phân tích và đánh giá chất lượng cán bộ, công chức huyện nông sơn, tỉnh quảng nam - Pdf 13

GVHD : Nguyễn Đình Hoa Cương
SVTH : Phạm Hữu DưLỜI CẢM ƠNTrên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ
trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác. Trong
suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, em đã nhận
được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè.
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý Thầy Cô ở Khoa
Hệ Thống Thông Tin Kinh Tế – Trường Đại Học Kinh Tế Huế đã cùng với
tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho
chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường. Và đặc biệt, trong học kỳ
này, Khoa đã tổ chức cho chúng em được tiếp cận với thực tế mà theo em
là rất hữu ích đối với sinh viên ngành Tin Học Kinh Tế cũng như tất cả
các sinh viên thuộc các chuyên ngành Kinh Tế khác. Đó là môn học
“chuyên đề cuối khóa”.
Em xin chân thành cảm ơn thầy “Nguyễn Đình Hoa Cương” đã tận tâm
hướng dẫn chúng em qua từng buổi nói chuyện, thảo luận về các phương thức hay
các nội dung hỗ trợ cho chúng em trong việc hoàn thành bài chuyên đề cuối khóa.
Nếu không có những lời hướng dẫn, dạy bảo của thầy thì em nghĩ bài thu hoạch này
của em rất khó có thể hoàn thiện được. Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn thầy.
Bài thu hoạch được thực hiện trong khoảng thời gian gần 3 tháng. Bước
đầu đi vào thực tế, tìm hiểu về môi trường làm việc bên ngoài, kiến thức của em còn
hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ. Do vậy, không tránh khỏi những thiếu sót là điều
chắc chắn, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý
Thầy Cô và các bạn học cùng lớp để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn
thiện hơn.
PHẦN MỞ ĐẦU

bộ cấp cơ sở.
Trong đợt thực tập tốt nghiệp vừa qua tại Ủy Ban huyện Nông sơn ,tỉnh
Quảng Nam tôi có điều kiện tìm hiểu về tình hình và thực trạng đội ngũ cán bộ,
công chức cấp cơ sở của huyện. Chất lượng cán bộ, công chức còn thấp, trình độ
năng lực thực thi công vụ của đội ngũ này hiện còn nhiều bất cập so với yêu cầu
công việc và yêu cầu của thực tế đặt ra.
Với những lý do trên, em đã chọn đề tài: “phân tích và đánh giá chất lượng
cán bộ, công chức huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung vào việc phân tích thực trạng và đánh giá về chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam từ đó đề xuất
một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở tại huyện
Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam góp phần vào việc nâng cao hiệu quả thực thi công vụ
của đội ngũ này cũng như chất lượng hoạt động của chính quyền cấp cơ sở của
huyện.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề nâng cao chất lượng của đội ngũ cán
bộ, công chức cấp cơ sở.
- Tìm hiểu trực trạng chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức huyện Nông
Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Đưa ra một số kiến nghị, giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ, công chức cấp cơ sở huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
2.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một khoá luận tốt nghiệp, đề tài tập trung vào nghiên
cứu về trình độ; hiệu quả thực thi công việc, đạo đức công việc và một số vấn đề
khác của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn huyện theo số liệu thống kê về cán bộ, công
chức cấp cơ sở của huyện.
2.4 Phương pháp nghiên cứu

