để thực hiện hành vi phạm tội;
Hành vi gian lận thƣơng mại lợi dụng hàng quá cảnh là cố ý.
Hàng chuyển tiếp
Cửa khẩu
Địa điểm nội địa
hoàn thành thủ
tục hải quan để
giải phòng hàng
16
Lợi dụng hình thức này một số đối tƣợng gian lận thƣơng mại xin
chuyển tiếp. Nhiều công ty, doanh nghiệp không phải xin chuyển tiếp hàng
nhập khẩu về khu vực nơi đóng trụ sở hoặc có chi nhánh đại diện mà mục
đích chủ yếu là chuyển tiếp đến nơi dễ tiêu thụ và để dễ thực hiện hành vi
gian lận. Để chuyển tiếp hàng đến địa điểm nhƣ vậy, các công ty có hàng
thƣờng dùng phƣơng thức uỷ thác cho các công ty xuất nhập khẩu trực tiếp
khai báo làm thủ tục hải quan.
Nhƣ vậy gian lận thƣơng mại đối với hàng chuyển tiếp là loại hình gian
lận xảy ra trong hoạt động chuyển tiếp hàng nhập khẩu từ cửa khẩu nhập đầu
tiên đến một địa điểm khác trong nội địa.Thủ đoạn của các đối tƣợng gian lận
là lợi dụng xin chuyển tiếp để tuồn hàng nhập khẩu trái phép ra khỏi khu vực
kiểm soát của hải quan ở cửa khẩu và tìm cách tiêu thụ nội địa. Một số đối
tƣợng đã mua chuộc cán bộ nhân viên thuộc cơ quan chức năng để thông
đồng lợi dụng chế độ chuyển tiếp hàng hoá để thu lợi bất chính.
+ Lợi dụng danh nghĩa kinh doanh loại hàng xuất nhập khẩu này để xuất
nhập khẩu trái phép hàng hoá khác.
- Hình thức thứ 7: Xuất nhập khẩu hàng hoá giả mạo và hàng hoá vi
phạm bản quyền
Hàng giả là những hàng hoá kể cả bao bì mang nhãn hiệu, tên gọi giống
hệt nhãn hiệu, tên gọi của những hàng hoá khác nhƣng không thực hiện đúng
quy định của pháp luật về đăng ký nhẵn hiệu, tên gọi của những hàng hoá đó.
Hàng hoá vi phạm bản quyền là những hàng hoá đƣợc sản xuất sao chép,
tạo dáng trực tiếp hoặc gián tiếp từ những hàng hoá khác nhƣng không đƣợc
phép của ngƣời sở hữu bản quyền và vi phạm quy định của pháp luật về
quyến sở hữu công nghiệp và trí tuệ.
Tình trạng buôn bán trao đổi hàng giả mạo hàng ăn cắp bản quyền trên
thị trƣờng ngày càng gia tăng là một tệ nạn xã hội không những gây thiệt hại
cho ngƣời sản xuất, ngƣời tiêu dùng mà còn gây khó khăn nhiều mặt đối với
đất nƣớc. Cùng với trao đổi buôn bán hàng giả, hàng ăn cắp bản quyền, hàng
không rõ nguồn gốc lai lịch, tình hình xuất nhập khẩu hàng giả đã và đang
phát triển phức tạp ở thế giới.
Xuất nhập khẩu hàng giả là hành vi xuất khẩu hoặc nhập khẩu những
hàng hoá kể cả bao bì mang nhãn hiệu, tên gọi giống hệt nhãn hiệu, tên gọi
của những hàng hoá khác của nƣớc xuất khẩu, nhập khẩu nhƣng không thực
hiện đúng quy định của của pháp luật nƣớc nhập khẩu, hoặc nƣớc xuất khẩu
về đăng ký tên gọi của những hàng nhập khẩu, xuất khẩu.
18
Xuất nhập khẩu hàng hoá vi phạm bản quyền là hành vi xuất khẩu hoặc
nhập khẩu những hàng hoá đƣợc sản xuất, sao chép tạo dáng trực tiếp hoặc
gián tiếp từ những hàng hoá khác nhƣng không đƣợc phép của ngƣời sở hữu
bản quyền và vi phạm quy định của pháp luật nƣớc nhập khẩu hoặc nƣớc xuất
khẩu về quyền sở hữu công nghiệp và trí tuệ.