quyền 4 cấp. Gọi chính quyền cấp xã là chính quyền cấp cơ sở bởi những lý do sau:
Thứ nhất, cấp này thoả mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành của một cấp chính
quyền:
- Được Nhà nước trao cho chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn để thay mặt cho
Nhà nước quản lý công việc địa phương.
- Có cơ chế bầu cử cán bộ địa phương.
- Có tính tự quản nhất định.
- Chịu sự kiểm soát của chính quyền cấp trên.
Thứ hai, đây là cấp chính quyền thấp nhất, không có cấp chính quyền nào
thấp hơn chính quyền xã, phường, thị trấn. Đây là cấp gần dân nhất, sâu sát nhân
dân nhất so với các cấp chính quyền khác.
Thứ ba, cấp xã là nền móng của bộ máy nhà nước, là cái gốc của hệ thống
chính quyền nhà nước 4 cấp.
Mặc dù là cấp thấp nhất nhưng chính quyền cơ sở có một vai trò rất quan
trọng trong hệ thống chính quyền 4 cấp và vị trí quan trọng đặc biệt trong hệ thống
chính trị cơ sở nói riêng.
2. Vị trí, vai trò của chính quyền cấp cơ sở.
Chính quyền cơ sở là cầu nối, là nơi giao lưu trực tiếp giữa Nhà nước và
nhân dân, đồng thời cấp cơ sở là nơi biểu hiện tập trung nhất, rõ nhất những ưu việt
hay hạn chế của chế độ xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh đã dạy: “Cấp xã là cấp gần
dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được thì mọi việc đều xong
xuôi”. Chính vì vậy, chất lượng hoạt động của chính quyền cấp cơ sở ảnh hưởng
trực tiếp đến uy tín, lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước.
Chính quyền cơ sở là nơi thể hiện tính hiệu lực, hiệu quả của chủ trương,
đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. Đây là nơi trực tiếp thực
thi, kiểm nghiệm và phản ánh tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống thể chế, chính
sách. Do đó, chất lượng của hệ thống thể chế chính sách phụ thuộc vào chất lượng
hoạt động của chính quyền cấp cơ sở.
Chính quyền cơ sở trực tiếp quản lý các hoạt động kinh tế xã hội của địa
phương. Những vấn đề của địa phương mà chính quyền cơ sở có thẩm quyền giải

- Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn
nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã (gọi chung là công chức cấp xã), gồm các chức
danh:
+ Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy);
+ Chỉ huy trưởng quân sự;
+ Văn phòng – Thống kê;
+ Địa chính – Xây dựng;
+ Tài chính – Kế toán;
+ Tư pháp – Hộ tịch;
+ Văn hóa – Xã hội.
Với quy định mới này địa vị pháp lý của đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở
có sự thay đổi lớn. Quyền hạn và trách nhiệm của họ được quy định chặt chẽ hơn,
đồng thời yêu cầu đối với họ cũng cao hơn để đảm nhận trách nhiệm do Đảng, Nhà
nước và nhân dân giao phó.
2. Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở
Cán bộ, công chức cấp cơ sở là một bộ phận không thể thiếu trong đội ngũ
cán bộ, công chức nước ta. Mọi hoạt động của chính quyền cơ sở đều do cán bộ,
công chức cấp cơ sở thực hiện. Đảng ta luôn coi cán bộ có vai trò quyết định đối
với sự nghiệp cách mạng. Nghị quyết hội nghị Trung ương 3 (khoá VII) khẳng định
trong công cuộc đổi mới đất nước thì: “Cán bộ cũng có vai trò cực kỳ quan trọng,
hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới. Cán bộ nói chung có vai trò rất
quan trọng, cán bộ cơ sở nói riêng có vị trí nền tảng cơ sở. Cấp cơ sở là cấp trực
tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà
nước trong thực tế. Pháp luật của Nhà nước có được thực thi tốt hay không, có
hiệu quả hay không hiệu quả một phần quyết định là ở cơ sở. Cấp cơ sở trực tiếp
gắn với quần chúng; tạo dựng phong trào cách mạng quần chúng. Cơ sở xã,
phường, thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội
ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn”.
Do địa bàn hoạt động, tính chất công việc và nhiệm vụ được giao nên người
cán bộ, công chức cấp cơ sở phải thường xuyên tiếp xúc với nhân dân để triển khai

không phải tự nhiên mà có. Chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ cơ sở tuỳ thuộc
vào quá trình tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và tự rèn luyện một cách chủ động
sáng tạo của từng cá nhân và các cấp bộ Đảng, chính quyền đoàn thể. Quan điểm
này được thể hiện rõ trong các nghị quyết của Đảng. Văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XIII nhấn mạnh: “Dành kinh phí thoả đáng cho việc đào tạo, bồi dưỡng
đội ngũ cán bộ cơ sở, chú ý kiện toàn và tăng cường đội ngũ cán bộ cốt cán”. Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX tiếp tục khẳng định: “Tăng cường cán bộ cho cơ sở, có
chế độ chính sách đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ đối với cán bộ xã, phường, thị trấn để
họ hoạt động ngày càng hiệu quả góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc”.Do đó, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp
cơ sở thì trước hết phải nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ, công
chức chính quyền cấp cơ sở. Họ không những chỉ cần có nhiệt tình cách mạng, có
phẩm chất đạo đức tốt mà còn cần phải có tri thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ,
có năng lực công tác để hoàn thành nhiệm vụ Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.
Vì thế xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp cơ sở vững vàng
về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, trong đó nâng cao trình
độ của đội ngũ này để họ có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực là yếu tố
quan trọng nhất trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp cơ sở.
Tuy nhiên trên thực tế, trong nhận thức và cả việc làm chúng ta vẫn còn có những ý
niệm giản đơn về vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở, chưa thấy hết vai trò, tính
phức tạp, tính quyết định của họ đối với hoạt động quản lý hành chính ở cơ sở.
Người cán bộ hàng ngày cọ sát với thực tiễn rất phức tạp thuộc nhiều lĩnh vực
nên họ cần phải có bản lĩnh, có nhiều kinh nghiệm và hiểu biết để làm việc, song
họ lại ít được đào tạo, bồi dưỡng lý luận, nghiệp vụ và thông tin về chính sách pháp
luật. Việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với họ cũng chưa tương xứng.
Thực tế này là một trong những nguyên nhân làm hạn chế năng lực trình độ quản lý
điều hành của đội ngũ cán bộ ở cơ sở.
3. Nguồn hình thành đội ngũ cán bộ công chức cấp cơ sở
Đặc điểm cơ bản của chính quyền cơ sở là cấp gần dân nhất, trực tiếp quan
hệ với nhân dân, phạm vi công tác quản lý rộng bao quát nhiều lĩnh vực hoạt động

bộ, công chức xã, phường, thị trấn;
d. Quyết định số 04/2004/QĐ – BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộ
trưởng Bộ Nội vụ về việc quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã,
phường, thị trấn;
e. Nghị định số 121/2003/NĐ – CP ngày 21 tháng 10 năm 2003 của Chính
phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn;
f. Thông tư liên tịch số 34/2004/TTLT/BNV – BTC – BLĐTBXH ngày 14
tháng 5 năm 2004 của Bộ Nội vụ – Bộ Tài chính – Bộ Lao động – Thương binh và
Xã hội hướng dẫn thực hiện Nghị định số 121/2003/NĐ – CP của Chính phủ về chế
độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn.
IV. CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VÀ MỘT SỐ HÌNH THỨC
BIỂU HIỆN CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
1. Chất lượng cán bộ công chức
Khái niệm chất lượng
Chất lượng là một thuật ngữ đã tồn tại từ lâu trong lịch sử. Trong từng giai
đoạn phát triển của sản xuất đã xuất hiện nhiều định nghĩa về chất lượng.
Sau đây là một số khái niệm điển hình:
Theo Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa, trong tiêu chuẩn ISO 8402: 2000
(Quality Management and Quality Assurance): “Chất lượng là toàn bộ các đặc tính
của một thực thể, tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn các nhu cầu đã được
công bố hay còn tiềm ẩn”.
Theo Tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Á (European Quality Control
Organization): “Chất lượng là mức độ phù hợp với yêu cầu người tiêu dùng”.
Theo tiêu chuẩn Pháp: “Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch
vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng”.
Theo Giáo sư P. B. Crosby: “Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu”.
Theo J. M. Juran, một chuyên gia về chất lượng nổi tiếng của Mỹ: “Chất
lượng bao gồm những đặc điểm của sản phẩm phù hợp với các nhu cầu của khách
hàng và tạo ra sự thỏa mãn đối với khách hàng”.
Nhưng dù tiếp cận theo cách nào cũng phải đảm bảo: phù hợp với tiểu chuẩn