Nhƣ vậy, xuất nhập khẩu hàng hoá giả mạo là một loại hình gian lận
thƣơng mại rất phức tạp ở trên thị trƣờng quốc tế. Hành vi chủ yếu của các
đối tƣợng gian lận loại hình này là lấy nhãn hiệu của loại hàng A gắn vào loại
các khoản phí đã nộp cho Hải quan là cố ý và có xu hƣớng gia tăng phức tạp.
- Hình thức thứ chín: Giả mạo giấy tờ để hợp thức hoá hành vi xuất nhập
khẩu trái phép.
Để buôn bán hàng hoá xuất nhập khẩu trái phép và trốn thuế nhập khẩu
một số đối tƣợng gian lận đã tạo “vỏ bọc” hợp pháp bằng các thủ đoạn ký hợp
đồng với những doanh nghiệp xuất nhập khẩu hoặc giả mạo hồ sơ giấy tờ
kinh doanh hàng hoá xuất nhập khẩu.
Giả mạo giấy tờ là loại hình gian lận thƣơng mại sử dụng giấy tờ giả để
hợp thức hoá hành vi kinh doanh, xuất nhập khẩu, vận tải hàng hoá trái phép
qua biên giới.
Hành vi gian lận thƣơng mại ở loại hình này là hành vi phạm tội rất
nghiêm trọng vì cùng một lúc phạm tội buôn bán, chuyên chở hàng hoá xuất
nhập khẩu trái phép vừa vi phạm tội giả mạo giấy tờ đƣợc quy định trong Bộ
Luật Hình sự của Nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Hình thức thứ 10: Xuất nhập khẩu ngoại tệ trái phép và khai khống
ngoại tệ khi nhập cảnh.
Hành khách khi xuất cảnh, nhập cảnh có mang theo vàng, ngoại tệ và
đồng Việt Nam có giá trị vƣợt định mức theo quy định của Ngân hàng nhà
nƣớc Việt Nam thì phải khai báo phần vƣợt định mức đó. Riêng đối với vàng
và ngoại tệ khi xuất cảnh, ngoài việc khai báo phần vƣợt phải còn phải có
giấy phép mang ngoại tệ của Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam hoặc đƣợc Ngân
hàng nhà nƣớc Việt Nam uỷ quyền cấp.
Nhƣ vậy việc khai báo với cơ quan Hải quan đúng số lƣợng ngoại tệ
mang theo lúc xuất, nhập cảnh là nghĩa vụ của các đối tƣợng xuất nhập cảnh.
Nhƣng trên thực tế nhiều trƣờng hợp mang ngoại hối trái phép qua biên giới
trốn tránh sự kiểm soát của cơ quan Hải quan hoặc khai báo gian lận số lƣợng,
trọng lƣợng ngoại hối mang theo vì những động cơ bất chính.
Xuất nhập khẩu ngoại tệ trái phép và khai khống ngoại tệ vào Việt Nam
là một trong những loại hình gian lận thƣơng mại hiện nay ở nƣớc ta.
Thủ đoạn chủ yếu của các đối tƣợng ở loại hình gian lận này là giấu
Hành vi gian lận thƣơng mại này là cố ý nhƣng tính chất đặc biệt
nghiêm trọng vì đối tƣợng thực hiện hành vi chuẩn bị rất kỹ.
Gian lận thƣơng mại do lợi dụng tƣ tƣởng thoái hoá biến chất của công
chức hải quan: Gian lận thông qua việc làm thủ tục hải quan cho hàng hoá
chuyển tiếp; gian lận thông qua việc doanh nghiệp kinh doanh hàng tạm nhập
tái xuất; gian lận thông qua loại hình kinh doanh nhập sản xuất xuất khẩu; gia
công hàng xuất khẩu.
21
Gian lận thƣơng mại thông qua biên giới không kiểm soát đƣợc của Hải
quan nhƣ: Gian lận trong vận tải đƣờng biển; Gian lận, buôn lậu qua đƣờng
bộ; Gian lận, buôn lậu qua đƣờng hàng không.
1.1.2.2. Các hình thức gian lận thương mại qua giá trong hoạt động
nhập khẩu.