chức cấp cơ sở cần có các loại trình độ sau:
- Trình độ học vấn;
- Trình độ chuyên môn;
- Trình độ lý luận chính trị;
- Trình độ quản lý nhà nước;
- Trình độ tin học
a. Trình độ học vấn là mức độ đạt được trong hệ thống trình độ kiến thức phổ
thông, bao gồm các mức: Tiểu học, THCS và THPT. Đây là hệ thống kiến thức phổ
thông về tự nhiên, xã hội làm nền tảng cho nhận thức, tư duy và hoạt động của con
người. Trình độ học vấn không phải là yếu tố quyết định đến toàn bộ năng lực và
hiệu quả làm việc nhưng là yếu tố cơ bản ảnh hưởng, đồng thời cũng là chỉ tiêu
quan trọng để đánh giá năng lực và hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ, công
chức cấp cơ sở. Hạn chế về trình độ học vấn sẽ làm hạn chế khả năng của người
cán bộ, công chức trong hoạt động công tác như: hạn chế khả năng tiếp thu, lĩnh
hội đường lối, chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước, sự chỉ
đạo của cấp trên; làm hạn chế khả năng phổ biến những chủ trương, chính sách đó
cho nhân dân; làm hạn chế năng lực tổ chức triển khai, kiểm tra, đôn đốc, vận động
quần chúng…
b. Trình độ chuyên môn là mức độ đạt được về một chuyên môn, một ngành
nghề nào đó. Đây là những kiến thức trực tiếp phục vụ cho công việc chuyên môn
của người cán bộ, công chức, đặc biệt là công chức, những người thực hiện một
công vụ thường xuyên trong cơ quan hành chính nhà nước.
c. Trình độ lý luận chính trị là mức độ đạt được trong hệ thống những kiến thức
lý luận về lĩnh vực chính trị, lĩnh vực giành và giữ chính quyền, bao gồm các kiến
thức về quyền lực chính trị, đảng phái chính trị, đấu tranh chính trị… Hệ thống kiến
thức này trang bị và củng cố lập trường giai cấp, lập trường quan điểm của Đảng
lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam. Nó giúp cho mỗi cán bộ, công chức cấp cơ sở
có quan điểm và lập trường đúng đắn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của
mình.
d. Trình độ quản lý nhà nước là mức độ đạt được trong hệ thống tri thức về lĩnh

vụ trong ngày, kết quả thực hiện nhiệm vụ trong tháng, trong năm, trong nhiệm kỳ.
Hoạt động quản lý nhà nước bao gồm nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội vốn
rất phong phú và đa dạng. Chính vì vậy, đánh giá kết quả thực thi hoạt động quản lý
nhà nước cũng hết sức đa dạng. Có sản phẩm làm ra được kết quả ngay, ví dụ như
các quyết định xử phạt hành chính, nhưng cũng có những sản phẩm phải đến một
năm thậm chí phải một thời gian dài mới có thể đánh giá được kết quả ví dụ như kết
quả thực hiện Nghị quyết của HĐND về kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng hàng
năm hay như cho vay xoá đói giảm nghèo, đầu tư cơ sở hạ tầng.
Thông thường, việc đánh giá kết quả thực thi nhiệm vụ của một cơ quan hoặc
đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của một cán bộ, công chức được tổ chức đánh
giá trong thời gian một năm.UBND xã thực thi hoạt động quản lý hành chính nhà
nước thông qua hai hình thức cơ bản:
- Ban hành các quyết định quản lý hành chính nhà nước mà UBND xã được
phép ban hành.
- Triển khai các hoạt động quản lý hành chính cũng như cung cấp dịch vụ
công cho xã hội, công dân hay cho khách hàng có nhu cầu (hoạt động hành chính).
Chất lượng hoạt động của hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước nói chung và
của UBND xã nói riêng trong nhóm thứ nhất được quyết định bởi chất lượng của các
văn bản quản lý hành chính Nhà nước mà UBND xã ban hành. Như vậy, hiệu quả
thực thi công vụ của cán bộ, công chức xã chính là chất lượng của các loại văn bản
quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của UBND xã và các quyết định
hành chính của Chủ tịch UBND xã.
Trong nhóm thứ hai, hiệu quả thực thi công vụ của cán bộ, công chức xã
được thể hiện thông qua chất lượng của các dịch vụ công mà UBND xã phải cung
cấp theo quy định của pháp luật như: chứng thực, hộ tịch, đất đai,…Chất lượng của
những dịch vụ công này được đánh giá dựa trên những tiêu chí cụ thể như: Việc
thực hiện các hoạt động cung cấp dịch vụ công của cán bộ, công chức có tuân thủ
theo những quy trình bắt buộc theo quy định của pháp luật hay không; cách làm của
họ đã hợp lý, hiệu quả hay chưa; người dân (người sử dụng các loại dịch vụ này) có
nhận xét và đánh giá gì, mức độ hài lòng và thoả mãn của họ,…

việc; bảo vệ và sử dụng an toàn, tiết kiệm tài sản công; có thái độ cư xử đúng mực
và phải luôn hoàn thiện; lấy hiệu quả công việc làm niềm vui, lẽ sống và là động cơ
để phấn đấu. Với những cán bộ, công chức như vậy sẽ góp phần xây dựng đội ngũ
cán bộ vững mạnh, nền hành chính hiệu lực, hiệu quả và trong sạch.
Tuy nhiên, một bộ phận cán bộ, công chức quan liêu, hách dịch, tham nhũng;
tha hóa về đạo đức, lối sống sẽ làm suy giảm uy tín của Đảng và niềm tin của nhân
dân đối với Nhà nước, làm suy yếu đội ngũ cán bộ công chức cũng như làm giảm
hiệu quả, hiệu lực của nền hành chính.
Phương pháp và kỹ năng làm việc của cán bộ công chức
Phương pháp giải quyết công việc là cách thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ
hay một chủ trương, chính sách, một công việc cụ thể. Nếu nhiệm vụ là việc phải
làm tức là trả lời cho câu hỏi “làm gì?” thì phương pháp là cách thức phải làm tức
là trả lời cho câu hỏi “làm như thế nào?” để đạt hiệu quả cao nhất.
Phương pháp để hoàn thành nhiệm vụ là tiêu chí đánh giá quá trình “xử lý”
để đạt được kết quả đầu ra của thực thi hoạt động quản lý nhà nước. Sẽ thật thiếu
sót nếu như đánh giá năng lực làm việc của cán bộ, công chức chỉ xem xét kết quả
mà không xem xét phương pháp làm việc. Nếu như trình độ kiến thức là nền tảng
giúp cán bộ quản lý, điều hành đạt “lý” thì phương pháp giúp cán bộ quản lý điều
hành đạt “tình”. Người cán bộ có trình độ kiến thức, có phương pháp hoạt động tốt
sẽ thực thi hoạt động quản lý nhà nước “thấu tình đạt lý”, hợp lòng dân, có khả
năng khơi dậy sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân, được nhân dân tin yêu. Ngược
lại, nếu có trình độ kiến thức mà không có phương pháp hoạt động tốt, phù hợp thì
công việc khó hoàn thành, hoặc có hoàn thành nhưng khả năng phát sinh các vấn đề
khiếu nại, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân sẽ gây ra những hậu quả đáng tiếc hoặt
mất lòng dân.
Phương pháp giải quyết công việc thể hiện phong cách, thái độ ứng xử và sự
sáng tạo của cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ. Với mỗi việc phát sinh,
người cán bộ công chức có nhận định, đưa ra cách giải quyết hiệu quả nhất hoặc
với mỗi đối tượng có cách ứng xử phù hợp. Với kết quả giải quyết công việc như
nhau nhưng người có phương pháp tốt sẽ cho kết quả trong thời gian ngắn nhất, kết

của người cán bộ, công chức. Thông thường tuổi càng cao, thâm niên công tác càng
lâu thì kinh nghiệm của cán bộ, công chức càng nhiều, dày dạn, họ đã tích luỹ được
nhiều kiến thức, nhiều kỹ năng, phương pháp để giải quyết công việc nhanh chóng,
hiệu quả. Tuy nhiên, độ tuổi cũng chỉ là một tiêu chí phản ánh chất lượng cán bộ
công chức một cách tương đối. Một số những người trẻ tuổi họ cũng rất ham hiểu
biết, trình độ, năng lực của họ khá cao mặc dù họ chưa có nhiều kinh nghiệm thực
tế. Vì vậy cần phải nắm được những đặc điểm này để sử dụng cán bộ, công chức
cho phù hợp với từng vị trí và năng lực, trình độ của từng người trong mỗi cơ quan,
tổ chức.
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở
Cơ chế hình thành đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở
Đây được coi là nhân tố đầu tiên, ảnh hưởng đến chất lượng của đội ngũ cán
bộ, công chức cấp cơ sở. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy rằng việc lựa chọn cán
bộ, tuyển chọn công chức đúng tiêu chuẩn, khách quan thì sẽ xây dựng được một
đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở có trình độ, năng lực và ngược lại. Theo quy
định của pháp luật, đội ngũ cán bộ cấp cơ sở được hình thành theo cơ chế bầu, đội
ngũ công chức cấp cơ sở được hình thành từ cơ chế tuyển dụng.Cơ chế bầu đội ngũ
cán bộ cấp cơ sởTheo Luật bầu cử HĐND và UBND năm 2003 thì có hai phương
thức để tham gia ứng cử vào HĐND cấp cơ sở là:
thứ nhất, do các tổ chức cơ sở giới thiệu và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiến
hành hiệp thương để đưa vào danh sách bầu cử;
thứ hai, công dân địa phương từ đủ 21 tuổi trở lên và có đủ điều kiện theo quy
định thì được tự ứng cử và cũng được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiến hành hiệp
thương để đưa vào danh sách bầu cử, công dân địa phương từ đủ 18 tuổi trở lên và
đủ năng lực pháp luật sẽ tham gia bầu cử lựa chọn ra những người ưu tú nhất vào cơ
quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Cơ quan hành chính cấp trên phê chuẩn kết
quả bầu cử. HĐND khoá mới sẽ tiến hành họp để bầu ra các thành viên của UBND,
Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND
Như vậy theo cơ chế hình thành đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở như trên
thì có thể thấy trình độ của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở phụ thuộc