Trong điều kiện chƣa áp dụng Hiệp định trị giá Hải quan, Việt Nam sử
dụng Bảng giá tối thiểu, bảng giá kiểm tra để làm công cụ chủ yếu chống gian
lận thƣơng mại qua giá. Điều đó có nghĩa là hàng hoá nhập khẩu sẽ đƣợc xác
định giá tính thuế trên cơ sở so sánh với giá tối thiểu. Giá tính thuế sẽ luôn
cao hơn hoặc bằng mức giá tối thiểu đã quy định. Trong trƣờng hợp hàng hoá
không có giá tối thiểu thì sẽ so sánh giá nhập khẩu với giá kiểm tra do cơ
quan Hải quan xây dựng. Nhƣ vậy với quy định hiện hành, nếu doanh nghiệp
nhập khẩu hàng hoá với giá cao hơn giá tối thiểu thì họ sẽ tìm cách khai báo
thấp hơn hoặc bằng giá tối thiểu để giảm bớt số thuế phải nộp vào ngân sách
nhà nƣớc. Còn nếu doanh nghiệp thực sự nhập khẩu hàng hoá với giá thấp
hơn giá tối thiểu thì lại phải nộp thêm một khoản nữa vào số thuế mà lẽ ra
doanh nghiệp phải nộp cho Nhà nƣớc.
Để đạt đƣợc mục đích cục bộ, doanh nghiệp thƣờng dàn xếp để ngụy tạo
hợp đồng nhập khẩu có đầy đủ các điều khoản nhƣ quy định nhƣng với giá
nhập khẩu thấp hơn, thậm chí thấp hơn rất nhiều, so với giá thực tế mà họ
phải trả. Trong khi đó, với hệ thống pháp lý hiện hành, cơ quan Hải quan
khẩu. Trị giá lô hàng bánh trứng thực tế là 225.000USD cao hơn giá trị thực
đã khai là 50.000 USD. Nhƣ vậy Công ty trên đã trốn thuế:
(225.000USD – 175.000USD) x 50% = 25.000USD
- Trong trƣờng hợp có sự phân biệt giữa nhập khẩu chính thức và nhập
khẩu không chính thức. Một số nƣớc có sự phân biệt giữa nhập khẩu chính
thức và nhập khẩu không chính thức dựa trên trị giá hay mục đích sử dụng.
Nghĩa là thủ tục nhập khẩu đơn giản đƣợc áp dụng đối với lô hàng trị giá thấp
và phục vụ mục đích cá nhân theo đó các lô hàng loại này sẽ đƣợc thông quan
ngay hoặc chỉ kiểm tra sơ qua. Thủ tục nhập khẩu chính thức yêu cầu phải lập
hồ sơ đầy đủ chứng từ dẫn đến việc kiểm tra kỹ hơn đối với cả chính từ và
hàng hoá nhập khẩu. Hiển nhiên là một lô hàng nhập khẩu có nghi vấn nhƣng
nếu đáp ứng đƣợc các tiêu chí để đƣợc coi là hàng nhập khẩu không chính
thức thì sẽ có khả năng tránh đƣợc sự phát hiện.
- Để vi phạm hạn ngạch: Trong trƣờng hợp có hạn ngạch, hoặc đối với
số lƣợng tuyệt đối của hàng hoá đƣợc phép nhập khẩu hoặc khi thuế suất bị
ảnh hƣởng bởi số lƣợng hàng hoá nhập khẩu (thuế luỹ tiến theo giá trị nhập)
sẽ tạo nguy cơ gian lận. Điều này là hoàn toàn đúng khi trị giá hàng hoá đƣợc
sử dụng để xác định hạn ngạch. Việc khai thấp trị giá sẽ có lợi về hạn ngạch.
23
- Để đƣợc hƣởng một thuế suất thuận lợi hơn khi phân loại và thuế suất
có thể phụ thuộc vào trị giá hàng hoá. Trong một số trƣờng hợp, thuế suất có
thể phụ thuộc vào trị giá hàng hoá, hàng hoá có giá trị dƣới X đơn vị tiền tệ có
thuế suất 5%, hàng hoá có giá trị trên X đơn vị tiền tệ có thuế suất 10%. Khi
trị giá thấp đƣợc hƣởng thuế suất thấp thì sẽ có sự khai báo trị giá thấp hơn
thực tế.