trong điều kiện đội ngũ cán bộ công chức cấp cơ sở bị thiếu hụt nhiều về kiến thức
như hiện nay. Mặc dù trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở có ở mức
thấp nhưng nếu được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên thì họ sẽ có Khóa
chuyên môn vững vàng, trình độ lý luận chính trị và trình độ quản lý nhà nước đáp
ứng tiêu chuẩn. Mặt khác, đào tạo, bồi dưỡng cũng góp phần nâng cao hiệu quả
thực thi công vụ của cán bộ, công chức cấp cơ sở ở những lĩnh vực mà cán bộ,
công chức còn yếu và thiếu. Và nó giúp cho cán bộ, công chức nâng cao, nhận thức
rõ hơn về đạo đức công vụ, về những giá trị, chuẩn mực đạo đức mà họ phải làm.
Tuy nhiên, để đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở có thể tham gia các khoá
đào tạo, bồi dưỡng kiến thức thì chính sách đào tạo, bồi dưỡng của Nhà nước có vai
trò tác động rất quan trọng. Chất lượng của công tác đào tạo, bồi dưỡng lại phụ
thuộc vào các vấn đề như: Hệ thống các cơ sở đào tạo, chương trình, giáo trình, đội
ngũ giảng viên; Chế độ cho người đi học như tiền ăn ở, đi lại, tiền học phí, thời
gian; Cơ chế đảm bảo sau khi đào tạo, để tránh lãng phí trong đào tạo.
Yếu tố văn hoá địa phương
Nền văn hóa của một địa phương được kết tinh từ nhiều yếu tố. Đó là những
giá trị, niềm tin, những thói quen, trong đó không thể không kể đến những truyền
thống tốt đẹp của địa phương đặc biệt là truyền thống hiếu học của các dòng họ.
Nền văn hoá địa phương tuy không ảnh hưởng trực tiếp nhưng nó gián tiếp ảnh
hưởng đến việc nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ công chức cấp cơ sở.
Thực tế là ở đâu có truyền thống hiếu học thì ở đó có mặt bằng dân trí cao,
nguồn nhân lực có trình độ cao. Ở đâu có sự cạnh tranh giữa các dòng họ trong việc
tạo uy danh cho dòng họ thì ở đó đặt ra yêu cầu đối với những người thuộc dòng
tộc trong việc hình thành chí hướng phấn đấu, tiến thủ trên con đường sự nghiệp
công danh, trong việc đảm trách những chức vụ quan trọng trong chính quyền. Tuy
nhiên, nếu sự cạnh tranh này là lành mạnh thì sẽ tạo ra một cơ cấu đội ngũ cán bộ
công chức cấp cơ sở có trình độ, năng lực. Còn nếu có sự cạnh tranh thiếu lành
mạnh, thủ cựu thì sẽ tạo ra một cơ cấu chính quyền bè phái, tranh giành quyền lực
với mọi thủ đoạn. Ở đâu có nền văn hoá lạc hậu, an phận thủ thường thì ở đó sẽ
chậm đổi mới, không tiếp thu được những văn minh của xã hội hiện đại, chậm tiến.

công chức cấp cơ sở được đảm bảo sẽ tạo nên những tiền đề và động lực sau: Thứ
nhất, đảm bảo thu nhập và các điều kiện sống cần thiết cho cán bộ, công chức cấp
cơ sở và gia đình họ; Thứ hai, đây là điều kiện để mỗi cán bộ, công chức cấp cơ sở
có thể học tập để nâng cao trình độ; Thứ ba, nó là mục tiêu, động lực phấn đấu,
cạnh tranh của nhiều người trong việc nâng cao trình độ, năng lực.
Thực tế cho thấy chỉ khi con người được đảm bảo các nhu cầu tối thiểu cho
cuộc sống hàng ngày thì con người mới nghĩ đến những nhu cầu cao hơn. Cũng
vậy, chỉ khi người cán bộ, công chức cấp cơ sở được đảm bảo về kinh tế, đảm bảo
về các phúc lợi xã hội họ được hưởng thì họ mới có thể nghĩ đến việc học tập để
nâng cao trình độ. Ngoài ra, khi cán bộ, công chức cấp cơ sở đã có các điều kiện
thuận lợi hay đảm bảo; có động lực để phấn đấu thì cũng thúc đẩy được việc học
tập nâng cao trình độ của họ.
Chính vì vậy, chế độ, chính sách đảm bảo lợi ích vật chất vừa là điều kiện,
vừa là động lực đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở trong việc nâng cao
trình độ.
Yếu tố nhận thức của cán bộ, công chức
Đây chính là yếu tố cơ bản và quyết định nhất chất lượng của mỗi cán bộ,
công chức nói riêng và đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở nói chung bởi vì nó là yếu
tố chủ quan, yếu tố nội tại bên trong của mỗi con người. Nhận thức đúng là tiền đề,
là kim chỉ nam cho những hành động, những việc làm đúng đắn, khoa học và
ngược lại. Nếu người cán bộ, công chức nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của
việc phải nâng cao trình độ để giải quyết công việc, để tăng chất lượng thực thi
công vụ thì họ sẽ tham gia các khoá đào tạo, bồi dưỡng một cách tích cực, ham mê
và có hiệu quả. Họ sẽ có ý thức trong việc tự rèn luyện, trau dồi, học hỏi những
kiến thức, kỹ năng mới, những phương pháp làm việc có hiệu quả. Nếu họ biết
được vấn đề nâng cao đạo đức công vụ là hết sức quan trọng, là cái mà nhìn vào đó
người ta có thể đánh giá được chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức, tính hiệu
lực, hiệu quả của nền hành chính hiện có thì họ sẽ luôn có ý thức để rèn luyện, tu
dưỡng đạo đức, phấn đấu để hoàn thành nhiệm vụ, giữ vững đạo đức, phẩm chất
cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm.

vực kinh tế, xã hội; an ninh quốc phòng; công tác xây dựng Đảng Việc thực hiện
Nghị quyết TW5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”đã góp phần xây dựng các thiết chế văn hóa, sự hưởng
thụ các giá trị văn hóa được nâng lên; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày
càng được cải thiện. Sau gần 5 năm (2008-2012) tiếp tục triển khai thực hiện Nghị
quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về “Xây dựng và phát triển nền Văn hoá Việt Nam
tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, huyện Nông Sơn đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo
công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân thực
hiện tốt các phong trào thi đua yêu nước, trọng tâm là hướng vào thực hiện Cuộc vận
động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Đồng thời,
củng cố xây dựng và hoàn thiện môi trường văn hóa, các thiết chế văn hóa, tập trung
xây dựng con người văn hóa, môi trường văn hóa. Qua đó, đã góp phần tạo sự
chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, hành động của các cấp ủy Đảng, chính quyền,
các ngành, đoàn thể, cán bộ, đảng viên và nhân dân trong toàn huyện. Nếu như năm
2008, sau khi chia tách huyện Quế Sơn để thành lập mới huyện Nông Sơn, toàn
huyện có 5.692 hộ đạt “Gia đình văn hóa” (bằng 81% số hộ đăng ký); 12/31 thôn
được công nhận danh hiệu “Thôn văn hoá” cấp huyện (38,7%); 22 cơ quan đạt tiêu
chuẩn cơ quan văn hóa thì đến năm 2012 có 6.805 hộ đạt “Gia đình văn hóa” (bằng
88,3%), 26/39 thôn đạt “Thôn văn hóa” (bằng 66,7%) và 70 cơ quan đạt tiêu chuẩn
“Đơn vị cơ sở có đời sống văn hóa tốt”. Đến nay, toàn huyện có 30/39 thôn có nhà
sinh hoạt cộng đồng; 16 sân bóng đá, 28 sân bóng chuyền, trong đó có 13 sân được
bê tông hóa, 4 sân cầu lông, 7 đội bóng đá, 14 đội bóng chuyền nam, nữ nòng cốt
của các xã, 62 đội văn nghệ quần chúng; 3/7 xã có trạm truyền thanh với trên 50 loa
phóng thanh, 82 cổng chào kiên cố, 3/7 xã có Bưu điện văn hóa xã, có 7 tủ sách
pháp luật tại UBND các xã. Nông Sơn là nơi hội tụ của nhiều phong tục, tập quán.
Phong phú về văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh và lễ hội. Nơi đây cũng là vùng đất học
với nhiều nhà tri thức nổi tiếng như “Tứ kiệt” Nguyễn Đình Hiến, bác sỹ Bùi Kiến
Tín, giáo sư Hoàng Châu Ký, nhà thơ Tường Linh v.v…Nông Sơn xưa là căn cứ địa
cách mạng. Những địa danh lịch sử như: Tân Tỉnh -Trung Lộc, của cụ Hường Hiệu,
thời kỳ 1885-1887; Khu chiến Hoàng Văn Thụ, thời kỳ 1946-1954…ghi dấu một