* Các phương thức gian lận để khai thấp trị giá bao gồm:
- Lập hoá đơn kép, trong đó hoá đơn ghi trị giá thấp xuất trình cho cơ
quan Hải quan, hoá đơn trị giá cao đƣợc ngƣời nhập khẩu giữ lại để làm
chứng từ thanh toán. Phƣơng thức này đặc biệt phổ biến. Ngƣời xuất khẩu sẽ
đúc, khuôn rập và các hạng mục tƣơng tự đƣợc sử dụng trong sản xuất hàng
nhập khẩu; Nguyên, vật liệu tiêu phí trong sản xuất hàng nhập khẩu; Thiết kế
kỹ thuật, chí phí triển khai, thiết kế mỹ thuật, thiết kế mẫu mã sơ đồ, phác hoạ
đƣợc thực hiện ở bất cứ nơi nào ngoài nƣớc nhập khẩu và cần thiết cho sản
xuất hàng nhập khẩu.
+ Lệ phí bản quyền và lệ phí giấy phép có liên quan đến lô hàng đang
đƣợc xác định trị giá, những chi phí này ngƣời mua phải trả trực tiếp hay gián
tiếp nhƣ một điều kiện của vụ bán lô hàng đang đƣợc xác định trị giá khi mà
các khoản chi phí này chƣa đƣợc tính vào giá thực tế đã thanh toán hay sẽ
phải thanh toán.
+ Trị giá của bất cứ phần lời lãi nào đó sau khi bán lại, chuyển nhƣợng
hoặc sử dụng hàng nhập khẩu, các khoản tiền này đƣợc chuyển trực tiếp hoặc
gián tiếp cho ngƣời bán.
- Khai thấp hoặc khai quá các khoản cƣớc phí và chi phí liên quan khác,
tuỳ theo cách xử lý các khoản này của mỗi nƣớc. Trong khuôn khổ pháp luật
của mình, mỗi nƣớc sẽ quy định tính gộp vào hay loại trừ ra khỏi trị giá hải
quan một phần hay toàn bộ các khoản chi phí sau: Chi phí vận tải hàng nhập
khẩu tới cảng hoặc địa điểm nhập khẩu. Cƣớc phí vận tải trở thành một lĩnh
vực hấp dẫn cho việc gian lận ở một số nƣớc. Nếu cƣớc phí vận tải đƣợc tính
vào trị giá hải quan thì các khoản này có thể đƣợc khai thấp đi. Khi không
đƣợc tính vào trị giá hải quan thì các khoản này có thể đƣợc khai cao hơn vì
không phải chịu thuế và làm cho trị giá Hải quan giảm đi; Chi phí công bốc
xếp, dỡ hàng có liên quan đến vận chuyển hàng nhập khẩu tới cảng hoặc địa
điểm nhập khẩu; Chi phí bảo hiểm.
- Không khai báo về mối quan hệ đặc biệt với nhau. Các bên mua bán
đƣợc coi là có quan hệ đặc biệt với nhau chỉ khi mà: Ngƣời mua và ngƣời bán
cùng là nhân viên hoặc giám đốc của một doanh nghiệp thứ ba; Họ đƣợc công
nhận là các chủ phần hùn vốn của một doanh nghiệp; Họ là quan hệ giữa chủ
và thợ; Một bên có quyền sở hữu trực tiếp hay gián tiếp, kiểm soát hay nắm
giữ từ 5% trở lên cổ phiếu hay chứng khoán của bên kia; Cả hai bên cùng
giản hiệu quả nhất chính là kiến thức chuyên môn về hàng hoá của công chức
hải quan làm nhiệm vụ xác định trị giá. Công chức Hải quan xác định trị giá
càng hiểu biết về hàng hoá cũng nhƣ việc hàng hoá đó đƣợc mua bán nhƣ thế
nào thì khả năng phát hiện các điểm không nhất quán càng cao. Trong số các
biện pháp phát hiện gian lận thì đây là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất.
Kiến thức về hàng hoá cũng nhƣ phƣơng thức mua bán hàng hoá đó thƣờng