cán bộ chuyên trách và 133 công chức cấp xã; trung bình mỗi xã có trên 19 cán bộ,
công chức là mức đạt chuẩn về số lượng theo Nghị định số 121/2003/NĐ – CP
ngày 21/10/2004 của Chính Phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ công chức
cấp xã, phường, thị trấn.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY UBND HUYỆN
Đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở của huyện Nông Sơn có một số đặc điểm sau
đây:
a. Về nguồn cán bộ:
Đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở của huyện được hình thành từ 2 nguồn
chủ yếu là nguồn tại chỗ và hưu trí. Theo số liệu thống kê của Ban Tổ chức huyện
uỷ và Phòng Nội vụ thuộc UBND huyện, có 95% số cán bộ, công chức
cấp cơ sở trong huyện thuộc nguồn tại chỗ. Đó là những người trưởng thành từ
phong trào địa phương, bộ đội xuất ngũ được bầu cử vào HĐND (chiếm 51% cán
bộ, công chức cấp cơ sở của huyện). Nguồn hưu trí tập trung ở cán bộ chủ tịch Hội
Cựu chiến binh. Đây không chỉ là đặc điểm riêng của huyện mà là đặc
điểm chung của cán bộ, công chức cấp cơ sở vùng nông thôn nước ta hiện nay.
Cũng chính đặc điểm này ảnh hưởng trực tiếp đến trình độ cán bộ, công chức cấp
cơ sở của huyện.
b. Về giới tính:
Cán bộ, công chức cấp cơ sở huyện Nông Sơn có sự chênh lệch khá lớn về
giới: Số lượng cán bộ, công chức nam có 229/275 người chiếm 83,5%; số lượng
cán bộ, công chức nữ là 46/275 người chiếm 16,5%. Tuy nhiên, tỉ lệ cán bộ, công
chức nữ ở các xã, thị trấn trên địa bàn huyện đã tăng lên so với những năm trước và
cao hơn so với mặt bằng chung trong cả nước. Cán bộ, công chức nữ thường làm
công tác vận động, tuyên truyền trong các đoàn thể, các hội như: Hội Phụ nữ, Đoàn
Thanh niên, Hội Nông dân,…và công tác chuyên môn như: Văn phòng – Thống kê,
Tư pháp – Hộ tịch, Tài chính – Kế toán, Văn hoá – Xã hội. Những năm gần đây,
đã xuất hiện một số cán bộ, công chức nữ giữ các vị trí chủ chốt trong hệ thống
chính quyền cơ sở của huyện. Đây chính là dấu hiệu đáng mừng trong xu thế hội
nhập, dân chủ hoá đời sống kinh tế chính trị xã hội của huyện Nông Sơn nói riêng và

236
(86%)
Về trình
độ lý
luận
chính trị
70
(25,6%)
10
(3,7%)
195
(70,7%)
Về trình
độ
chuyên
môn
67
(24,3%)
8
(3,0%)
153
(55,8%)
47
(16,9%)
Về trình
độ quản
lý nhà
nước
221
(80,5%)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status